Tải bản đầy đủ
3 Một số biện pháp kích thích sự hứng thú cho trẻ 5-6 tuổi nghe dân ca ĐBBB

3 Một số biện pháp kích thích sự hứng thú cho trẻ 5-6 tuổi nghe dân ca ĐBBB

Tải bản đầy đủ

nhạc một cách phong phú, tạo điều kiện để trẻ ghi nhớ âm nhạc.
B. Yêu cầu
Khi sử dụng biện pháp này GV cần lưu ý:
- Chuẩn bị các thiết bị nghe như Ti vi, máy chiếu, đài, loa… hình ảnh rõ nét và
âm thanh vừa đủ để trẻ có thể dễ dàng cảm nhận.
- Chú ý đến diện tích phòng học để phân chia không gian tổ chức hợp lý
- GV cần để trẻ có thời gian, có không gian yên tĩnh, chỗ ngồi hợp lý để trẻ có thể tri
giác chọn vẹn nhất từ đó tự cảm nhận giai điệu của bài hát, bản nhạc.
C. Cách tiến hành
Trong quá trình tổ chức hoạt động nghe cho trẻ việc sử dụng các loại đồ dùng
trực quan: băng đĩa, đạo cụ, nhạc cụ, trang phục sẽ thu hút sự chú ý và gây hứng thú
hơn đối với trẻ.
Tận dụng các nguyên liệu, vật liệu sẵn có như: giấy màu, bìa cứng, giấy nhún, mút
xốp…. để làm các nhạc cụ, đạo cụ cho trẻ theo nội dung của bản nhạc. Bên cạnh đó GV
và trẻ có thể cùng nhau làm và trang trí các dụng cụ âm nhạc bằng các nguyên liệu có sẵn
như hoạt động trong giờ tạo hình, hoạt động góc…. Tạo cơ hội để trẻ được tự mình làm
các dụng cụ âm nhạc như thế sẽ giúp trẻ tự sáng tạo khả năng của mình và đồng thời giáo
dục trẻ biết tận dụng các nguyên vật liệu xung quanh để làm ra các dụng cụ âm nhạc hay
và sinh động, và giúp trẻ nhận ra các đồ vật đó có thể được tận dụng cho các hoạt động
khác nhau.
Ví dụ như: làm trống cơm cho trẻ để trẻ thể hiện trong bài hát “ Trống cơm”
Có thể may yếm, váy đụp cho trẻ bằng giấy nhún ….
Ngoài ra, GV có thể sử dụng đồ dùng trực quan cho trẻ nghe và cảm thụ âm nhạc
dưới các hình thức khác nhau và thay đổi trong các bước một cách không trùng lặp.
Ví dụ : Bài “ Xòe hoa” – Dân ca Thái
Trong quá trình tổ chức hoạt động nghe trong hoạt động GDAN trên hoạt động
học cho trẻ MG 5-6 tuổi, GV cho trẻ ngồi và tự nhắm mắt cảm nhận khi giai điệu nhạc
được cất lên, trong khoảng thời gian trẻ cảm nhận đó cần nhắc trẻ nhắm mắt và giữ
yên lặng như thế sẽ nghe được giai điệu cách tốt nhất. Sau khi trẻ nghe xong, GV có
thể gọi một số trẻ nói lên cảm nhận của mình về giai điệu, tiết tấu bản nhạc, bài hát đó.
GV đàm thoại với trẻ về tên bài hát, nguồn gốc, xuất sứ của bài hát.
GV mặc trang phục dân tộc Thái có thể vừa hát vừa biều diễn điệu múa xòe đặc
trưng của dân tộc Thái trước trẻ và sau đó đàm thoại cùng trẻ về nội dung, những nét
đặc trưng về văn hóa của người Thái : trang phục truyền thống, điệu múa truyền
thống…. Sau đó, GV mời trẻ đứng lên, và dạy trẻ một số động tác của điệu múa đó
GV cùng trẻ múa theo bài hát.
35

