Tải bản đầy đủ
Các hình thức đánh giá cần đa dạng, phù hợp độ tuổi, tránh dập khuôn, trùng lặp, quá khó hoặc quá dễ so với đôn tuổi dẫn đến sai lệch về hiệu quả của hoạt động.

Các hình thức đánh giá cần đa dạng, phù hợp độ tuổi, tránh dập khuôn, trùng lặp, quá khó hoặc quá dễ so với đôn tuổi dẫn đến sai lệch về hiệu quả của hoạt động.

Tải bản đầy đủ

giáo viên lựa chọn hoặc kết hợp các biện pháp mang tính phù hợp, hiệu quả.
Mỗi biện pháp sử dụng bài hát cho trẻ 4 - 5 tuổi làm quen với tiếng
Anh ở trường Mầm non đều có chức năng, vai trò, tác dụng riêng về một mặt
nào đó nhưng giữa chúng có mối liên hệ biện chứng chặt chẽ với nhau. Mỗi
biện pháp đều là tiền đề, điều kiện để thực hiện những biện pháp khác, đồng
thời nó chịu ảnh hưởng chi phối của các biện pháp đó. Vì vậy, các biện pháp
nêu trên phải được thực hiện một cách đồng bộ. Việc thực hiện đơn lẻ từng
biện pháp sẽ không đtác giả lại hiệu quả cao, thậm chí làm mất đi ý nghĩa của
chính nó.
3.4. Khảo sát về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
3.4.1. Khái quát chung về quá trình khảo sát
3.4.1.1. Mục đích khảo sát
Thu thập những ý kiến đánh giá của chuyên gia là cán bộ cán lí và
những giáo viên trực tiếp giảng dạy tại trường để so sánh với kết quả thu được
từ đó xác định mức độ cần thiết và tính khả thi của 10 BP được đề tài đề xuất.
3.4.1.2. Nội dung khảo sát
Khảo sát nhận thức của giáo viên về 10 BP đề tài đề xuất qua đó:
Đánh giá mức độ cần thiết ở 3 mức độ: Cần thiết, bình thường và
không cần thiết.
Đánh giá mức độ khả thi ở 3 mức độ: khả thi, bình thường và không
khả thi.
Khảo sát các chuyên gia để làm cơ sở đánh giá mức độ cần thiết và
mức độ khả thi của 10 BP đề tài đề xuất.
3.4.1.3. Đối tượng khảo sát
30 GV ở trường mầm non Xuân La, Tây Hồ, Hà Nội.
3.4.1.4. Địa bàn khảo sát
Lớp MGN B3, Trường mầm non Xuân La, Tây Hồ Hà Nội.
Trường MN Xuân La, Tây Hồ, Hà Nội.
3.4.1.5. Phương pháp khảo sát
Quan sát.
66

Phỏng vấn trực tiếp.
Điều tra bằng bảng hỏi.
3.4.2. Kết quả khảo sát
3.4.2.1. Mức độ cần thiết của các biện pháp sử dụng bài hát cho trẻ 4 - 5 tuổi
làm quen với tiếng Anh ở trường Mầm non
Bảng 3.1. Mức độ cần thiết của các biện pháp sử dụng bài hát cho trẻ 4-5
tuổi làm quen với tiếng anh ở trường mầm non Xuân La
STT

1

2
3
4
5
6
7
8
9

10

67

Biện Pháp
Sử dụng các bài hát tiếng Anh
tự sáng tác dựa trên giai điệu
của các bài hát gần gũi, thân
thuộc với cuộc sống hàng ngày
của trẻ
Sử dụng bài hát tiếng Anh kết
hợp vận động minh họa
Sử dụng bài hát tiếng Anh để
tổ chức các trò chơi
Sử dụng bài hát tiếng Anh để
kể truyện tiếng Anh
Sử dụng bài hát tiếng Anh để
đóng kịch
Sử dụng bài hát tiếng Anh để
học bài thơ
Nâng cao trình độ chuyên môn
và nghiệp vụ cho đội ngũ giáo
viên
Xây dựng môi trường học tập
tích cực cho trẻ
Tăng cường công tác kiểm tra,
đánh giá kết quả sử dụng bài
hát cho trẻ LQ với tiếng Anh
ở trường MN
Tích cực trong Tăng cường sự
phối hợp giữa gia đình với nhà
trường trong sử dụng bài hát
cho trẻ làm quen với tiếng Anh

