Tải bản đầy đủ
1 . LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

1 . LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Tải bản đầy đủ

phương pháp thì mãi đến thế kỉ XX mới xuất hiện. Đặc biệt là sau việc chính
thức phát minh ra phương pháp tập kích não vào năm 1941 của Alexosborn
thì các phương pháp TDST mới thực sự được các nhà nghiên cứu nhất là các
nhà tâm lí học chú ý tới. Kể từ đó rất nhiều phương pháp sáng tạo đã ra đời
như các phương pháp: Tập kích não, thu thập ngẫu nhiên, nới rộng khái niệm,
kích hoạt, sáu chiếc mũ tư duy…
Người đặt nền móng khởi đầu cho khoa học nghiên cứu về TDST là nhà
toán học Hy Lạp Pappos. Ông sống vào thế kỉ thứ 3 tại thành phố Alexandria
thuộc Hy Lạp cổ. Pappos gọi khoa học này là Ơrixtic (Heuristic) có gốc là từ
Ơrica (Eurica – Tìm ra rồi). Theo quan niệm lúc bấy giờ, Ơrixtic là nhà khoa
học về các phương pháp và qui tắc làm sáng chế, phát minh trong mọi lĩnh
vực khoa học kĩ thuật, văn học, nghệ thuật, chính trị, triết học, toán học, quân
sự… Nhưng do cách tiếp cận quá chung và chủ yếu do không có nhu cầu xã
hội, Ơrixtic bị quên lãng cho đến thời gian gần đây cùng với cuộc cách mạng
KHKT, từ sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, số lượng bài toán phức
tạp mà loài người cần giải quyết tăng nhanh đồng thời yêu cầu thời gian giải
các bài toán này phải rút ngắn lại. Trong khi đó không thể tăng mãi phương
tiện và số người làm công tác KHKT. Thêm nữa cho đến nay và tương lai khá
xa sẽ không có công cụ nào thay thế được bộ óc TDST khiến người ta nhớ lại
Ơrixtic và đặt vào nó nhiều hy vọng tìm ra cách tổ chức hợp lý, nâng cao hiệu
quả quá trình TDST – công nghệ làm sáng chế, phát minh.
Một hướng khác trong Ơrixtic nghiên cứu các quy luật phát triển tiến
hóa của các hệ thống kỹ thuật nhằm đưa ra phương pháp luận mới đó là lý
thuyết giải các bài toán sáng chế (TRIZ) với hạt nhân là Algôrit giải các bài
toán sáng chế (ARIZ) do Genrikh Saulovich Altshuller là tác giả. Ông bắt đầu
nghiên cứu, xây dựng lý thuyết này từ năm 1946. Ông đã viết hàng chục
quyển sách và khoảng 400 bài báo về các vấn đề liên quan đến khoa học
11