35
35

-

Biện pháp 2: Phân tích giảng giải, giúp trẻ hiểu được nội dung và ngôn ngữ
riêng của bài hát
A. Mục đích, ý nghĩa
Cho trẻ nghe nhạc là hoạt động nghệ thuật với yêu cầu cảm thụ âm nhạc mang
tính trìu tượng, nội dung tác phẩm, giai điệu âm nhạc. Vì vậy, trong quá trình nghe
nhạc nếu trẻ được cô gợi ý để bước đầu cảm nhận giai điệu và ý nghĩa của tác phẩm,
đồng thời cô trò chuyện về đời sống văn hóa các vùng miền dân tộc đó thì càng làm
tăng nguồn cảm hứng, sự yêu thích âm nhạc dân ca của trẻ.
B. Yêu cầu
Khi phân tích, giảng giải, giúp trẻ hiểu được nội dung và ngôn ngữ riêng của
bài hát, giáo viên cần lưu ý những điều sau:
Phải nắm vững kiến thức, chính xác về nội dung tác phẩm, giai điệu âm nhạc cũng như
đời sống văn hóa của các vùng miền dân tộc để có thể cung cấp thông tin một cách

-

chính xác nhất cho trẻ.
Ngôn ngữ giáo viên sử dụng phải ngắn gọn, dễ hiểu đối với trẻ.
Tạo không khí thoải mái và xây dựng tình cảm giữa cô và trẻ.
C. Cách làm
- Ban đầu, khi cô mặc trang phục hay đạo cụ của dân tộc nào thì cô sẽ giới thiệu
vài nét về trang phục và về dân tộc đó
36

36
36

Ví dụ: Trong bài “ Xòe hoa” – Dân ca Thái
Chúng mình có thấy trang phục của cô A có điểm gì đặc biệt không nhỉ?
À, Đây chính là trang phục truyền thống của người dân tộc Thái đấy.
Cô giới thiệu ngắn gọn vài nét về dân tộc Thái: Dân tộc Thái là một trong 54
dân tộc có mặt, sinh sống trên đất nước Việt Nam, chủ yếu sống ở vùng núi phía Tây
-

Bắc và các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An.
Sau đó, cô sẽ giới thiệu những nét đặc trưng về văn hóa, văn nghệ của dân tộc Thá i
Nói đến dân tộc Thái thì không thể không nhắc đên điệu múa Xòe.
Múa xòe là nét văn hóa đặc sắc của đồng bào Thái vùng Tây Bắc.
Cùng với những chiếc khăn Piêu choàng trên cổ, những cô gái Thái đã thể hiện
được niềm vui vô bờ bến mỗi khi làng bản có chuyện mừng vui như có đám cưới, đám
mừng nhà mới hay mừng mùa màng bội thu.
Ví dụ: Bài hát “ Cái Bống”
- Trước tiên cô giới thiệu cho trẻ biết bài “ Cái Bống” là bài dân ca Bắc Bộ. bài
hát miêu tả Cái Bống giúp mẹ với những việc làm rất khéo léo “ Kéo sẩy kéo sàng..”
và giúp mẹ gánh gồng để chạy cơn mưa. Giáo viên phải giải thích những từ có trong
bài hát, “ Bống” là tên riêng của một cô bé người miền Bắc, ở miền Bắc người ta hay
dùng từ để gọi trước tên riêng là “ Cái”. “ Kéo sẩy kéo sàng” là động tác sàng lúa,
Bống dùng một cái sàng xoay tròn để những hạt lúa lép rơi ra ngoài. Bài ca ca ngợi
tấm long hiều thảo của Bống, tuy còn nhỏ đã biết giúp đỡ bố mẹ làm những công việc
đơn giản. Qua đó giáo viên giáo dục trẻ tình cảm gia đình, là con phải biết yêu thương
kính trọng ông bà, cha mẹ.
Biện pháp 3: Nghe nhạc kết hợp chất liệu múa dân gian
A. Mục đích, ý nghĩa
- Trẻ 5 - 6 tuổi đã có khả năng cảm thụ âm nhạc khá là tốt vì vậy khi cho
trẻ nghe nhạc, giáo viên không đơn thuần chỉ thể hiện điệu bộ, cử chỉ hay múa minh
họa thông qua vài động tác múa đơn giản mà còn phải sử dụng kết hợp chất liệu múa
cơ bản phù hợp với tính chất âm nhạc của tác phẩm ( âm nhạc theo phong cách đồng
bằng thì sử dụng chất liệu múa đồng bằng, tính chất âm nhạc vùng núi thì sử dụng chất
liệu múa vùng núi). Đó sẽ là phương tiện để trẻ nhận biết rõ hơn về nội dung, tính chất
âm nhạc và đặc trưng phong cách của mỗi vùng miền đất nước.
B. Yêu cầu
- Động tác đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện, phù hợp với tính chất âm nhạc của
tác phẩm.
37