Mức độ cần thiết
Bình
Không
Cần thiết
thường
cần thiết
SL %
SL %
SL %
27

26
25
25
24
23

89,
1
85,
5
82,
5
82,
5
79,
2
75,
9

2

6,6

1

3,3

3

9,9

1

3,3

3

9,9

2

6,6

4

13,
2

1

3,3

3

9,9

3

9.9

3

9,9

4

13,
2

23

75,
9

6

19,
8

1

3,3

22

72,
6

6

19,
8

2

6,6

21

69,
3

8

24

1

3,3

20

66

9

27

1

3,3

Nhìn vào bảng mức độ cần thiết của các BP sử dụng BH cho trẻ 4-5
tuổi LQVTA ở trường MN Xuân La ta có thể đấy rằng đại đa số cán bộ quản
lí, giáo viên công tác tại trường đều đồng ý rằng cả 10 BP được đề xuất ra đều
là những BP cần thiết được triển khai tại trường bởi vì tất cả các BP đều có tỉ
lệ mức độ cần thiết cao hơn gấp nhiều lần so với mức độ bình thường và
không cần thiết, ví dụ: BP: “Sử dụng các bài hát tiếng Anh tự sáng tác dựa
trên giai điệu của các bài hát gần gũi, thân thuộc với cuộc sống hàng ngày của
trẻ” mức độ cần thiết chiếm tới 89,1% trong khi đó mức độ bình thường
chiếm 6,6% và mức độ không cần thiết là 3,3%; BP: “Sử dụng bài hát tiếng
Anh kết hợp vận động minh họa” MĐCT (85,5%), MĐ bình thường (9,9%),
MĐ không cần thiết (3,3%). Tuy nhiên tất cả các biện pháp vẫn bị đánh giá là
có khả năng là không cần thiết bởi vì đó là quan điểm cá nhân của từng GV,
cán bộ quản lí. Có những GV đã thực hiện BP đó rồi nhưng họ không thấy có
hiệu quả bằng BP khác thì họ cho rằng BP đó là không cần thiết. Do vậy, mặc
dù có những ý kiến cho rằng BP đó là không cần thiết nhưng với tỉ lệ chiếm
không cao như trên thì cần đưa vào thực nghiệm từng BP để từ hiệu quả của
từng BP mang lại ta sẽ thấy được tính cần thiết của từng BP một cách thuyết
phục hơn.
3.4.2.2. Tính khả thi của các biện pháp sử dụng bài hát cho trẻ 4 – 5 tuổi làm
quen với tiếng Anh ở trường mầm non
Bảng 3.2. Mức độ khả thi của các biện pháp sử dụng bài hát cho trẻ 4 – 5
tuổi làm quen với tiếng Anh ở trường mầm non
STT
1

68

Biện Pháp
Sử dụng các bài hát tiếng Anh
tự sáng tác dựa trên giai điệu
của các bài hát gần gũi, thân
thuộc với cuộc sống hàng ngày

Mức độ khả thi
Bình
Không
Khả thi
thường
khả thi
SL % SL % SL %
28 92, 1 3,3
1
3,3
4

2
3
4
5
6
7
8
9

10

của trẻ
Sử dụng bài hát tiếng Anh kết
89,
27
hợp vận động minh họa
1
Sử dụng bài hát tiếng Anh để tổ
85,
26
chức các trò chơi
8
Sử dụng bài hát tiếng Anh để kể
79,
24
truyện tiếng Anh
2
Sử dụng bài hát tiếng Anh để
72,
22
đóng kịch
6
Sử dụng bài hát tiếng Anh để
20 66
học bài thơ
Nâng cao trình độ chuyên môn và
20 66
nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên
Xây dựng môi trường học tập
62,
`19
tích cực cho trẻ
7
Tăng cường công tác kiểm tra,
đánh giá kết quả sử dụng bài hát
56,
17
cho trẻ làm quen với tiếng Anh
1
ở trường mầm non
Tích cực trong Tăng cường sự
phối hợp giữa gia đình với nhà
49,
15
trường trong sử dụng bài hát
5
cho trẻ làm quen với tiếng Anh