TDST, ngoài ra ông đã tìm được nguyên tắc giải bài toán sáng chế - TRIZ.
Mới đây hội TRIZ được thành lập và dự định sẽ ra tờ tạp chí riêng về hướng
khoa học này. Theo bài báo “Có một khoa học như thế” của Phan Dũng trên
trang web http:/cstc.vn thì trong vòng 10 năm (1972 – 1981) đã có khoảng
7000 người tốt nghiệp các trường sáng tạo sáng chế.
Hiện nay, TRIZ phát triển mạnh đã và đang được nhiều nước trên thế
giới quan tâm như: Mỹ du nhập TRIZ từ năm 1991; các nước khác như Anh,
Đức, Thụy Điển, Tây Ban Nha, Isarel, Phần Lan, Hà Lan, Mexico, Úc, Pháp
du nhập TRIZ từ năm 1996; Nhật Bản du nhập từ năm 1997; Hàn Quốc,
Singapore ngày càng quan tâm. Ngoài ra, TRIZ cũng được khá nhiều công ty,
tổ chức nổi tiếng sử dụng để giải quyết vấn đề của mình như: 3M, NASA, Oil,
… Hơn nữa, TRIZ đã được giới thiệu trên nhiều trang web ở các nước trên
thế giới. Dưới đây là địa chỉ các trang web nói về TRIZ [ Phụ lục 2].
Từ những năm 50, 60 trở lại đây việc nghiên cứu về sáng tạo trong tất
cả các lĩnh vực phát triển mạnh mẽ và được quan tâm nhiều hơn. Cụ thể:
“Ở Mỹ, thời kỳ này được đánh dấu bằng bài phát biểu trong tư cách chủ
tịch của J.P. Guilford năm 1950, kêu gọi hiệp hội tâm lí học Hoa Kì cần tập
trung các nỗ lực nghiên cứu đối tượng sáng tạo. Năm 1954, tại Buffalo, bang
New York, Alex Osborn, tác giả của phương pháp não công (Brainstorming)
thành lập tổ chức giáo dục sáng tạo (Creative Education Foundation – CEF).
Từ 1955 đến nay, CEF hằng năm tổ chức những khóa học với tên gọi Trường
giải quyết những vấn đề mang tính sáng tạo (Creative Problem Solving
Institute – CPSI). Từ năm 1972, CEF xuất bản bản tin (Newsletter) hàng tháng
với tên gọi Sáng tạo trong hành động (Creativity in Action). Thông qua việc
làm của Osborn, Trung tâm nghiên cứu sáng tạo (Center for Studies in
Creativity – CSC) được thành lập năm 1967 tại Đại học Buffalo. Năm 1974,
CSC bắt đầu đào tạo cử nhân và năm 1975 đào tạo thạc sỹ khoa học về sáng tạo
12

và đổi mới (BS, MS in Creativity and Innovation…). Hiện nay Mỹ vẫn đang là
nước có số lượng các nhà chuyên môn, trung tâm, công ty, tổ chức, đại học
hoạt động trong lĩnh vực sáng tạo vào đổi mới nhiều nhất trên thế giới.
Ở Tây Âu, Edward de Bono (người gốc Malta, nhận bằng tiến sĩ tâm –
sinh lý học ở Anh), tác giả của các phương pháp sáng tạo như tư duy chiều
ngang (Lateral Thinking), sáu chiếc mũ tư duy (Six Thinking Hats) thành lập
công ty nghiên cứu nhận thức (Cognitive Research Trust) năm 1969 ở
Cambridge và sau đó là trung tâm nghiên cứu tư duy (Centre for the Study of
Thinking). Từ năm 1977, tại đại học Malta, Edward de Bono khởi xướng đào
tạo thạc sỹ nghệ thuật về sáng tạo và đổi mới (MA in Creativity and
Innovation).” [7, tr 55].
Ở Anh, khi người ta bắt đầu dạy chương trình sáng tạo tại trường kinh
doanh Manchester năm 1972 ngoài ra chưa một trường đại học Tây Âu nào
triển khai các chương trình tương tự. Các hiệp hội, mạng lưới về sáng tạo
được thành lập ở nhiều nước và nhiều khu vực trên thế giới. Chỉ riêng mạng
lưới sáng tạo quốc tế (Internation Creativity Network), trụ sở liên lạc ở Mỹ,
tuy mới thành lập nhưng đã có hơn 300 hội viên ở hơn 25 nước. Các hội nghị
về khoa học sáng tạo cũng được tổ chức thường xuyên. Riêng năm 1990 đã có
7 hội nghị như vậy. Năm 1994 từ ngày 10 đến 13 tháng 8 đã có một hội nghị
quốc tế tại Quesbec.
1.1.2. Ở Việt Nam
Ở nước ta môn khoa học mới mẻ này lần đầu tiên xuất hiện ở TP HCM
và thực sự bắt đầu vào cuối thập niên 70 của thế kỉ XX. Ban đầu còn mang
tính tự phát nhưng đến khi nhà vật lý trẻ tuổi Phan Dũng tốt nghiệp ở Liên
Xô, nay là PGS - TSKH Phan Dũng giám đốc Trung tâm sáng tạo Khoa học
kĩ thuật (TSK) Đại học tổng hợp TP HCM, đã không bỏ lỡ cơ hội theo học
khóa học đầu tiên của trường Đại học đầu tiên ở Liên Xô giảng dạy bộ môn
13