37
37

- Lựa chọn tác phẩm ngắn, nội dung phù hợp với chủ đề lựa chọn.
C. Cách làm
- Sử dụng khi mà trẻ đã nắm rõ về nội dung, tính chất âm nhạc của bản nhạc và
tùy từng bản nhạc mới có thể sử dụng biện pháp này.
- Khi sử dụng các bài hát dân ca ĐBBB, tôi sử dụng một số động tác như hái
đào, guộn đèn…
- Khi sử dụng các bài hát dân ca vùng núi, tôi sử dụng một số tổ hợp như mõ
sệt, tổ hợp động tác dân tộc Tày, tổ hợp động tác dân tộc Thái,…
Biện pháp 4: Trẻ được nghe và được trải nghiệm, hóa thân vào các nhân vật
trong bài hát.
A. Mục đích, ý nghĩa

Trẻ em lứa tuổi mẫu giáo đã bắt đầu óc ý thức về bản thân mình, biết phân biệt
mình với người khác trong cộng đồng nhỏ. Không chỉ ở trong hoạt động chơi, mà
trong cả hoạt động học trẻ cũng được trải nghiệm, thỏa mãn nhu cầu của bản thân.
Trong hoạt động âm nhạc, giáo viên dạy hát dân ca, cho trẻ nghe dân ca thì vẫn chưa
đủ, điều quan trọng hơn là cần cho trẻ trải nghiệm, hóa thân thành các nhân vật trong
các bài hát dân ca. Thông qua đó trẻ vừa hứng thú tham gia vào hoạt động âm nhạc,
đồng thời nâng cao khả năng đóng vai, nhập vai, biểu diễn trước người khác của trẻ,
đồng thời khắc sâu trong trẻ những hình tượng về con người từng vùng miền trên đất
nước Việt Nam
B. Yêu cầu

Khi sử dụng biện pháp này, giáo viên cần lưu ý những điểm sau:
- Chú ý đến sự tập trung, khả năng quan sát của trẻ khi xem cô biểu diễn hoặc xem qua
video. Trẻ có hứng thú hay thể hiện, bắt chước các động tác hay không.
- Chuẩn bị đầy đủ trang phục, phụ kiện, đạo cụ cho trẻ.
- Chuẩn bị môi trường, không gian lớp học sạch sẽ, thoáng mát và yên tĩnh.
- Cô giáo động viên, khuyến khích trẻ tự tin thể hiện bản thân.
C. Cách tiến hành
Trước khi dạy trẻ, GV cần lựa chọn bài hát phù hợp với chủ điểm đang học; nội
dung bài hát nói đến nhiều nhân vật, nhiều vai để tạo cơ hội cho trẻ nhập vai.
Ví dụ như bài hát “ Đố bạn” có rất nhiều các nhân vật, loài vật như: khỉ, hươu
sao,voi to, gấu đen… và lời bài hát có diễn tả hành động của các nhân vật rất dễ dàng
cho trẻ để nhập vai ví dụ như: con khỉ thì trẻ có thể làm động tác trèo cây, trẻ sử dụng
hai bàn tay đặt lên trên đầu tạo thành con hươu sao, hai bàn tay để hai bên tai là chú
voi, và tạo dáng đi phục phịch, bệ vệ chính là bác gấu đen.
38