1

3,3

2

6,6

1

3,3

3

9,9

2

6,6

4

2

6,6

6

3

9,9

5

3

9.9

7

4

13,
2

7

5

16,
5

9

29,
7

7

23,
1

8

26,
4

13,
2
19,
8
16,
5
23,
1
23,
1

Nhìn vào kết quả khảo sát mức độ khả thi của 10 BP được đề tài đề
xuất ta có thể thấy rẳng BP: “Sử dụng các bài hát tiếng Anh tự sáng tác dựa
trên giai điệu của các bài hát gần gũi, thân thuộc với cuộc sống hàng ngày của
trẻ” là BP được đánh giá là BP có tính khả thi nhất (92,4%), sau đó đến BP:
“Sử dụng bài hát tiếng Anh kết hợp vận động minh họa” (89,1%) và tiếp đến
là BP: “Sử dụng bài hát tiếng Anh để tổ chức các trò chơi” (85,5%). Tuy
nhiên, nhìn vào bảng kết quả trên ta cũng nhận thấy một điều rằng vẫn còn có
một số ít ý kiến cho rằng các BP được đề xuất ra chưa hoàn toàn là khả thi. Ví
dụ, BP: “Sử dụng các bài hát tiếng Anh tự sáng tác dựa trên giai điệu của các
bài hát gần gũi, thân thuộc với cuộc sống hàng ngày của trẻ” chiếm tỉ lệ khả
thi cao nhất nhưng vẫn còn 3,3% ý kiến cho rằng BP này không khả thi.
Nhìn chung, so sánh 2 bảng khảo sát về mức độ cần thiết và mức độ
69

khả thi của 10 biện pháp được đề tài đề xuất, ta có thể thấy rằng, 2 bảng có sự
tương đồng về thứ tự các biện pháp trong 10 BP được đề tài đề xuất, trong đó
có 3 BP được đánh là có mức độ cần thiết và mức độ khả thi cao nhất đó là:
biện pháp1: “Sử dụng các bài hát tiếng Anh tự sáng tác dựa trên giai điệu của
các bài hát gần gũi, thân thuộc với cuộc sống hàng ngày của trẻ”, biện pháp 2:
"Sử dụng bài hát tiếng Anh kết hợp vận động minh họa”, biện pháp 3: “Sử
dụng bài hát tiếng Anh để tổ chức các trò chơi”. Các biện pháp còn lại có sự
chênh lệch tương đối về mức độ cần thiết (MĐCT) và mức độ khả thi
(MĐKT), điển hình là BP: “Tăng cường sự phối hợp giữa gia đình với nhà
trường trong sử dụng bài hát cho trẻ làm quen với tiếng Anh” MĐCT (66%)MĐKT (49,5%). Lí giải cho điều này, chị Huyền- cán bộ quản lí của trường
cho rằng, kết quả trên phụ thuộc vào công tác triển khai, liên lạc thông tin từ
phía nhà trường đến phụ huynh (cách nhà trường thông tin đến PH có nhanh
chóng, kịp thời, có đầy đủ thông tin để truyền tải hết ý nghĩa và tầm quan
trọng của việc SD BH cho trẻ 4-5 tuổi LQTA ở trường MN hay không) và
một phần rất lớn nữa là phụ thuộc về phía phụ huynh (nhận thức về tầm quan
trọng của việc SD BH cho trẻ 4-5 tuổi làm quen với TA, cũng như là điều
kiện kinh tế của họ).
3.5. Thực nghiệm biện pháp
Dựa vào kết quả khảo sát về mức độ cần thiết và khả thi của 10 BP
được đề tài đề xuất, chúng tôi chọn ra 3 BP có tỉ lệ mức độ cần thiết và khả
thi nhất để tiến hành thực nghiệm trên trẻ:
Biện pháp 1: Sử dụng các bài hát tiếng Anh tự sáng tác dựa trên giai
điệu của các bài hát gần gũi, thân thuộc với cuộc sống hàng ngày của trẻ
Biện pháp 2: Sử dụng bài hát tiếng Anh kết hợp vận động minh họa
Biện pháp 3: Sử dụng bài hát tiếng Anh để tổ chức các trò chơi
3.5.1. Những vấn đề chung về thực nghiệm
Mục đích thực nghiệm
Xuất phát từ thực trạng sử dụng bài hát cho trẻ làm quen với tiếng Anh
70