“Phương pháp luận sáng tạo” vào năm 1971 do chính Genrikh Saulovich
Altshuller đề xuất khóa học và cũng là người hướng dẫn. Hiểu rõ tầm quan
trọng của môn khoa học này đối với tương lai phát triển của đất nước, sau khi
về nước năm 1977, Phan Dũng đã tổ chức dạy cho sinh viên khoa Tự nhiên
thuộc Đại học Quốc gia TP HCM dưới dạng ngoại khóa và đến tháng 4 năm
1991 ông đã thành lập Trung tâm sáng tạo KHKT viết tắt TSK thuộc Đại học
Quốc gia TP HCM. Đó là tổ chức đầu tiên ở nước ta dạy và nghiên cứu về
PPLST.
Trung tâm TSK đã xây dựng chương trình, biên soạn nhiều tài liệu một
cách bài bản và hiện nay thường xuyên mở các lớp chiêu sinh theo cách ghi
dạy tự do cho những người nào quan tâm đến việc nâng cao chất lượng suy
nghĩ. Từ khi TSK mở lớp đã có gần 60 khóa học với hơn 2300 người tham dự.
TSK cũng tích cực tham gia các hoạt động quốc tế như công bố các
công trình nghiên cứu khoa học dưới dạng các báo cáo, báo cáo chính tại các
hội nghị, các bài báo đăng trong các tạp chí chuyên ngành và giảng dạy cho
các cán bộ quản lý, nghiên cứu ở nước ngoài theo lời mời.
Ngoài Phan Dũng còn có kỹ sư Dương Xuân Bảo cũng học về PPLST
KHKT ở Liên Xô và có mở lớp để truyền bá PPLST ở Hà Nội. Tại Hà Nội
đến năm 1987 mới khai giảng khóa học đầu tiên của khoa học về sáng tạo.
Đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, GS Nguyễn Cảnh Toàn là người để tâm
nhiều về PPLST. Ông đã viết rất nhiều bài báo về dạy, học sáng tạo và chủ biên
rất nhiều đầu sách, tất cả đều xoay quanh chủ đề “sáng tạo trong toán học và
giáo dục”.
Theo Phan Dũng, những hoạt động liên quan đến khoa học về TDST ở
Việt Nam được thể hiện trên ba hình thức:
1. Giới thiệu bằng các bài báo ngắn trên các báo Trung ương như: “Nhân
Dân”, “Khoa học và đời sống”, trên các báo của TP HCM, bằng các buổi nói
14

chuyện tại cơ quan, xí nghiệp, trường học, trên “màn ảnh nhỏ”. Hình thức này
mới mang tính chất “đánh động” đông đảo quần chúng về môn khoa học còn
ít người biết đến nhưng khá gần gũi, thiết thực với mọi người.
2. Xuất bản những tài liệu chi tiết hơn về môn TDST. Ví dụ cuốn sách
“Algôrit sáng chế” (Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 1993) hoặc
đăng thường kỳ trong trong tạp chí “Sáng tạo” của Ủy ban Khoa học và kỹ thuật
TP HCM. Hình thức này đã có bề sâu hơn và được những người quan tâm
hưởng ứng.
3. Dạy và học những phương pháp TDST. Cho đến nay đã mở được một
số lớp tại TP HCM và Hà Nội. Qua kinh nghiệm của các nước tiên tiến và
kinh nghiệm thực tế ở nước ta thì hình thức này là hình thức tốt nhất để lĩnh
hội và áp dụng vào cuộc sống, công tác.
Gần đây, trong khuôn khổ các chương trình khoa học công nghệ cấp nhà
nước và trong đề tài nghiên cứu khoa học của Bộ Giáo dục và Đào tạo, viện
Khoa học giáo dục là cơ quan khoa học đầu tiên quan tâm đến vấn đề nghiên
cứu sự sáng tạo của học sinh/ sinh viên. Ngoài ra đã có một số luận văn thạc
sĩ, tiến sĩ nghiên cứu về lĩnh vực này.
Tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội, PGS.TS Nguyễn Văn Khôi đã có
đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ nghiên cứu về vấn đề sáng tạo đó là “Vận
dụng một số phương pháp sáng tạo công nghệ trong dạy học kĩ thuật”, đã vận
dụng một số phương pháp sáng tạo công nghệ trong dạy học nhằm nâng cao
chất lượng dạy học môn Phương pháp dạy học Kỹ thuật Công nghiệp.
Trong dạy học kĩ thuật, đã có nhiều tác giả nghiên cứu phát triển tư duy
sáng tạo và vận dụng vào dạy học như "Dạy học thực hành Kĩ thuật điện tử
cho sinh viên cao đẳng Lí – Kĩ thuật công nghiệp theo định hướng sáng tạo kĩ
thuật" của tác giả Phạm Thị Kim Huệ, "Phát triển tư duy sáng tạo kĩ thuật
trong dạy học Trang bị điện ở trường Cao đẳng nghề Việt Đức Vĩnh Phúc"
15