38
38

Hay trong bài hát “ Bà còng đi chợ trời mưa” có rất nhiều nhân vật như: Bà còng,
cái Tôm, cái Tép… trẻ có thể đóng vai, dáng đi lom khom, hơi cúi lưng, tay chống gậy
của bà còng, hay hành động nhảy tung tăng, nhí nhảnh của cái Tôm, cái Tép.
Trước khi trẻ đóng vai, cho trẻ nghe bài hát đó và xem cô hoặc các bạn biểu
diễn trên video 2-3 lần, sau đó sẽ mở nhạc và mời trẻ lên diễn theo cách của trẻ, không
bó buộc, yêu cầu trẻ phải diễn như cô hoặc các bạn diễn mà trẻ diễn theo cảm
nhận,cảm xúc của mình.
Ban đầu, cô mời những bạn muốn thể hiện bản thân, tự tin đứng trước đám đông
lên trước. trong khi xem các bạn ở phía trên biểu diễn, cô khuyến khích, động viên những
ban đang ngồi ở dưới xem các bạn biểu diễn lát sau lên thể hiện. Cô cố gắng tạo điều kiện
cho tất cả các bạn được trải nghiệm, được hóa thân, được thể hiện mình.
3.4. Thực nghiệm và phân tích kết quả thực nghiệm
3.4.1.Địa bàn và đối tượng thực nghiệm
A. Địa bàn
- Trường MN Thị Trấn Lâm
B. Đối tượng thực nghiệm
- Chọn lớp MGL với số lượng 30 trẻ: 15 trẻ nhóm ĐC và 15 trẻ nhóm TN
3.4.2.Mục đích thực nghiệm
Thực nghiệm để kiểm chứng những cơ sở lí luận, phương pháp, biện pháp
nân cao sự hứng thú cho trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động nghe dân ca. Từ đó đóng
góp những đề xuất, ý kiến để chương trình âm nhạc ở trường mầm non ngày càng
hoàn thiện hơn và tiến tới nâng cao khả năng cảm thụ âm nhạc của trẻ.
3.4.3. Nội dung thực nghiệm
Tiến hành TN 4 biện pháp đã đề xuất

39

39
39

3.4.4. Các tiêu chí và thang đánh giá
3.4.5. Các điều kiện tiến hành thực nghiệm
• Điếm giống nhau giữa nhóm ĐC và TN là:
- Trẻ ở 2 nhóm TN và ĐC được chọn ngẫu nhiên, tương đương nhau về mức độ
cảm thụ âm nhạc, VĐTN, đặc điểm sinh lí, sức khỏe.
- Các trẻ cùng một lớp, cùng GV và môi trường GD
• Sự khác biệt giữa 2 nhóm TN và ĐC là:
- Ở nhóm TN, tôi tiến hành dạy trẻ theo 4 biện pháp mà tôi đã đề xuất
- Ở nhóm ĐC, GV dạy trẻ những biện pháp mà họ thường sử dụng
3.4.6. Quy trình tổ chức thực nghiệm: 3 giai đoạn
Giai đoạn 1: Chúng tôi kiểm tra đo và đánh giá xếp loại mức độ biểu hiện của
trẻ thông qua việc tổ chức cho trẻ nghe nhạc dân ca theo phương pháp và biện pháp
thông thường
Hình thức tổ chức: Tổ chức dưới hình thức kết hợp với hoạt động dạy hát và
trò chơi âm nhạc ( Hoạt động nghe hát là hoạt động trọng tâm)
Phương pháp: Trực quan, dùng lời
Cách thức tiến hành:
- Cô giới thiệu tên bài hát và nhạc sĩ sáng tác
- Cô mở nhạc cho trẻ nghe
- Cô hỏi tên bản nhạc/ bài hát và nhạc sĩ
- Cô hỏi trẻ về nội dung bản nhạc/ bài hát
- Cô cho trẻ nghe lại bản nhạc/ bài hát
- Cô đàm thoại về giai điệu bản nhạc/ bài hát
- Cô cho trẻ nghe lại một lần nữa.
Giai đoạn 2: Tổ chức thực nghiệm, lên kế hoạch và thiết kế giáo án tiến hành tổ
chức cho trẻ MG 5-6 tuổi hoạt động nghe dân ca trong hoạt động GDAN trên hoạt
động học theo 4 biện pháp đã đề xuất và xin ý kiến, trao đổi với các chị GV chủ nhiệm
lớp để được tiến hành tổ chức. Còn nhóm ĐC vẫn hoạt động bình thường ( các GV vẫn
sử dụng những biện pháp cũ mà các chị thường sử dụng).
Giai đoạn 3: Cho trẻ cả hai lớp ĐC và TN nghe những bài hát, bản nhạc giống
nhau, sau đó đánh giá theo thang đánh giá ở giai đoạn 1.
3.4.7. Kết quả thực nghiệm
3.4.7.1 Kết quả khảo trước TN
- Kết quả chung về mức độ hứng thú của trẻ MG 5-6 tuổi trong hoạt động
nghe dân ca thể hiện bảng và biểu đồ
Bảng3.1. Mức độ hứng thú của trẻ MG 5-6 tuổi trong hoạt động nghe dân ca ở
nhóm ĐC và TN trước khi thực nghiệm
Mức độ
Nhóm
ĐC
TN
40

