Tải bản đầy đủ
THPT Văn Miếu: lớp TN 12A5 có 39 HS và lớp ĐC 12A6 có 40 HS, giáo viên giảng dạy là cô Phùng Thị Thanh.

THPT Văn Miếu: lớp TN 12A5 có 39 HS và lớp ĐC 12A6 có 40 HS, giáo viên giảng dạy là cô Phùng Thị Thanh.

Tải bản đầy đủ

3.4.1. Nắm vững hệ thống khái niệm.

Tổng hợp kết quả qua 4 lần kiểm tra trong TN được thống kê theo bảng sau:
Bảng 3.1. Tần số điểm các bài kiểm tra trong TN.
Bài
KT
Số 1
Số 2
Số 3
Số 4
Tổng
hợp

Số bài kiểm tra đạt điểm xi
Lớp N
ĐC
TN
ĐC
TN
ĐC
TN
ĐC
TN
ĐC
TN

83
81
83
81
83
81
83
81
332
324

0–1 2

3

4

5

6

7

8

9

10

0
0
0
0
0
0
0
0
0
0

2
0
4
0
3
0
3
0
12
0

5
3
10
2
8
2
7
2
30
9

18
10
20
9
17
13
16
9
71
41

22
14
24
13
18
16
23
11
87
54

13
27
11
24
21
24
17
23
62
98

17
17
8
20
10
18
10
24
45
79

4
8
3
9
3
5
3
7
13
29

0
2
0
4
0
3
0
5
0
14

2
0
3
0
3
0
4
0
12
0

Bảng 3.2. Các tham số đặc trưng của các bài kiểm tra trong TN.
Bài
KT

Số 1

Số 2

Số 3

Số 4

Lớ
p
ĐC

Các tham số
N
83

X±m
5, 65

S

± 0,15

1,32

TN

81

6,50 ± 0,14

1,44

ĐC

83

6,25

± 0,12

1,13

Cv (
%)
17,3
4
14,6
5
18,1
4
15,1
8
19,3
2

TN

81

7,26

± 0,12

1,11

ĐC

83

5,63

± 0,19

1,65

6,66

± 0,19

1,48 16,4

5,78 ± 0,13

1,67 20,0
4

TN

81

ĐC

83

dTN-ĐC

td

0,94

6,4
5

1,01

1,03
1,11

5,7
0

6.3
3
7,1
2

Kurtosis Skewness
0,12

- 0,05

- 0,14

0,02

0,16

- 0,06

- 0,13

0,18

- 0,1

- 0,08

- 0,04

0,05

- 0,23

- 0,43

TN
Tổn
g
hợp

81

6, 89 ± 0,13

1,53

17,3
3

- 0,03

0,04

±

33
- 0,29
- 0,11
5,95 0,09 1,56 26,7
2
7,7
1,01
8
32
TN
1,32 19,2
- 0,3
- 0,08
6,96
0,08
4
− Từ kết quả của bảng 3.2, có thể thấy độ nhọn (Kurtosis) và độ lệch (Skewness) của
ĐC

±

phân phối điểm các bài kiểm tra đều có trị số nhỏ, dao động quanh giá trị ±1. Điều
này có nghĩa là đường cong phân phối điểm của các bài kiểm tra trên mẫu nghiên
cứu gần với đường cong chuẩn. Đồng thời, thông qua các đồ thị phân bố tần suất
có thể khẳng định tính chuẩn của các phân phối này được đảm bảo. Điều này cho
phép dùng các phương pháp thống kê như tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn... để
mô tả, so sánh và rút ra kết luận.


Hệ số biến thiên ( Cv ) ở khối TN và ĐC đều nằm trong khoảng dao động trung bình
(10% ≤



Cv < 30%) nên kết quả thu được là đáng tin cậy.

t
t
Độ tin cậy ( d ) luôn lớn hơn α (α = 0,05) chứng tỏ sự sai khác giữa hai giá trị
trung bình của lớp TN và lớp ĐC là có ý nghĩa với độ tin cậy tăng dần, tức là

X

của khối TN cao hơn ĐC là do việc rèn luyện năng lực KQH đã nâng cao kết quả
học tập của HS, chứ không phải do ngẫu nhiên.