của tác giả Nguyễn Thị Hiền, "Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trong
dạy học môn Công nghệ 11 ở trường trung học phổ thông" của tác giả Trần
Thị Kim Thoa... vào một số nội dung cụ thể.
Tuy vậy, việc sử dụng các phương pháp phát triển TDST vào dạy học
môn học cụ thể như môn học Máy điện chưa được nghiên cứu. Vì vậy, việc
nghiên cứu các phương pháp sáng tạo kỹ thuật trong dạy học Máy điện nhằm
phát triển TDST cho học sinh học nghề là một vấn đề mà tác giả quan tâm và
tiến hành nghiên cứu trong đề tài này.
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO TRONG
DẠY HỌC CHO HỌC SINH HỌC NGHỀ
1.2.1. Một số khái niệm công cụ
1.2.1.1. Tư duy
a. Khái niệm, đặc điểm, phân loại
* Khái niệm về tư duy:
Tư duy xuất hiện trong quá trình sản xuất xã hội của con người. Trong
quá trình đó, con người so sánh các thông tin, dữ liệu thu được từ nhận thức
cảm tính hoặc các ý nghĩ với nhau. Trải qua các quá trình khái quát hóa và
trừu tượng hóa, giả thuyết... Kết quả của quá trình tư duy bao giờ cũng là sự
phản ánh khái quát các thuộc tính, các mối liên hệ cơ bản, các quy luật không
chỉ ở một sự vật hiện tượng riêng rẽ mà còn là của nhiều sự vật hiện tượng
nhất định. Do vậy, tư duy bao giờ cũng là sự giải quyết vấn đề thông qua
những kiến thức đã nắm bắt được từ trước.
Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh thuộc tính, bản chất, những
mối liên hệ và quan hệ trong đó có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong
hiện thực khách quan, mà trước đó ta chưa biết.
Tư duy là phạm trù triết học dùng để chỉ hoạt động của tinh thần, đem
những cảm giác của con người ta sửa đổi và cải tạo thế giới thông qua hoạt
16

động vật chất, làm cho con người ta có nhận thức đúng đắn về sự vật và ứng
xử tích cực với nó [19, tr 25].
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, tập 4 (NXB Từ điển Bách
khoa, Hà Nội, 2005); Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức
một cách đặc biệt – Bộ não người. Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách
quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lý luận...
Theo triết học duy tâm khách quan, tư duy là sản phẩm “ý niệm tuyệt đối”
với tư cách là bản năng siêu tự nhiên, độc lập, không phụ thuộc vào vật chất.
Theo triết học duy vật biện chứng, tư duy là một trong các đặc tính của
vật chất phát triển đến trình độ tổ chức cao.
* Đặc điểm của tư duy
Tư duy có những đặc điểm sau [19, tr 25]:
- Tính có vấn đề của tư duy.
Muốn kích thích được tư duy phải đồng thời có 2 điều kiện sau:
+ Phải gặp hoàn cảnh (tình huống) có vấn đề, là tình huống chứa đựng mục
đích mới, một vấn đề mới, đòi hỏi phải có cách thức giải quyết mới. Như vậy,
muốn giải quyết vấn đề đó phải tìm ra cách giải quyết mới, tức là phải tư duy.
+ Tình huống có vấn đề đó phải được cá nhân nhận thức đầy đủ, được
chuyển thành nhiệm vụ của cá nhân, tức cá nhân phải xác định được cái gì
(dữ kiện) đã biết, đã cho và cái gì còn chưa biết, phải tìm; đồng thời phải có
nhu cầu, (động cơ) tìm kiếm nó. Những dữ kiện quen thuộc hoặc nằm ngoài
tầm hiểu biết của cá nhân thì tư duy cũng không xuất hiện.
- Tính gián tiếp của tư duy.
Tư duy phát hiện ra bản chất của sự vật, hiện tượng và quy luật giữa
chúng nhờ sử dụng công cụ, phương tiện (máy đo) và các kết quả nhận thức
(quy tắc, công thức, quy luật,...) của loài người và kinh nghiệm cá nhân. Tư
duy được biểu hiện trong ngôn ngữ.
17