Giỏi
SL
1
0

%
6,66
0,00

Khá
SL
2
4

%
13,33
26,67
40
40

TB
SL
9
10

%
60
66,67

Yếu
SL
%
3
20,01
1
6,66

Thể hiện bằng biểu đồ:
Biểu đồ 3.1. So sánh mức độ hứng thú của 2 nhóm ĐC và TN trước khi thực nghiệm
Nhận xét: Nhìn vào biểu đồ ta thấy kết quả trước TN của 2 nhóm ĐC và TN là
khá thấp, tập trung ở mức độ chủ yếu là TB. Cụ thể là chỉ 19,99 % trẻ ở nhóm ĐC và
26,67 % trẻ ở nhóm TN đạt mức độ thực hiện giỏi và khá. Số trẻ có mức độ thực hiện
TB và thấp chiếm đến 80,01% và 73,33 % lần lượt ở nhóm ĐC và TN.
Nhóm đối chứng có 1 trẻ đạt mức độ giỏi trong khi nhóm TN không có trẻ nào.
Số trẻ có mức độ khá ở nhóm ĐC thấp hơn 1/2 so với nhóm TN. Tuy nhiên mức độ
TB của nhóm TN và ĐC là tương đương nhau ( 60% và 66,66%).. Mặc dù vậy điểm
trung bình của hai nhóm vẫn tương đối thấp chỉ đạt ở khoảng giữa của mức độ TB
( Mức TB là 5- 6,5 điểm). Độ chênh lệch của hai nhóm gần tương đương nhau.
Số trẻ có mức độ Yếu ở nhóm Đc còn tương đối nhiều, chiếm 20,01 % trong khi nhóm
TN chiếm 6,66%.
Nguyên nhân của kết quả trên có thể lí giải bởi những vấn đề sau: Trẻ được tiếp
xúc với nhạc dân ca, tuy nhiên cách giảng dạy của giáo viên còn nhàm chán, ít đầu tư
thòi gian vào việc chuẩn bị, lên tiết dạy nên ít gây hứng thú cho trẻ.
Biểu đồ 3.2. Biểu đồ phân bố tần số mức độ thực hiện VĐ nhịp điệu
của trẻ trước thực nghiệm
Qua biểu đồ phân bố tần số mức độ hứng thú của trẻ trước khi thực nghiệm ta
dễ thấy điểm số của nhóm ĐC và nhóm TN là tương đương nhau (2 đường màu xanh
và màu đỏ lúc ở trên lúc ở dưới).
Đồng thời nhìn vào biểu đồ ta nhận thấy sự không đồng đều của các trẻ trong
cùng một nhóm: Có những trẻ đạt mức độ giỏi có điểm rất cao nhưng cũng có những
trẻ đạt mức độ thực hiện yếu có điểm rất thấp. Dạng đồ thị biểu diễn điểm số của các
trẻ thuộc hai nhóm là đồng dạng. Điều đó chứng tỏ mức độ hứng thú nghe nhạc dân ca
của trẻ nhóm ĐC và TN là tương đương nhau, tập trung chủ yếu ở mức độ TB.
Kết quả khảo sát sau TN
Bảng 3.2. Mức độ hứng thú nghe nhạc dân ca
của nhóm trẻ ĐC và TN sau thực nghiệm
Mức độ
Nhóm
ĐC
TN

