Tải bản đầy đủ
Đối tượng khảo sát: 30 GV đang giảng dạy môn Sinh học 12 ở trên địa bàn trên, và 164 HS lớp 12 trường THPT Quốc Oai – huyện Quốc Oai - thành phố Hà Nội và THPT Văn Miếu – huyện Thanh Sơn – tỉnh Phú Thọ.

Đối tượng khảo sát: 30 GV đang giảng dạy môn Sinh học 12 ở trên địa bàn trên, và 164 HS lớp 12 trường THPT Quốc Oai – huyện Quốc Oai - thành phố Hà Nội và THPT Văn Miếu – huyện Thanh Sơn – tỉnh Phú Thọ.

Tải bản đầy đủ

kêu. Mất đoạn NST 21 gây ung thư máu. Kết luận đột
biến cấu trúc NST là những biến đổi trong cấu trúc của
NST, làm thay đổi hình dạng hoặc cấu trúc NST.
Khái niệm điều hòa hoạt động gen
Ở ruồi giấm, đột biến làm cho nó có khả năng kháng

0

0

0
0
thuốc diệt cỏ DDT
Qua bảng 1.1 trên ta thấy tất cả GV đều nhận thức được việc sử dụng biện
pháp KQH để hình thành và phát triển KN cho HS thực sự cần thiết vì nó có vai trò
quan trọng trong dạy học. Đa số thầy cô đều vận dụng được KQH trong dạy học.
Tuy nhiên, chỉ một phần nhỏ GV cụ thể có 6 GV(chiếm 20%) đưa ra được KN
chính xác về KQH.
1.3.3.2.

Về sử dụng biện pháp KQH của GV.
Bảng 1.2.Thực trạng sử dụng biện pháp KQH của GV.
ST
T

Ý kiến
Nội dung vấn đề

Số

Tỉ lệ

người

(%)

30

100%

Rất thường xuyên

3

10

Thường xuyên

19

63,33

Ít khi

5

16,67

Chưa bao giờ

3

Thầy (cô) sử dụng biện pháp KQH trong quá trình
dạy học ở mức độ nào?
1

10

Thầy (cô) đã sử dụng KQH cho học sinh ở những
trường hợp nào sau đây?
2

3

Dạy kiến thức mới

10

33,33

Trong kiểm tra đánh giá

4

Củng cố hoàn thiện kiến thức

11

Ôn tập

5

16,67

12

40

13,33
36,67

Theo thầy (cô) sử dụng KQH cho HS ở trường hợp
nào sau đây là hiệu quả nhất
Dạy kiến thức mới trên lớp

36

Trong tự kiểm tra đánh giá

2

6,67

Củng cố hoàn thiện kiến thức

13

43,33

Ôn tập

3

10

Sử dụng câu hỏi và bài tập

10

33,33

Sử dụng phiếu học tập

8

26,67

Sử dụng phương tiện trực quan

12

40

Các phương tiện dạy học thầy (cô) thường dùng để
sử dụngbiện pháp KQH cho HS là gì?
4

Thầy (cô) đánh giá như thế nào về khả năng KQH
của HS lớp 12
5

Rất tốt

0

0

Tốt

9

30

Bình thường

16

53,33

Không tốt
5
16,67
Các thầy cô cũng thường xuyên sử dụng KQH trong quá trình dạy học, chủ
yếu là khi dạy kiến thức mới và củng cố hoàn thiện kiến thức, trong đó hiệu quả
nhất là trong quá trình củng cố hoàn thiện kiến thức. Phương tiện giúp rèn luyện
năng lực KQH mà phần lớn GV sử dụng là phương tiện trực quan, một số sử dụng
câu hỏi và bài tập, số ít sử dụng cả hai phương tiện trên. Tuy nhiên, đa số thầy cô
cho rằng khả năng KQH của HS chỉ đạt mức bình thường.

37

1.3.3.3. Khả năng KQH ở HS.

Bảng 1.3. Khả năng KQH hiện có của HS.
ST
T

Ý kiến
Số
Tỉ lệ

Nội dung vấn đề

người

(%)

25
97
42

15,24
59,15
25,61

35
45
84

21,34
27,44
51,22

103

62,81

23
38

14,02
23,17

62
44
17
15
12

37,80
26,83
10,37
9,14
7,32

14

8,54

81

49,39

19
34

11,59
20,73

30

18,29

Em hệ thống hóa kiến thức sau mỗi bài học ở mức
độ nào sau đây:

1

Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Chưa bao giờ
Theo em việc hệ thống hóa kiến thức có vai trò như
2

3

4

thế nào trong quá trình học tập:
Rất quan trọng
Quan trọng
Không quan trọng
Khi có một câu hỏi so sánh em thường:
Tìm các yếu tố giống nhau và khác nhau giữa các đối
tượng
Chỉ tìm các yếu tố giống nhau giữa các đối tượng
Chỉ tìm các yếu tố khác nhau giữa các đối tượng
Khi lĩnh hội một kiến thức em thường
Học thuộc máy móc
Tóm tắt ý chính
Liên hệ với một hiện tượng nào đó cho dễ nhớ
So sánh các kiến thức với nhau để rút ra bản chất vấn đề
Xâu chuỗi các sự kiện có liên quan
Đưa ra những ý tưởng, khái quát về một vấn đề nào đó
theo chủ đề học
Khi so sánh các sự vật, hiện tượng trong sinh học em
rút ra được điều gì?
Tăng cường khả năng hiểu biết và phân loại những