- Tính trừu tượng hóa và khái quát hóa.
Tư duy phản ánh cái bản chất nhất, chung cho nhiều sự vật hợp thành
một nhóm, một loại, một phạm trù (khái quát), đồng thời xuất khỏi sự vật đó
những cái cụ thể, cá biệt.
- Tư duy liên hệ chặt chẽ với ngôn ngữ.
Tư duy trừu tượng, gián tiếp, khái quát nên phải dùng ngôn ngữ làm
phương tiện.
- Tư duy có quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính.
Tư duy phải dựa vào những tài liệu cảm tính, trên kinh nghiệm, trên cơ
sở trực quan sinh động. Ngược lại tư duy và sản phẩm của nó cũng ảnh hưởng
đến các quá trình nhận thức cảm tính.
* Phân loại tư duy
Tư duy được phân loại theo hai hình thức sau:
- Theo lịch sử hình thành và mức độ phát triển của tư duy, tư duy được
chia thành ba loại:
+ Tư duy trực quan hành động: Là loại tư duy mà việc giải quyết
nhiệm vụ được thực hiện nhờ các hành động vận động có thể quan sát được.
+ Tư duy trực quan hình ảnh: Là loại tư duy mà việc giải quyết nhiệm
vụ được thực hiện nhờ quan sát hình ảnh.
+ Tư duy trừu tượng: Là loại tư duy mà việc giải quyết nhiệm vụ được
dựa trên việc sử dụng các khái niệm, các cấu kết logic, được tồn tại và vận
hành nhờ ngôn ngữ.
- Theo hình thức biểu hiện và phương thức giải quyết nhiệm vụ (vấn
để) tư duy được chia thành ba loại:
+ Tư duy thực hành: Là loại tư duy mà nhiệm vụ được đề ra một cách
trực quan, dưới hình thức cụ thể, phương thức giải quyết là những hành
động thực hành.
18

+ Tư duy hình ảnh cụ thể: Là loại tư duy mà nhiệm vụ được đề ra dưới
hình thức hình ảnh cụ thể mà việc giải quyết nhiệm vụ cũng dựa trên những
hình ảnh trực quan đã có.
+ Tư duy lí luận: Là loại tư duy mà nhiệm vụ được đề ra và giải quyết
nhiệm vụ đó đòi hỏi phải sử dụng những khái niệm trừu tượng, những tri thức
lí luận.
b. Các thao tác tư duy
Tư duy gồm các thao tác sau:
- Phân tích tổng hợp
- So sánh
- Trừu tượng hóa và khái quát hóa
* Phân tích tổng hợp:
- Phân tích là quá trình dùng trí óc để phân chia các đối tượng nhận
thức thành các bộ phận, thành phần khác nhau.
- Tổng hợp là quá trình dùng trí óc để hợp nhất các thành phần đã được
tách rời nhờ phân tích một chỉnh thể.
Như vậy, phân tích và tổng hợp có mối quan hệ qua lại mật thiết với
nhau tạo nên sự thống nhất không thể tách rời nhau được. Để phân tích một
vấn đề sẽ được tiến hành dựa trên cơ sở của tổng hợp và tổng hợp một vấn đề
dựa trên cơ sở phân tích vấn đề đó.
* So sánh
So sánh là quá trình dùng trí óc để xác định sự giống nhau hay khác
nhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau
giữa các đối tượng nhận thức (sự vật, hiện tượng).
* Trừu tượng hóa và khái quát hóa