41

Giỏi
SL
1
2

%
6,66
13,33

Khá
SL
5
11

%
33,34
73,34

41
41

Trung bình
SL
%
9
60,00
2
13,33

Yếu
SL
%
0
0,00
0
0,00

Thể hiện bằng biểu đồ
Biểu đồ 3.3. So sánh mức độ thực hiện các động tác VĐ nhịp điệu của nhóm ĐC
và nhóm TN sau thực nghiệm
Nhận xét:
Kết quả kiểm tra sau TN cho thấy có sự tiến triểm tốt về kết quả TB tổng điểm,
của 4 tiêu chí của trẻ so với trước TN, cụ thể:
- Mức độ giỏi: Nhóm ĐC đạt 6,66%, nhóm TN đạt 13,33%
- Mức độ khá: Nhóm ĐC đạt 33,34%, nhóm TN đạt 73,34%
- Mức độ TB: Nhóm ĐC đạt 60%, nhóm TN đạt 13,33%
- Mức độ yếu: Cả là 2 nhóm ĐC và TN đều đạt 0%.
Kết quả trên cho thấy sau TN, số trẻ ở nhóm TN đạt mức độ giỏi và khá đạt
86,67%. Số trẻ ở mức độ TB giảm đáng kể và không còn mức độ yếu.
Qua biểu đồ cho thấy hứng thú của trẻ đạt mức độ giỏi và khá tăng lên rõ rệt. Cụ thể,
13,33% trẻ ở mức độ thực hiện giỏi ở nhóm TN, gấp đôi so với nhóm ĐC và đồng
thời cũng tăng lên 13,33% so với trước TN. Số trẻ đạt mức độ thực hiện khá tăng lên
từ 26,67% lên 73,34%, cao hơn nhóm đối chứng sau TN là 46,67%. Số trẻ nhóm TN ở
mức độ TB giảm đáng kể so với trước TN từ 66,67% còn 13,33%. Đáng lưu ý, là trẻ ở
mức độ yếu đã không còn.
Kết quả trên cho thấy, sự hứng thú của trẻ đã tăng lên rõ rệt sau TN, có kết quả
trên là do GV đã sử dụng các biện pháp tạo được hứng thú cho trẻ, trẻ tích cực hoạt
động hơn.
Cụ thể mức độ hứng thú của nhóm ĐC và TN sau thực nghiệm được biểu hiện
cụ thể qua biểu đồ sau:
Biểu đồ 3.4. Biểu đồ phân bố mức độ hứng thú của nhóm ĐC và TN sau thực nghiệm
Biểu đồ phân bố tần số trên cho thấy mức độ hứng thú nghe dân ca của trẻ ở
nhóm TN sau khi tác động đã có sự tăng lên đáng kể. Cụ thể là đường màu đỏ ít
biến động hơn, chia thành các mức rõ rệt tập trung chủ yếu ở mức độ khá, mức độ
giỏi tăng lên rõ rệt. Điều đó chứng tỏ mức độ hứng thú nghe dân ca của các trẻ
nhóm TN khá đồng đều (chủ yếu trẻ đạt điểm 7). Đa phần đường biểu diễn của
nhóm ĐC bên dưới đường biểu diễn điểm số của nhóm TN. Điều đó đã chứng tỏ
mức độ hứng thú nghe dân ca của nhóm trẻ TN đã được phát triển hơn khi được tác
động các biện pháp đề xuất.
Nhận xét chung: Tôi đã tiến hành làm TN trên 4 đề tài:
1. Nghe hát bài “ Bà còng đi chợ trời mưa” – Đồng dao, nhạc Phạm Tuyên.
42

42
42

2. Nghe hát bài “ Cái Bống” – nhạc Phan Trần Bảng.
3. Nghe hát bài “ Đi cấy” – Dân ca Thanh Hóa
4. Nghe hát bài “ Xòe hát” – Dân ca Thái.

Nhìn chung các đề tài đều khá quen thuộc, gần gũi, có nội dung phù hợp với
khả năng tiếp thu của trẻ nên đã tạo được hứng thú đối với trẻ. Tuy nhiên, với các biện
pháp tác động khác nhau, ở 2 nhóm đã có sự chênh lệch. Điều này cho thấy hiệu quả
của những biện pháp cụ thể mà tôi đề xuất và áp dụng trong quá trình tổ chức nghe
dân ca cho trẻ 5-6 tuổi nhằm nâng cao hứng thú nghe dân ca là có những phù hợp
riêng và có hiệu quả, có tính khả thi.

