Tải bản đầy đủ
KỸ THUẬT LƯU LƯỢNG TRONG MPLS

KỸ THUẬT LƯU LƯỢNG TRONG MPLS

Tải bản đầy đủ

của đường truyền, năng lực chuyển mạch của thiết bị, tỉ lệ mất gói trung bình,…
Trong đó băng thông là một tài nguyên cốt yếu của mạng, do đó chức năng trọng
tâm của kỹ thuật lưu lượng hướng tài nguyên là quản lý và đưa ra các phương
thức điều khiển lưu lượng để sử dụng hiệu quả tài nguyên này.
2.1.2. Bài toán tắc nghẽn và kỹ thuật lưu lượng
Tắc nghẽn là tình huống xảy ra trong mạng khi khả năng truyền tải lưu
lượng của mạng không đáp ứng được nhu cầu truyền tải lưu lượng đi qua mạng
đó. Tắc nghẽn có thể xảy ra do các nguyên nhân mang tính vật lý như liên kết,
node và cũng có thể xảy ra do các nguyên nhân mang tính logic, điều khiển:
• Tắc nghẽn xảy ra trên một liên kết khi tốc độ truyền tải vật lý của liên kết
không đáp ứng được dung lượng dữ liệu truyền tải yêu cầu trên liên kết
đó. Tắc nghẽn cũng có thể xảy ra trong nội bộ một thiết bị khi năng lực
chuyển mạch của thiết bị không đáp ứng được yêu cầu. Năng lực chuyển
mạch của thiết bị phụ thuộc vào trường chuyển mạch của thiết bị đó.
• Tắc nghẽn xảy ra khi các dòng lưu lượng được ánh xạ không hiệu quả lên
các tài nguyên làm cho một số tập con các tài nguyên luôn luôn phải hoạt
động với cường độ tải cao trong khi đó số khác hoạt động rất ít hoặc thậm
chí không hoạt động. Tắc nghẽn loại này thường xảy ra do sự hoạt động
không tối ưu của các giao thức điều khiển như các giao thức định tuyến,
báo hiệu.
Để giải quyết bài toán tắc nghẽn, ta có thể giải quyết theo hai hướng sau:
• Tăng cường dung lượng, tốc độ vật lý của các liên kết, mở rộng năng lực
xử lý của các node trên mạng, hoặc ứng dụng các phương thức của kỹ
thuật lưu lượng hướng lưu lượng (Traffic-Oriented).
• Sử dụng kỹ thuật lưu lượng hướng tài nguyên (Resource-Oriented) để điều
chỉnh các ánh xạ giữa lưu lượng và tài nguyên trong mạng từ đó cấp phát
các tài nguyên sao cho tối ưu và hiệu quả cao.
Ta trở lại với vấn đề với Topology hình con cá kinh điển thể hiện bài toán
tắc nghẽn với hình 2.1.

25

Hình 2.1: Bài toán tắc nghẽn
Trong Topology này có hai đường truyền dữ liệu từ R2 tới R6
 R2→R5→R6 với Total-Cost=45
 R2→R3→R4→R6 với Total-Cost=60
Do tất cả các liên kết đều có chung giá trị Cost=15, với cơ chế định tuyến
truyền thống dựa trên địa chỉ đích, tất cả các luồng lưu lượng đến từ R1 hay R7
mà có đích đến là R6 sẽ đều được R2 truyền tải ra giao diện R2→R5 do đường
truyền này có giá trị Cost tổng cộng nhỏ nhất.
Giả sử tất cả các liên kết đều có tốc độ 155Mbps, các đường truyền có
băng thông tối đa là 150Mbps. Nếu lưu lượng truyền tải R1→R6 có dung lượng
90Mbps và R7→R6 có dung lượng 100Mbps, như vậy R2 sẽ cố gắng đưa khối
dung lượng tổng cộng 190Mbps xuống đường truyền R2→R5 tốc độ 150Mbps.
Với cơ chế chuyển mạch thông thường R2 sẽ phải hủy một khối dữ liệu dung
lượng 40Mbps trong tổng dung lượng đưa xuống vì dung lượng 190Mbps không
thể được truyền trên đường 150Mbps một cách “vừa vặn”.
Kỹ thuật lưu lượng hướng lưu lượng có thể được triển khai để giảm thiểu
khối dung lượng bị hủy nhỏ hơn 40Mbps có phép hủy gói tin có lựa chọn bằng
các phương thức hàng đợi, các phương thức giảm thiểu nghẽn, các phương thức
điều chỉnh lưu lượng, và các phương thức phân mảnh/chèn.
Với điều kiện bùng nổ lưu lượng tạm thời, kỹ thuật lưu lượng hướng lưu
lượng hoàn toàn có thể trở thành một giải pháp hợp lý cho mạng, tuy nhiên trong
điều kiện bùng nổ lưu lượng thường xuyên xảy ra thì kỹ thuật này không thể giải
quyết triệt để vấn đề tắc nghẽn. Kỹ thuật lưu lượng hướng tài nguyên là giải pháp

