Tải bản đầy đủ
Bố cục luận văn.

Bố cục luận văn.

Tải bản đầy đủ

Một số đề tài nghiên cứu về năng lực KQH của khoa giáo dục mầm non như:
− Luận án tiến sĩ “Thiết kế và sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển khả năng khái

quát hóa cho trẻ mẫu giáo lớn” của tác giả Trần Thị Ngọc Trâm.
− Luận văn “Thiết kế và sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển khả năng khái quát

hóa cho trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động khám phá môi trường xung quanh” của tác
giả Nguyễn Thiều Dạ Hương.
− Luận văn “ Một số biện pháp phát triển khả năng khái quát hóa cho trẻ mẫu giáo 5 –

6 tuổi trong hoạt động cho trẻ làm quen với toán” của tác giả Trần Hồng Như Lê.
− Luận văn “Một số biện pháp tổ chức trò chơi học tập nhằm rèn luyện khả năng khái
quát hóa cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi” của tác giả Lê Thị Minh.
− Luận văn “Sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển khả năng khái quát hóa cho trẻ
5 – 6 trong hoạt động cho trẻ làm quen với toán” của tác giả Phạm Thị Oanh.
Trong các luận văn trên: tác giả nghiên cứu đặc điểm, bản chất của năng lực
KQH vai trò của việc phát triển năng lực này cho trẻ mầm non, khả năng KQH của
trẻ ở độ tuổi này còn mang tính hợp nhất các đối tượng mà chưa có sự phân tích
chúng và tách ra những dấu hiệu bản chất, chủ yếu chỉ dựa vào sự giống nhau bên
ngoài. Các tác giả cũng đã phân tích được các mức độ phát triển năng lực KQH của
trẻ cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển năng lực này từ đó có hướng
tác động phù hợp.
Tuy nhiên, KQH được các tác giả đề cập đến khi nghiên cứu ở lứa tuổi mầm
non thực chất nặng về KQH kinh nghiệm.
Một số đề tài nghiên cứu về sự hình thành năng lực KQH cho học sinh
THCS và THPT trong lĩnh vực toán học như:
− Luận văn “Phát triển năng lực KQH của HS khi dạy học một số khái niệm giải tích

ở lớp 11 trường THPT” của tác giả Trần Thị Thu Thảo.
− Luận văn “Trừu tượng hóa – khái quát hóa trong dạy học đại số và giải tích ở
THPT” của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Hằng.
− Luận văn “Rèn luyện khả năng KQH và các hoạt động trí tuệ có liên quan cho học

sinh trong hoạt động giải tích 12 THPT” của tác giả Nguyễn Hữu Luật.
Các tác giả đã đề cập đến KQH như một thao tác tư duy cơ bản, được rèn
luyện và vận dụng bằng cách kết hợp với các thao tác tư duy khác như so sánh, trừu

11

tượng hóa trong toán học. Các tác giả cũng xác định con đường rèn luyện năng lực
KQH là: Khái quát hóa từ cái riêng lẻ đến cái tổng quát, khái quát hóa từ cái tổng
quát đến cái tổng quát hơn, khái quát hóa tới cái tổng quát đã biết và KQH tới cái
tổng quát chưa biết. Tuy nhiên, các tác giả chưa đưa ra quy trình chung để rèn luyện
năng lực KQH.
Luận văn “khuyến khích KQH và những hoạt động trí tuệ có liên quan của
HS thông qua dạy học toán lớp 6” của tác giả Hà Thu Hiền. Do đối tượng là HS lớp
6, lần đầu tiên HS làm quen với những kiến thức toán học phong phú với phương
pháp học mà yêu cầu về tính tự giác, độc lập và khả năng tự học ngày càng cao nên
tác giả nhấn mạnh việc hình thành khả năng KQH là cần thiết, đặt nền móng cho sự
phát triển sau này. Đồng thời, đây là giai đoạn chuyển tiếp của việc phát triển khả
năng KQH kinh nghiệm sang KQH lí luận nên KQH ở đây chủ yếu là so sánh tìm ra
các đặc điểm chung, chỉ một phần nhỏ rèn luyện KQH bằng việc phân tích một hiện
tượng điển hình khi năng lực KQH đã đạt đến một mức độ nhất định. Tác giả chưa
đưa ra được quy trình rèn luyện chung để rèn luyện năng lực KQH.
Biện pháp KQH cũng được đề cập trong lĩnh vực Sinh học. Luận văn “Sử dụng
biện pháp khái quát hóa để hình thành kiến thức chuyển hóa vật chất và năng lượng,
sinh trưởng và phát triển trong dạy học Sinh học 11 THPT” của tác giả Điêu Thị
Nhiên. Tác giả đề cập đến KQH như là một biện pháp để xây dựng kiến thức cho HS
trong các khâu của quá trình dạy học bằng cách sử dụng phối hợp SGK, tài liệu tham
khảo, phương tiện trực quan, câu hỏi, bài tập, phiếu học tập và hoạt động nhóm. Tác
giả cũng đã xây dựng được quy trình chung giúp rèn luyện năng lực KQH thông qua
phân tích, tổng hợp và trừu tượng hóa, tác giả chưa nhấn mạnh vai trò của so sánh
trong KQH và chỉ tập trung hình thành kiến thức chuyển hóa vật chất và năng lượng,
sinh trưởng và phát triển trong dạy học Sinh học 11 – THPT.
Luận văn “Sử dụng biện pháp KQH trong dạy học chương II phần năm Sinh
học 12 THPT” của tác giả Nguyễn Thị Thùy. Biện pháp KQH được sử dụng để
hướng dẫn HS tìm ra tính quy luật của các hiện tượng di truyền, mối tương quan
giữa các hiện tượng di truyền trong chương II phần năm Sinh học 12 THPT. Song