Kết luận chương 3
Từ những kết quả đã thu được trong quá trình TN, tôi đã rút ra được những kết
luận sau:
Trước TN mức độ hứng thú của trẻ MG 5-6 tuổi ở cả 2 nhóm ĐC và TN là
tương đối như nhau và đều chưa cao, chủ yếu là ở mức độ TB. Sau TN, mức độ hứng
thú của trẻ MG 5-6 tuổi ở nhóm TN đã cao hơn nhóm ĐC, trong đó tập trung ở mức độ
khá, mức độ TB đã giảm hẳn, đặc biệt là mức độ giỏi đã có 2 trẻ và không còn trẻ nào
ở mức độ yếu.
Kết quả TN đã thấy được tính phù hợp, hiệu quả và khả thi của các biện pháp
đã đề xuất. Giả thiết khoa học của đề tài đã được kiểm chứng. Tuy nhiên các biện pháp
này cần phải sử dụng nhiều hơn, sử dụng linh hoạt, sáng tạo và phối hợp với nhau thì
hiệu quả của việc nâng ca hứng thú cho trẻ MG 5-6 tuổi trong hoạt động nghe dân ca
được cao.

43

43
43

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM
1. KẾT LUẬN

Từ những kết quả nghiên cứu lí luận, thực tiễn và qua thực nghiệm tôi đã rút ra
được một số kết luận sau:
Hoạt động nghe nhạc nói chung và hoạt động nghe dân ca nói riêng cho trẻ
MGL có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với trẻ. Dân ca rất phong phú, đa dạng, ngoài
chức năng phục vụ đời sống tinh thần của con người nó còn góp phần hoàn thiện nhân
cách cho trẻ.
Việc cho trẻ tìm hiểu các làn điệu dân ca không chỉ dừng lại ở việc trẻ biết hát,
biết tên bài hát, hát đúng cao độ của bài hát mà trẻ còn phải hiểu được nguồn gốc xuất
xứ cũng như nét đẹp tâm hồn, cốt cách của con người Việt Nam trong những làn điệu,
bài hát mà trẻ được nghe. Đồng thời trẻ thể hiện được niềm say mê, hứng thú, yêu
thích đối với bài hát, tác phẩm được nghe qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ hay là biết …..
Trẻ 5-6 tuổi đã hoàn toàn có thể lĩnh hội và thực hiện các động tác VĐ nhịp
điệu trong chương trình GDAN trên hoạt động học ở trường MN. Nhưng trên thực tế
trong quá trình tổ chức, GV chưa sử dụng nhiều các hình thức dạy khác nhau, các biện
pháp sáng tạo, chưa có sự đầu tư, chuẩn bị vào tiết dạy. Có sử dụng cũng chỉ là rất ít vì
thế cần chú ý đến việc tạo hứng thú, phát triển khả năng cảm nhận, sự sáng tạo của trẻ
khi tham gia hoạt động như vậy sự hứng thú của trẻ khi nghe nhạc dân ca sẽ đạt hiệu
quả cao hơn.
Việc xây dựng một số biện pháp nhằm nâng cao hứng thú nghe dân ca cho trẻ
MG 5-6 tuổi phải dựa trên cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề nghe dân ca trên lớp.
Tôi đã đề xuất và thực nghiệm 4 biện pháp tổ chức nâng cao hiệu quả trong hoạt động
VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi như sau:
- Biện pháp 1: Nghe hát kết hợp sử dụng đồ dùng trực quan: băng đĩa, đạo cụ,
trang phục theo vùng miền
- Biện pháp 2: Phân tích giảng giải, giúp trẻ hiểu được nội dung và ngôn ngữ
riêng của bài hát
- Biện pháp 3: Nghe nhạc kết hợp chất liệu múa dân gian
- Biện pháp 4: Trẻ được nghe và được trải nghiệm, hóa thân vào các nhân vật
trong bài hát.
Kết quả TN cho thấy các biện pháp đề xuất có hiệu quả và có tính hợp lý, tính
khả thi. Tuy nhiên, trong khi tổ chức cho trẻ nghe dân ca cần phải chọn lựa sao cho
phù hợp và cần có sự linh hoạt, sáng tạo giữa các biện pháp để đạt hiệu quả cao.
2. KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM
Từ những kết luận trên, tôi đưa ra một số kiến nghị sư phạm sau đây:

44

44
44

Đối với các cấp lãnh đạo, nhà trường
- Cần tạo điều kiện để GV được học tập và nâng cao trình độ chuyên môn. Và
cần tổ chức các buổi tập huấn, trao đổi kinh nghiệm giữa các GV, có kế hoạch sử dụng
và phát huy năng khiếu âm nhạc của các GV.
- Luôn khuyến khích GV trong mọi việc như khả năng sáng tạo, áp dụng
phương pháp mới, tạo nhiều cơ hội cho trẻ được thực hành, trải nghiệm.
- Đảm bảo số lượng trẻ trong nhóm, trong lớp theo quy định để đạt kết quả cao hơn
- Cần có sự hợp tác, tuyên truyền cho các phụ huynh về chương trình để huy
động xây dựng cơ sở vật chất như có phòng học múa riêng, ủng hộ đồ dùng, nguyên
liệu đa dạng, trang phục biểu diễn để làm phong phú cho hoạt động nghệ thuật của
trường, của lớp.
- Cần có sự quan tâm đến GVMN nhiều hơn để họ tìm tòi, sưu tầm tài liệu,
nguyên liệu có sẵn tại địa phương..để phục vụ cho công tác chuyên môn.
 Đối với giáo viên mầm non:
- GV cần nâng cao ý thức tự học hỏi, trau dồi kiến thức chuyên môn, luôn vận
dụng linh hoạt, sáng tạo các biện pháp trong quá trình GDAN trên hoạt động học, bên
cạnh đó cần tạo được mối quan hệ gần gũi giữa nhà trường và gia đình trẻ trong việc tổ
chức các hoạt động nghe nhạc nói chung cũng như nghe dân ca nói riêng cho trẻ.
- GV cần có năng khiếu, kiến thức âm nhạc vì hiệu quả giáo dục ảnh hưởng trực
tiếp tới trẻ. Bên cạnh đó, GV cần biết rõ những đặc điểm nguồn gốc, ý nghĩa của các
bài dân ca … để có những phương pháp, biện pháp vận dụng hợp lý và đặc biệt là cần
biết truyền đạt, biết thể hiện hấp dẫn và gây hứng thú với trẻ.
- GV cần tích lũy những kinh nghiệm vốn có như cách dạy học truyền thống kết
hợp với việc lập kế hoạch tổ chức hiện đại như máy tính, máy chiếu, đĩa nhạc….
Kết hợp với các nguyên liệu có sẵn, dễ tìm ở địa phương.
- Khi tổ chức cần lựa chọn những bài hát vừa sức, vừa phải, dễ thuộc, những
động tác vận động nhịp điệu đơn phù hợp với khả năng của trẻ, có thể tăng tính hứng
thú của trẻ như cho trẻ nghe dân ca mọi lúc, mọi nơi như giờ hoạt động ngoài trời, có
thể tổ chức các trò chơi bằng cách kết hợp nhiều các dạng hình tiết tấu khác nhau như
thế phát triển tai nghe âm nhạc cho trẻ…
- GV cần khơi gợi sự sáng tạo của trẻ, để trẻ thể hiện sáng tạo và chủ động đối
với những ý tưởng của mình. Điều này đòi hỏi GV phải tôn trọng, tin tưởng ở trẻ, như
thế giúp trẻ có được tâm lí tự tin, thúc đẩy sự phát triển ở trẻ.
- Đồng thời GV cần thực hiện tốt công tác tuyên truyền với phụ huynh về việc
tạo cơ hội cho trẻ làm quen với dân ca nhiều hơn và phát triển khả năng cảm thụ âm
nahcj của trẻ trong hoạt động GDAN trên hoạt động học.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1.Phạm Thị Hòa (2010), Giáo dục âm nhạc, Tập 1,2; NXB Đại học Sư phạm

45

45
45