26

cho vấn đề tắc nghẽn kéo dài hay thường xuyên xảy ra tại một khu vực nào đó
trong mạng trong khi các khu vực khác hoạt động dưới hiệu năng khả dụng.
2.1.3. Kỹ thuật lưu lượng trong MPLS
Kỹ thuật lưu lượng MPLS-TE là một trong những ứng dụng nâng cao của
chuyển mạch nhãn MPLS, mang nhiều ưu điểm vượt trội so với kỹ thuật lưu
lượng truyền thống tại lớp liên kết dữ liệu hay tại lớp mạng. Trong miền chuyển
mạch MPLS được triển khai kỹ thuật lưu lượng MPLS-TE, các LER/LSR định
tuyến/chuyển mạch theo chuyển mạch nhãn MPLS với ứng dụng kỹ thuật lưu
lượng MPLS-TE với mục tiêu điều khiển đường dẫn lưu lượng phù hợp với
thuộc tính của luồng lưu lượng.
MPLS-TE sử dụng các đường hầm hay còn gọi là các trung kế lưu lượng
(CR-LSP/TE-LSP) để điều khiển đường dẫn lưu lượng.
Một đường hầm MPLS-TE là một tập hợp các luồng lưu lượng có cùng
chung các thuộc tính và có cùng một Ingress-LER và một đầu ra Egress-LER.
Một đường hầm MPLS-TE được gán vào một đường dẫn đơn hướng LSP bằng
cách so sánh các thuộc tính yêu cầu của đường hầm này với các thuộc tính của
các đường dẫn LSP khả dụng, được thực hiện bởi các thuật toán tính toán và thiết
lập đường ràng buộc.
Như trên hình 2.2, các bộ định tuyến trong miền MPLS-TE trao đổi thông
tin ràng buộc về liên kết, sau đó PE1 tùy vào thuộc tính ràng buộc yêu cầu của
lưu lượng từ CE1 và CE2 mà xây dựng CR-LSP 1 và CR-LSP 2 là các LSP ràng
buộc, sau đó chọn lựa đường đi phù hợp nhất cho các luồng lưu lượng.

Hình 2.2: Kỹ thuật lưu lượng trong MPLS

27

2.2. Kỹ thuật lưu lượng MPLS-TE
2.2.1. Sự cần thiết của MPLS-TE
Định tuyến trong mạng IP truyền thống chịu ảnh hưởng bởi nhu cầu cần
thiết phải đưa lưu lượng truyền tải qua mạng càng nhanh càng tốt, và tiêu chí để
lựa chọn tuyến đường thường chỉ dựa vào nguyên lý đường dẫn có chi phí tổng ít
nhất.
Mỗi giao thức định tuyến IP truyền thống gắn một giá trị chi phí (Cost)
cho mỗi đường truyền trong mạng hoặc tính toán số chặng (Hop Count) cần phải
truyền từ nguồn đến đích. Tham số chi phí này là cố định tùy theo băng thông
của đường truyền, nếu đường truyền có băng thông cao, chi phí sẽ thấp và ngược
lại nếu đường truyền có băng thông thấp, chi phí sẽ cao hơn. Chi phí tổng cộng
và số chặng tổng cộng sẽ là tiêu chuẩn để xác định tuyến đường tối ưu nhất đến
một mạng.
Cơ chế truyền tải trong mạng IP truyền thống dựa trên việc truyền tải lưu
lượng lên tuyến đường tối ưu nhất, hơn nữa các gói tin IP được truyền tải qua
mỗi node thường chỉ dựa trên địa chỉ IP đích và độc lập với các node khác.
Cơ chế truyền tải trong mạng IP không quan tâm tới băng thông hiện thời
thực sự của từng đường truyền, giá trị chi phí Cost thường được gắn cho băng
thông truyền tải cao nhất tương ứng với thời điểm đường truyền rảnh rỗi nhất,
tuy nhiên chi phí Cost này vẫn giữ nguyên ngay cả khi băng thông truyền tải thực
sự của đường truyền giảm xuống ứng với thời điểm đường truyền đang phải làm
việc.
Do vậy với cơ chế truyền tải IP truyền thống, một bộ định tuyến có thể
vẫn truyền tải gói tin IP tới một mạng đích lên một đường truyền ngay cả khi
đường truyền này đã phải thực hiện hủy gói tin do thiếu băng thông cần thiết để
ghép tất cả các luồng lưu lượng lên đó do ban đầu bảng định tuyến đã lựa chọn
đường truyền này là tối ưu nhất.
Và kết quả của cơ chế định tuyến này là có một số đường truyền trong
mạng thường xuyên phải hoạt động trong tình trạng quá tải nhưng trong khi đó