ở trường MN Xuân La, Tây Hồ, Hà Nội, tôi xác định mục đích của thực
nghiệm là kiểm nghiệm hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất. Qua đó, xác
định sự phù hợp giữa kết quả nghiên cứu và giả thuyết khoa học đề ra. Nếu
mức độ hiệu quả sử dụng bài hát trong hoạt động làm quen với tiếng Anh của
trẻ sau quá trình TN cao hơn mức độ hiệu quả sử dụng bài hát trong hoạt động
làm quen với tiếng Anh các của trẻ trước thực nghiệm (TN) thì chứng tỏ các
biện pháp chúng tôi đề xuất ra là khả thi, đúng đắn, hợp lí và có hiệu quả.
Ngược lại, nếu sau quá trình TN mà mức độ hiệu quả sử dụng bài hát trong
hoạt động làm quen với tiếng Anh của trẻ thấp hơn trước TN thì cho thấy các
biện pháp chúng tôi đưa ra là không phù hợp, đòi hỏi phải tiếp tục tìm ra các
biện pháp có tính hiệu quả và đúng đắn hơn.
Thời gian và địa điểm
Chúng tôi tiến hành tổ chức thực nghiệm tại lớp mẫu giáo nhỡ B3 của
trường mầm non Xuân La, trong 4 tuần (tháng 11/ 2016)
Nội dung thực nghiệm
Chúng tôi tiến hành TN trên trẻ 4-5 tuổi lớp B3 thông qua 3 hình thức
1.

của hoạt động làm quen với tiếng Anh sau:
Sử dụng các bài hát tiếng Anh tự sáng tác dựa trên giai điệu của các bài hát
gần gũi, thân thuộc với cuộc sống hàng ngày của trẻ
Cụ thể: bài hát “Little pets” nhạc “con chim non”

2.
3.

-

Sử dụng bài hát tiếng Anh kết hợp vận động minh họa
Cụ thể: bài hát “Hokey pokey”
Sử dụng bài hát tiếng Anh để tổ chức các trò chơi
Cụ thể: bài hát “Family finger”
Các bài hát kể trên được chúng tôi tiến hành lựa chọn thông qua một số
tiêu chí sau:
Bài hát nằm trong hệ thống các bài hát dành cho lứa tuổi MN, cụ thể là độ
tuổi từ 4-5 tuổi (có đặc điểm của những bài hát dành cho lứa tuổi 4-5 tuổi).

-

Xem mục 1.2.2 chương I
Bài hát có thể kết hợp được các vận động minh họa (bài hát có nhiều động từ,
cụm động từ)
71

-

Bài hát có các đặc điểm cần thiết để tổ chức trò chơi: Giai điệu vui tươi, trong
sáng, nhịp điệu nhanh, mạnh.
3.5.2. Tiêu chí và thang đánh giá mức độ làm quen với tiếng Anh cho trẻ 45 tuổi thông qua bài hát
Xem mục 2.3.4
3.5.3. Tiến hành thực nghiệm
3.5.3.1 Chọn mẫu thực nghiệm
Việc lựa chọn mẫu TN được tiến hành ở lớp B3, trường mầm non Xuân
La – Tây Hồ theo nguyên tắc ngẫu nhiên.
Tổng số trẻ: 40 trẻ 4-5 tuổi chia làm 2 nhóm: 20 trẻ ở nhóm TN và 20
trẻ ở nhóm ĐC.
Trẻ ở 2 nhóm TN và ĐC đều tương đương nhau về mặt nhận thức và
trí tuệ.
3.5.3.2. Đo đầu thực nghiệm
Dựa trên các tiêu chí và thang đánh giá đã đưa ra, chúng tôi tiến hành
TN: Đo đầu trước TN trên 40 trẻ ở cả 2 nhóm TN và ĐC. Việc đo đầu trước
TN được tiến hành thông qua bài tập khảo sát trẻ.
3.5.3.3. Tổ chức thực nghiệm
Sau khi đo trước TN, chúng tôi chia trẻ thành 2 nhóm TN và ĐC. Tổng
số trẻ mỗi nhóm là 20 trẻ. Tình hình sức khỏe và mức độ thực hiện HĐ là
tương đương nhau ở cả 2 nhóm. Tiếp đó chúng tôi tiến hành TN tại một nhóm
và sử dụng một nhóm là nhóm ĐC.
Nhóm TN
Chúng tôi áp dụng 3 biện pháp kể trên
Việc đo đầu sau TN được tiến hành thông qua 3 hình thức sử dụng BH
trong HĐ cho trẻ 4-5 tuổi LQVTA kể trên theo các bước tổ chức thông
thường gồm:



HĐ 1: Học hát bài hát “ Little pets” nhạc “Con chim non”
Bước 1: Giới thiệu tên bài hát và đàm thoại khai thác kinh nghiệm của
trẻ về bài hát “Con chim non”
Bước 2: Cô hát mẫu
72

Bước 3: Đàm thoại, hỏi trẻ về từ mới
Bước 4: Trẻ tập hát từng câu
Bước 5: Trẻ hát cả bài có nhạc đệm
Bước 6: Trẻ biểu diễn theo tổ, nhóm, cá nhân




HĐ 2:Vận động theo bài hát “Hokey Pokey”
Bước 1: Ôn lại từ vựng: "hand, foot, head, back side, .v.v.”
Bước 2: Học một số cụm động từ: “stand up, sit dowm, shake your
hand, shake your head, turn around, sing a song, .v.v.”
Bước 3: Hát bài hát + vận động (cô làm cùng trẻ)
Bước 4: Hát bài hát + vận động (trẻ tự làm)
HĐ 3: Sử dụng bài hát: “Family finger” để chơi trò chơi
Bước 1: Giới thiệu tên trò chơi: “Hot seat”
Bước 2: Giải thích luật chơi và làm mẫu về cách chơi (giả sử trẻ học 5
từ: daddy, mommy, brother, sister, baby thì cô sẽ sắp xếp 4 chiếc ghế thành 1
vòng tròn. 5 trẻ sẽ đeo mặt nạ để nhập vai 5 thành viên trong gia đình, vừa vỗ
tay vừa hát bài hát: “Family finger” và đi xung quanh 4 chiếc ghế đó, khi bản
nhạc kết thúc trẻ phải ngồi thật nhanh vào một chiếc ghé bất kì, bạn nào chậm
chân không có ghế ngồi sẽ là người bị loại. Khi đó cả lớp sẽ nói lời chào tạm
biệt thành viên bị loại (ví dụ người bị loại đeo mặt nạ daddy, cả lớp sẽ đồng
thanh nói goodbye daddy) )
Bước 3: Phân vai
Bước 4: Theo dõi, quan sát trẻ trong quá trình chơi
Bước 5: Giáo viên nhận xét sau khi trẻ chơi
Nhóm ĐC
Chúng tôi không áp dụng một biện pháp giáo dục riêng biệt nào ở
nhóm này. Việc tổ chức và hướng dẫn HĐ cho trẻ do giáo viên soạn giáo án
và giảng dạy không làm thay đổi thực trạng của lớp.
Để thu thập kết quả chúng tôi đã dùng bài tập khảo sát (xem phụ lục)
3.5.3.4. Tiến hành đo cuối thực nghiệm
Sau thời gian thực nghiệm, chúng tôi sử dụng quá trình đo ở cả hai
73

nhóm TN và nhóm ĐC nhằm kiểm tra hiệu quả sử dụng BH khi tham gia
hoạt động LQVTA của trẻ 4-5 tuổi khi tham gia vào 3 HĐ. Số điểm đo của
từng tiêu chí được tính bằng điểm trung bình của TC đó qua 3 HĐ ở 3 buổi
HĐ cuối.
Kết thúc thời gian TN, chúng tôi kiểm tra, đánh giá, so sánh mức độ
hiệu quả sử dụng BH khi tham gia HĐ LQVTA của trẻ 4-5 tuổi ở cả 2 nhóm
ĐC và nhóm TN để từ đó đưa ra những kết luận cuối cùng.
3.6. Phân tích kết quả đo
3.6.1. Phân tích kết quả đo trước thực nghiệm
Bảng 3.3. Kết quả mức độ làm quen với tiếng Anh của trẻ 4-5 tuổi trước
thực nghiệm trên 2 nhóm đối chứng và thực nghiệm như sau
Lớp
ĐC
TN