Tổng hợp kết quả của cả 4 bài kiểm tra ta thấy: Điểm trung bình ( X ) ở khối TN là
6,96 cao hơn khối ĐC 5,95 là dTN-ĐC = 1,01 điểm. Độ tin cậy sai khác giữa 2 giá trị

t

trung bình là d = 7,78 nên có ý nghĩa.
− So sánh số liệu trong bảng trên, chúng tôi nhận thấy giá trị trung bình điểm các bài
kiểm tra trong TN của lớp TN cao hơn so với lớp ĐC. Phương sai, độ lệch chuẩn
của lớp TN nhỏ hơn so với lớp ĐC, như vậy điểm các bài kiểm tra ở các lớp TN tập
trung hơn.

Bảng 3.3.Phân phối tần suất điểm các bài kiểm tra trong TN(%).
Lớ
p
ĐC
TN

1

N
33
2
32

0
0

2

3

3.6

3.6

1

1

0

0

4
9.04
2.78

5
21.3
9
12.6

6
26.2
16.6

7

8

9

18.6

13.5

3.9

7
30.2

6
24.3

2
8.9

10
0

4.32
4
5
7
5
8
5
Từ số liệu bảng 3.3, lập đồ thị tần suất điểm số của các bài kiểm tra trong TN

của hai lớp lớp TN và ĐC.

Hình 3.1. Biểu đồ tần suất các bài kiểm tra trong TN.
Trên hình chúng ta nhận thấy giá trị mod điểm các bài kiểm tra trong thực
nghiệm của cả hai lớp TN và ĐC là 7 và 6, cột biểu diễn điểm 7, 8, 9, 10 của lớp
TN cao hơn so ĐC. Điều này cho thấy kết quả các bài kiểm tra kiểm tra ở lớp TN
cao hơn so với lớp ĐC.
Từ số liệu của bảng 3.3, lập bảng tần suất hội tụ tiến để so sánh tần suất bài
đạt điểm từ giá trị xi trở lên.
Bảng 3.4. Bảng tần suất hội tụ tiến các bài kiểm tra trong TN.
L
N123 4 5 6 7 8 9 1
Đ3119 9 8 6 3 1 3 0
T3111 1 9 8 6 3 1 4
Số liệu bảng trên cho biết tỷ lệ phần trăm các bài đạt từ giá trị x i trở lên. Ví
dụ tần suất từ điểm 7 trở lên ở các ĐC là 36,15% còn ở lớp TN là 67,9%, số điểm từ 7
trở lên ở các lớp TN nhiều hơn so với các lớp ĐC.
Từ số liệu của bảng 3.3, vẽ được đồ thị tần suất hội tụ tiến của điểm các bài
KT trong TN.
Hình 3.2. Biểu đồ biểu diễn tần suất hội tụ tiến các bài kiểm tra trong TN.

Đường biểu diễn tần suất hội tụ tiến về điểm số của các lớp TN nằm lệch về
bên phải và ở phía trên đường tần suất hội tụ tiến của các lớp ĐC. Như vậy kết quả
bài kiểm tra của lớp TN cao hơn so với lớp ĐC.
Qua việc phân tích các kết quả thu được cho thấy khả năng nắm vững hệ
thống kiến thức của HS ở khối TN cao hơn ở mức đáng kể so với khối ĐC là hoàn
toàn phù hợp với quy luật phát triển tư duy, đồng thời chứng minh được hiệu quả
của việc sử dụng biện pháp KQH trong dạy học chương Cơ chế di truyền và biến
dị, Sinh học 12, THPT.
3.4.2.Phát triển năng lực tư duy.
Tiêu chí
Phân
tích

Chỉ báo
Xác định sự kiện để
phân tích.

Lớp
ĐC

Mức 1
12,4%

Mức độ
Mức 2
33,15%

TN

5,3%

13,22%

82,48%

Khả năng phân tích

ĐC
TN
ĐC
TN

22, 03%
3, 24%
13%
7, 32%

24, 28%
12, 04%
27%
9, 45%

53,69%
84,72%
60%
83,23%

Tìm được đặc điểm
chung và bản chất.