28

lại có một số đường truyền khác thường xuyên được sử dụng rất ít hoặc thậm chí
không được sử dụng.
Nhưng như đã đề cập ở trên, các phương thức kỹ thuật lưu lượng hướng
lưu lượng có thể được triển khai để giải quyết vấn đề này, nhưng các phương
thức đó chỉ giải quyết vấn đề bùng phát lưu lượng trong thời điểm ngắn và tạm
thời.
Một phương thức khác là mở rộng băng thông của đường truyền vật lý,
tuy nhiên phương thức này đòi hỏi thời gian và chi phí tốn kém. Các nhà quản trị
có thể điều chỉnh giá trị Cost của các đường truyền trong mạng nhằm thực hiện
cơ chế cân bằng tải giữa các đường truyền có chi phí tương đương nhau, tuy
nhiên phương thức này đòi hỏi yêu cầu về cấu hình giá trị Cost cho từng đường
truyền trong mạng, một công việc rất tốn kém thời gian và phức tạp.
Kỹ thuật chuyển mạch MPLS ra đời đã khắc phục được một số nhược
điểm của cơ chế định tuyến/chuyển mạch IP truyền thống, trong đó vấn đề giải
quyết bài toán về lưu lượng đã được xử lý một cách rất hữu hiệu bằng ứng dụng
kỹ thuật lưu lượng MPLS-TE (MPLS Traffic Engineering). MPLS-TE mang
những đặc tính sau:
-

MPLS-TE mang lại khả năng trải rộng lưu lượng lên các đường truyền
một cách hiệu quả, loại trừ tối đa các đường truyền quá tải và các đường

-

truyền rảnh rỗi.
MPLS-TE không những quan tâm đến giá trị chi phí Cost của từng đường
truyền như định tuyến IP truyền thống, mà còn quan tâm đến một tập
phong phú các thuộc tính của mỗi đường truyền (trễ, biến động trễ, băng
thông khả dụng hiện thời,…) trong quá trình tính toán đường truyền cho

-

lưu lượng tại một thời điểm.
MPLS-TE thích ứng một cách tự động đối với sự thay đổi của các thuộc

-

tính của đường truyền.
MPLS-TE cho phép ứng dụng định tuyến dựa trên nguồn SBR (Sourcebased Routing) và định tuyến theo chất lượng dịch vụ QoS.

29

2.2.2. Tổng quan về cơ chế hoạt động của MPLS-TE
Kỹ thuật chuyển mạch MPLS cần được triển khai trong mạng trước khi
ứng dụng kỹ thuật lưu lượng MPLS-TE có thể được sử dụng. Trong hệ thống
mạng sử dụng kỹ thuật MPLS, một LER xây dựng các đường dẫn đơn hướng
LSP tới các LER còn lại, các LSR trong khu vực mạng lõi chỉ thực hiện quá trình
chuyển mạch nhãn MPLS.
Kỹ thuật lưu lượng MPLS-TE cho phép thực hiện kỹ thuật lưu lượng khi
LSR ở đầu nguồn của một đơn dẫn đơn hướng LSP tính toán đường dẫn hiệu quả
nhất qua mạng để truyền lưu lượng tới LSR ở đầu xa của LSP đó.
Để thực hiện được điều này LSR ở đầu nguồn cần nắm được đồ hình
trạng thái của toàn bộ mạng cũng như thuộc tính về băng thông khả dụng hiện
thời và các thuộc tính khác của từng liên kết trong mạng.
Do đó giao thức định tuyến được sử dụng giữa các đầu cuối MPLS-TE
hay giữa LSR đầu nguồn và LSR đầu cuối của một LSP bắt buộc phải là giao
thức định tuyến dạng Link-State. Đối với loại giao thức định tuyến này, mỗi
LER/LSR xây dựng trạng thái của mỗi liên kết gắn trực tiếp với nó và truyền
thông tin trạng thái này tới các LER/LSR trong nội vùng Area, điều này cũng có
nghĩa rằng tất cả các LER/LSR trong nội vùng sẽ nắm được đồ hình trạng thái
của mạng và các thuộc tính của liên kết trong vùng đó.
Kỹ thuật chuyển mạch MPLS cho phép định tuyến theo nguồn SBR, LSR
tại đầu nguồn của LSP sẽ có quyền sử dụng LSP nào để tới được LSR tại đầu ra.
LSP này được gọi là LSP đã được lưu lượng hóa hay còn gọi là trung kế lưu
lượng hoặc đường hầm TE. Các lưu lượng có chung các đặc tính được ghép vào
trong một trung kế lưu lượng được điều khiển bởi nhà quản trị mạng. Các lưu
lượng này sẽ được truyền tải từ Headend-LSR tới Tailend-LSR theo một LSP
phù hợp tại mỗi thời điểm.
Ba vấn đề cơ bản trong vấn đề thực hiện kỹ thuật lưu lượng của kỹ thuật
lưu lượng MPLS-TE là:
-