Xuất
sắc
SL %
1
5
2 10

Giỏi
SL %
2 10
4 20

Khá
SL
7
8

%
35
40

Trung
Bình
SL %
6
30
4
20

Yếu
SL
4
2

%
20
10

5,8
6,6

1,9
1,7
3

Hình 3.1: Kết quả làm quen với TA của trẻ 4-5 trước TN
ở cả 2 nhóm ĐC và TN
Kết quả đo đầu vào trước TN cho thấy: Số trẻ đạt mức độ xuất sắc
chiếm tỉ lệ thấp, mức độ giỏi chiếm tỉ lệ cao hơn (nhóm ĐC 33.3%, nhóm TN
50%). Kết quả biểu hiện mức độ LQTA của trẻ 4-5tuổi ở nhóm ĐC có phần
cao hơn so với TN nhưng không đáng kể. Cụ thể như sau:
Số trẻ mức độ LQ với TA (Xuất sắc) và mức độ (Giỏi), (Khá) của
nhóm ĐC đều cao hơn nhóm TN, trong khi đó số trẻ biểu hiện mức độ trung
bình và yếu của nhóm TN cao hơn nhóm ĐC 10 %.
Điểm trung bình cộng nhóm ĐC thấp hơn so với điểm trung bình của
nhóm TN tuy nhiên mức chênh lệch không đáng kể
Độ lệch chuẩn của nhóm ĐC (1,9) cao hơn nhóm thực nghiệm (1,73)
74

nhưng không đáng kể.
Nhìn chung mức độ LQTA của cả 2 nhóm đều chưa cao và không
đồng đều. Và có thể thấy rằng mức độ biểu LQTA của trẻ 4- 5 tuổi trước
khi tham gia TN của cả 2 nhóm ĐC và TN là tương đương nhau và ở mức
độ còn thấp. Điều đó chứng tỏ việc sử dụng bài hát cho trẻ 4-5 tuổi
LQVTA ở trường MN hiện nay chưa phát huy được hiệu quả. Các hình
thức do giảo viên sử dụng trong giờ HĐ LQVTA còn chưa được đa dạng
dẫn đến hiệu tình trạng trên.
3.6.2. Phân tích kết quả đo sauthực nghiệm
Mức độ LQTA của trẻ 4-5 tuổi sau TN trên 2 nhóm ĐC và TN qua từng
hoạt động


Hoạt động 1: Học hát bài hát: “Little pet”, nhạc: “Con chim non”
Bảng 3.4. Kết quả biểu hiện MĐ LQTA ở trẻ 4-5 tuổi sau TN trên 2 nhóm ĐC và
TN thông qua hình thức học hát bài hát “Little pet", nhạc “Con chim non”
Xuất sắc

Lớp

SL
2
4

ĐC
TN

%
10
20

Giỏi
SL
4
7

Khá

% SL
20 12
35
8

%
60
40

Trung Bình
SL
2
1

%
10
5

Yếu
SL
0
0

%
0
0

7,2
7,6
5

Hình 3.2. Kết quả biểu hiện MĐ LQTA ở trẻ 4-5 tuổi sau TN trên 2 nhóm ĐC và
TN thông qua hình thức học hát bài hát “Little pet”, nhạc: “Con chim non”
Nhìn vào bảng kết quả và biểu đồ minh họa ta có thể thấy rõ rằng, tỉ lệ
trẻ đạt mức độ LQTA loại yếu đã không còn, tuy nhiên vẫn có sự chênh lệch
giữa mức độ làm quen T.A thông qua HĐ1 của nhóm TN và nhóm ĐC. Tỉ lệ
HS đạt mức độ XS, G ở nhóm TN vẫn cao hơn ở nhóm ĐC (10-15%), điều
này dẫn đến tỉ lệ HS đạt mức độ LQTA loại K ở nhóm ĐC cao hơn nhóm TN
20% và tỉ lệ HS ở mức độ LQTA TB ở nhóm ĐC cao hơn nhóm TN k đáng
kể 5%.
75