ĐC
TN
ĐC
TN
ĐC
TN
ĐC
TN
ĐC
TN

10,05%
2%
9, 47%
4,78%
12%
7,32%
14,78%
2,52%
17%
5, 46%

18%
7, 63%
25, 22%
8, 05%
25,62%
10,05%
29,06%
9,01%
33,53%
7, 03%

71,95%
91,37%
65,31%
87,17%
62,38%
82,63%
56,16%
88,47%
49,47%
87,51%

Diễn đạt nội dung
KQH

ĐC
TN

8,06%
3,23%

44,45%
15,12%

47,49%
81,65%

Đi đến kết luận và tìm
ra mối quan hệ

Tổng
hợp

Xác định sự kiện để
tổng hợp
Khả năng tổng hợp
Đưa ra những dự đoán
Xác định sự kiện để
KQH

KQH

Mức 3
54, 45%

Phân tích: Ở lớp TN hầu hết HS đều xác định được sự kiện để phân tích
(82,48%) trong khi đó ở lớp ĐC chỉ có một nửa số HS (54,45%). Khả năng phân
tích của lớp TN là 84,72%, ở lớp ĐC đạt 53,69% thấp hơn so với lớp TN. Lớp TN

HS đã biết rút ra được mối quan hệ và kết luận cuối cùng 83,23%, còn lớp ĐC thì số
HS đạt ít hơn 60%. Như vậy ở tiêu chí phân tích thì lớp TN tốt hơn so với lớp ĐC.
Tổng hợp: Cả lớp ĐC và TN hầu hết đều xác định được sự kiện để tổng hợp,
nhưng khả năng tổng hợp của lớp ĐC thấp hơn so với lớp TN. Chính bởi vậy
82,63% HS lớp TN có thể đưa ra được những dự đoán đúng và chính xác, trong khi
đó ở lớp ĐC chỉ có 62,38%. Qua thống kê các chỉ số của tổng hợp chúng tôi thấy
lớp TN hầu hết đều phân tích được và có thể đưa ra các dự đoán nhưng ở lớp ĐC thì
tỉ lệ thấp hơn.
KQH: Ngay bước đầu của quá trình KQH là xác định các sự kiện thì đã có
88,47% HS lớp TN là xác định được và chính xác, trong khi đó lớp ĐC chỉ là
56,16% HS. 87,51% HS lớp TN tìm được đặc điểm chung, bản chất còn lớp ĐC là
49,47%. Đến bước diễn đạt nội dung KQH thì có thể thấy rõ lớp TN hơn hẳn lớp
ĐC (TN 81,65% HS, ĐC 47,49% HS).
Như vậy: Qua việc thống kê các chỉ báo theo các tiêu chí của năng lực tư
duy chúng tôi nhận ra ở lớp TN tỉ lệ phần trăm HS đạt được yêu cầu cao hơn so
với lớp ĐC. Như vậy năng lực tư duy của HS ở lớp TN đã được phát triển qua quá
trình học mà GV sử dụng biện pháp KQH, còn ở lớp ĐC do không được GV dạy
theo biện pháp KQH nên sự phát triển năng lực duy là thấp hơn.

Kết luận chương 3
Phân tích kết quả thu được qua TN sư phạm chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
− Quy trình sử dụng biện pháp KQH trong dạy học bài mới và củng cố kiến thức Cơ

chế di truyền và biến dị, Sinh học 12 là có hiệu quả. Điều này chứng minh được
rằng sử dụng biện pháp khái quát hóa trong dạy học không những giúp HS nắm
vững hệ thống khái niệm mà còn phát triển năng lực tư duy cho HS làm cho quá
trình học tập môn Sinh học thuận lợi và hiệu quả hơn.
− Kết quả thực nghiệm sư phạm cũng chứng minh giả thuyết khoa học của đề tài là
đúng đắn và hoàn toàn khả thi: Nếu xây dựng và sử dụng quy trình sử dụng biện
pháp khái quát hóa phù hợp đặc điểm kiến thức và trình độ thì học sinh vừa nắm

vững hệ thống khái niệm chương Cơ chế di truyền và biến dị, Sinh học 12 vừa
phát triển năng lực tư duy.