Ánh xạ loại lưu lượng lên các lớp chuyển tiếp tương đương (FEC).
Ánh xạ các FEC lên các lớp trung kế lưu lượng (Traffic Trunk).

30

-

Ánh xạ các trung kế lưu lượng lên Topology mạng vật lý thông qua các
LSP ràng buộc.
Để thực hiện bài toán cơ bản của MPLS-TE, các thành phần của kỹ thuật

lưu lượng MPLS-TE được triển khai trong mạng bao gồm:
-

Các thông tin ràng buộc của liên kết (băng thông tối đa, băng thông khả

-

dụng hiện thời, trễ, biến động trễ, …).
Phân phối thông tin ràng buộc của liên kết bởi các giao thức định tuyến

-

Link-State mở rộng cho MPLS-TE.
Khởi tạo các trung kế lưu lượng tại các Ingress-LER.
Thuật toán tính toán đường dẫn ràng buộc từ LER đầu nguồn tới LER đầu

-

ra (PCALC hay CSPF).
Giao thức báo hiệu và thiết lập đường dẫn ràng buộc (RSVP-TE hoặc CR-

-

LDP).
Phương thức ghép lưu lượng lên đường dẫn ràng buộc.

Hình 2.3: Tổng quan cơ chế hoạt động của MPLS-TE
Nguyên tắc hoạt động cơ bản của MPLS-TE là định tuyến hoặc hướng lưu
lượng trên mạng dựa trên các tài nguyên hay các thông tin ràng buộc. Các thông
tin ràng buộc này là các đặc tính của từng liên kết trong mạng như băng thông tối
đa, băng thông khả dụng hiện thời, trễ, biến động trễ, … hoặc các thông tin được
xác lập bởi nhà điều hành mạng, MPLS-TE cho phép xác lập số lượng đặc tính
lên tới hơn 32 đặc tính.
Các thông tin ràng buộc này được cấu hình trên từng liên kết và được
quảng bá bởi các giao thức định tuyến Link-State mở rộng cho MPLS-TE như
OSPF-TE hoặc ISIS-TE. Các LER sẽ thu thập tất cả các thông tin ràng buộc và