19

- Trừu tượng hóa là quá trình dùng trí óc để gạt bỏ những mặt, những
thuộc tính, những liên hệ, quan hệ thứ yếu , không cần thiết và chỉ giữ lại
những yếu tố cần thiết cho tư duy.
- Khái quát hóa là quá trình dùng trí óc để hợp nhất nhiều đối tượng
khác nhau thành một nhóm, một loại theo những thuộc tính, những liên hệ,
quan hệ chung nhất định.
Nhận thấy, trừu tượng hóa và khái quát hóa có quan hệ qua lại với nhau
như quan hệ phân tích và tổng hợp nhưng ở mức độ cao hơn.
Trong thực tế, các thao tác tư duy trên đều có quan hệ mật thiết với nhau,
các thao tác đó không tuân theo một thứ tự nào và khi giải quyết một vấn đề thì
cũng không nhất thiết phải thực hiện tất cả những thao tác trên mà việc lựa
chọn các hình thức thao tác phụ thuộc vào nội dung vấn đề cần giải quyết.
c. Các hình thức tư duy
Tư duy có 3 hình thức:
- Khái niệm
- Phán đoán
- Suy luận
* Khái niệm:
Khái niệm là một hình thức của tư duy phản ánh gián tiếp, khái quát
hiện thực. Khái niệm bao hàm trong đó những tri thức khái quát của con
người về sự vật hiện tượng. Khái niệm phản ánh bản chất của sự vật hiện
tượng hay lớp sự vật hiện tượng thông qua những dấu hiệu cơ bản khác biệt
[19, tr 28-29].
- Về định nghĩa khái niệm: Theo nghĩa chung nhất, định nghĩa khái
niệm là thao tác logic giải thích đầy đủ nội hàm ( tất cả các tính chất mà tất cả
các đối tượng ngoại diên của khái niệm cần được định nghĩa đều có) của khái
niệm đó.
20

Một trong những nhiệm vụ của định nghĩa là xác định (giúp nhận ra)
đối tượng được định nghĩa và phân biệt nó với tất cả các đối tượng khác.
* Phán đoán:
“Phán đoán là hình thức của tư duy nhờ liên kết giữa các khái niệm có
thể khẳng định hay phủ định sự tồn tại của đối tượng, sự có hay không có
thuộc tính nào đó thuộc về đối tượng hay nhận định về mối quan hệ giữa các
đối tượng.
Phán đoán được biểu đạt dưới dạng ngôn ngữ, thành một câu (hay
mệnh đề) phản ánh đúng hoặc sai thực tế khách quan. Có phán đoán đúng
hoặc phán đoán sai” [19,tr 30].
* Suy luận:
“Suy luận là một hình thức của tư duy là một quá trình tư tưởng trong
đó rút ra phán đoán mới từ một hay một số phán đoán ban đầu mà giá trị chân
thực của nó đã được chứng minh.
Thực chất của suy luận là dựa trên những tri thức đã biết chắc chắn (các
phán đoán đã được chứng minh) liên kết chúng theo một cách thức nhất định
(các qui tắc, các kiểu suy luận) để tạo ra các tri thức mới (các phán đoán mới)
mà trước đây không biết.
Cấu trúc của suy luận gồm 3 thành phần: Tiền đề, lập luận và kết luận.
Chỉ khi nào dựa vào tiền đề chân thực và lập luận đúng thì mới có kết luận
đúng và chân thực” [19, tr 30].
d. Cơ chế hoạt động và tính độc lập tương đối của tư duy
Cơ chế hoạt động của tư duy dựa trên hoạt động sinh lí của bộ não với
tư cách là hoạt động thần kinh cao cấp. Vì vậy tư duy không thể tách rời bộ
não nhưng tư duy cũng không hoàn toàn gắn với một bộ não nhất định.
Hơn nữa, quá trình giao tiếp của con người đã khiến tư duy của từng
người biến đổi qua quá trình hoạt động của bản thân đồng thời cũng chịu sự
21