5

6

điểm khác nhau và giống nhau của sự vật, hiện tượng
Tăng khả năng phân biệt các sự vật hiện tượng
Nhận ra sự khác nhau giữa các đối tượng so sánh
Lĩnh hội được kiến thức mới bằng cách khái quát về sự
vật hiện tượng đem so sánh
Nguyên lí chung của ba quá trình: nhân đôi, phiên

38

mã và dịch mã là gì?
Nguyên tắc bổ sung, nguyên tắc bán bảo toàn, nguyên
tắc nửa gián đoạn
Nguyên tắc bổ sung, nguyên tắc bán bảo toàn, nguyên
tắc khuôn mẫu
Nguyên tắc bổ sung, nguyên tắc khuôn mẫu, chiều tổng
hợp 5’-3’
Nguyên tắc bổ sung, nguyên tắc nửa gián đoạn, chiều
tổng hợp 5’-3’
Trong quá trình học, khái niệm đột biến gen được
hình thành theo cách nào sau đây?
Nêu khái niệm trong sách giáo khoa
Nêu KN trong sách giáo khoa và lấy ví dụ minh họa
Cho một đoạn gen ban đầu, từ đó phát sinh ra các đoạn
7

gen khác tại 1 vị trí nhất định. Học sinh sẽ nhân xét sự
khác biệt của các đoạn gen đó so với gen ban đầu, cuối
cùng rút ra kết luận về đột biến gen.
Phân tích 1 ví dụ về đột biến gen sau đó khái quát thành
khái niệm.
Cho biết:

30

18,29

17

10,37

92

56,1

25

15,24

30
48

18,29
29,27

51

31,1

35

21,34

Ruồi giấm có khoảng 4000 gen nhưng chỉ có 8 NST;
Người có khoảng 33 nghìn gen nhưng chỉ 46 NST; Lúa
8

nước có khoảng 32 – 56 nghìn gen nhưng có 24 NST.
Từ thông tin trên có bạn rút ra các kết luận về mối quan
hệ giữa gen và NST sau. Theo em kết luận nào là đúng?
Loài có vị trị càng cao trên bậc thang tiến hóa thì bộ

22
13,41
NST càng lớn.
NST mang gen.
48
29,27
Số lượng gen nhiều hơn so với số lượng nhiễm sắc thể.
32
19,51
Gen nằm trên NST và tạo nên các nhóm liên kết gen.
62
43,81
Bảng trên cho thấy đa số HS chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc hệ
thống hóa kiến thức sau mỗi bài học, HS chỉ thỉnh thoảng làm việc đó (139 HS chiếm
84,85%) khi có sự yêu cầu của GV, chưa có kĩ năng hoặc chưa tự giác thực hiện.
Việc lĩnh hội kiến thức mới phần lớn là bằng cách học thuộc máy móc (chiếm

39

37,8%), một phần biết cách tóm tắt ý chính để học, một số ít sáng tạo cách học riêng.
Đa số HS đã hình thành kĩ năng so sánh (81 HS chiếm 49,39%). Đây là tiền đề tốt để
giúp rèn luyện khả năng KQH ở HS.

Kết luận chương 1
KQH là quá trình hợp nhất trong trí óc nhiều đối tượng khác nhau thành một
nhóm, một loại theo những thuộc tính nhất định. KQH là thao tác tư duy quan trọng
để đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng.
Sử dụng quy trình KQH chính là con đường đi đến kết luận chung, bản chất
từ các đối tượng, hiện tượng hay từ những kết luận nhỏ thành những kết luận lớn
bao trùm hơn. Biện pháp KQH là yếu tố quyết định chất lượng học tập.
KQH và tư duy có quan hệ mật thiết vì KQH là thao tác tư duy vì giai đoạn
nhận thức lí tính bao gồm: phân tích, tổng hợp rồi KQH, trừu tượng hóa, lúc đó tư
duy mới đi sâu vào bản chất của đối tượng. Sau KQH tìm được cái chung bản chất
đó là tư duy lí luận, kết quả của KQH là hình thành khái niệm khoa học.
Nắm vững hệ thống khái niệm thực chất là nắm vững sự vận động phát triển
của khái niệm, mỗi khi hoàn thiện bổ sung dấu hiệu của khái niệm, hình thành khái
niệm mới đó chính là kết quả của KQH khoa học.

40

Khi tiến hành điều tra thực trạng để định hướng cho quá trình nghiên cứu,
chúng tôi thấy rằng đa số GV đều nhận thức được việc sử dụng biện pháp KQH
trong quá trình dạy học là cần thiết và đã sử dụng KQH trong rèn luyện. Tuy nhiên,
họ lại khẳng định khả năng KQH ở HS chỉ đạt mức trung bình, mặt khác HS không
thích môn Sinh học nên sử dụng biện pháp KQH còn có những khó khăn.

41