12

trong luận văn của tác giả chưa có sự liên kết các khái niệm để làm nổi mối tương
quan giữa các hiện tượng và cơ chế di truyền.
Luận văn “Rèn luyện năng lực KQH cho học sinh trong dạy học chương I,II
phần Di truyền học Sinh học 12 THPT” của tác giả Đinh Thi Cẩm Vân đã đề xuất
quy trình rèn năng lực KQH từ các sự kiện trong dạy học chương I,II phần Di
truyền học Sinh học 12. Nhưng chưa xây dựng và sử dụng được quy trình KQH để
hình thành và phát triển các khái niệm làm cơ sở mở rộng nội dung chương và chưa
nâng cao hiệu quả lĩnh hội kiến thức, phát triển năng lực tư duy của học sinh trong
dạy học Sinh học 12 THPT.
Như vậy, vấn đề hình thành và phát triển năng lực KQH cũng đã được chú ý
khá nhiều và trải đều ở các cấp từ mầm non đến THPT như một thao tác tư duy cơ
bản. Ở THPT, năng lực này được vận dụng nhiều trong Toán học. Trong Sinh học,
vấn đề này được đề cập khá ít và chỉ giúp hình thành một mảng kiến thức nhỏ. Tuy
nhiên, đây là một điều kiện thuận lợi, một tiền đề quan trọng giúp cho việc rèn
luyện năng lực KQH dễ dàng hơn.
Trên thế giới có công trình của V.V Đa – vư – đôv: Các dạng khái quát hóa
trong dạy học ( những vấn đề logic – tâm lí học của cấu trúc các môn học).Trong tài
liệu của V.V Đa – vư – đôv có trích dẫn một số quan điểm của một số tác giả về
khái quát hóa như: L.X Vưgotxki, lý thuyết khái quát hóa và khái niệm của X.L
Rubinstein.
1.2. Cơ sở lý luận.
1.2.1. Khái quát hóa trong dạy học.
1.2.1.1.

Sự kiện và bản chất.
− Sự kiện.
Theo từ điển tiếng Việt, sự kiện là sự việc có ý nghĩa quan trọng đang xảy ra,
có ý nghĩa quan trọng với đời sống xã hội.Theo đó, sự kiện là một hiện tượng, một
sự cố, biến cố mang tính chất bất thường xuất hiện.
Ngoài ra, sự kiện còn có thể được hiểu gần như là sự việc là bao hàm hết tất
cả những hoạt động diễn ra hằng ngày.

13

Trong toán học, phép thử là một thí nghiệm nào đó hoặc một quan sát hiện
tượng nào đó. Sự kiện là kết quả của phép thử.
Trong tâm lí học và lí luận, sự kiện là những gì xảy ra trong cuộc sống do
quá trình vận động và phát triển của tư duy mà con người quan sát được hoặc trực
tiếp (bằng các giác quan) hoặc gián tiếp (bằng phương tiện hỗ trợ). Đặc điểm của sự
kiện là: mới lạ (về thời gian, không gian hoặc bản chất), hiện thực (quan sát được),
phức tạp nhưng tuân theo quy luật nhân quả rõ rệt.
Trong nghiên cứu khoa học, con người có thể chọn những sự kiện vốn tồn tại
trong tự nhiên và xã hội để quan sát hoặc người nghiên cứu chủ động tạo ra sự kiện
nhờ thực nghiệm. Khoa học cũng nghiên cứu những sự kiện ngẫu nhiên vì ngẫu
nhiên cũng là một trong những hình thức hoặc yếu tố của sự biểu hiện tính quy luật.
Tóm lại, sự kiện chính là hiện tượng khách quan bên ngoài được phản ánh
vào các giác quan của con người.Bản thân sự kiện là một tập hợp nguyên liệu hỗn
độn, chưa phải là khoa học. Sự kiện sẽ được tư duy của con người phản ánh, sắp
xếp trật tự, móc nối các sự kiện có liên quan với nhau để tìm ra quy luật của tự
nhiên và xã hội. Nhờ đó con người tìm ra các những mối liên hệ tất yếu của sự kiện.

14