31

xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin ràng buộc lưu trữ tất cả các thuộc tính của từng
liên kết.
Tại các Headend-LSR, các trung kế lưu lượng được khởi tạo với các thuộc
tính ràng buộc yêu cầu, các luồng lưu lượng có chung các đặc điểm được đưa vào
cùng một trung kế lưu lượng. Từ cơ sở dữ liệu về thông tin ràng buộc, thuật toán
tính toán được ràng buộc CSPF – Constrained Shortest Path First sẽ so sánh
thuộc tính yêu cầu của trung kế lưu lượng và của các đường dẫn đơn hướng LSP
từ Headend-LSR tới Tailend-LSR để tính toán đường dẫn ràng buộc tối ưu nhất
đảm bảo tất cả các thuộc tính yêu cầu của trung kế lưu lượng.
Thuật toán CSPF là một dạng của thuật toán SPF được sử dụng trong các
giao thức định tuyến nội miền Link-State như OSPF hay IS-IS. Tuy nhiên CSPF
được chỉnh sửa để đưa các thông tin ràng buộc trở thành các thành phần trong
quá trình tính toán. Tiêu chí chọn đường cơ bản cho một trung kế lưu lượng của
thuật toán CSPF là chọn đường tối ưu nhất trong số tất cả các đường có tất cả các
thuộc tính thỏa mãn yêu cầu của trung kế lưu lượng đó.
Các thiết bị định tuyến LSR trong khu vực mạng lõi thực hiện thủ tục tráo
đổi nhãn tới bằng một nhãn ra tương ứng, các LSR cần được biết các nhãn tráo
đổi tương ứng với một trung kế lưu lượng cụ thể. Và chúng chỉ có thể nhận biết
được các nhãn này thông qua các giao thức báo hiệu và thiết lập đường dẫn ràng
buộc RSVP-TE hoặc CR-LDP.
Các phiên bản mở rộng của các giao thức RSVP và LDP dành cho MPLSTE cho phép chúng có thể mang các thông tin về nhãn tương ứng với một trung
kế lưu lượng cụ thể và một số các đặc tính khác như ER (Explicit-Route) hay RR
(Record-Route).
RSVP-TE thiết lập và báo hiệu cho một trung kế lưu lượng từ LSR ở đầu
nguồn (Headend-LSR) tới LER ở đầu ra (Tailend-LSR) dọc theo đường dẫn đã
được tính toán bởi CSPF tại Headend-LSR. RSVP-TE thực hiện thủ tục báo hiệu
và thiết lập nhãn tại mỗi node dọc đường dẫn này.
Bản tin RSVP-PATH được gửi theo đường dẫn từ Headend-LSR tới
Tailend-LSR mang theo yêu cầu thiết lập đường cho một trung kế lưu lượng và

32

đòi hỏi trả về nhãn phù hợp. Bản tin RSVP-RESV được gửi ngược trở lại từ
Tailend-LSR về Headend-LSR chứa nhãn yêu cầu và thực hiện báo hiệu cho các
node dành riêng một phần tài nguyên cho trung kế lưu lượng được báo hiệu. Giá
trị nhãn này có thể thay đổi tại mỗi node và sẽ được sử dụng để truyền tải các
luồng lưu lượng của trung kế lưu lượng.
Ngoài ra các bản tin của RSVP cũng đóng vai trò kiểm tra việc thiết lập
trung kế lưu lượng tại mỗi node. Việc thiết lập này không phải lúc nào cũng
thành công do trong mạng có thể có nhiều trung kế lưu lượng với các độ ưu tiên
khác nhau cùng thiết lập và báo hiệu đi qua một node dẫn đến quá tải đối với
node đó.
Tổng hợp lại, kỹ thuật lưu lượng MPLS-TE được triển khai trong miền
chuyển mạch MPLS theo những bước sau đây nhằm đạt được mục tiêu kỹ thuật
lưu lượng:
Bước 1: Xác lập và gắn các thuộc tính ràng buộc cho từng liên kết.
Bước 2: Phân phối thông tin ràng buộc của liên kết bằng giao thức
OSPF/IS-IS mở rộng cho MPLS-TE.
Bước 3: Khởi tạo các trung kế lưu lượng cùng các thuộc tính ràng buộc
yêu cầu của nó.
Bước 4: Thực hiện tính toán đường ràng buộc bằng thuật toán
CSPF/PCALC tại node Headend-LSR.
Bước 5: Thiết lập và báo hiệu đường ràng buộc bằng giao thức CRLDP/RSVP-TE.
Bước 6: Thực hiện một loại cơ chế ghép lưu lượng lên trên đường dẫn lưu
lượng vừa tính toán và thiết lập, báo hiệu thành công.
2.2.3. Các thuộc tính ràng buộc của liên kết
Mỗi một liên kết trong mạng được triển khai kỹ thuật lưu lượng MPLS-TE
có những đặc điểm mà sẽ được sử dụng bởi các Headend-LSR để tính toán
đường dẫn tối ưu nhất cho một trung kế lưu lượng, các đặc điểm này được gọi là
các thuộc tính ràng buộc. Các thuộc tính ràng buộc của một liên kết sẽ quyết định

33

xem liên kết này có được sử dụng để truyền lưu lượng của một trung kế lưu
lượng hay không. Một liên kết có thể bao gồm các thuộc tính ràng buộc như sau:
-

Băng thông cho phép tối đa (Maximum Reservable Bandwidth)
Băng thông khả dụng hiện thời (Unreserved Bandwidth)
Các cờ thuộc tính (Attribute Flags)
Trọng số lưu lượng (TE Metric)
Giá trị nhóm các liên kết cùng bị ảnh hưởng bởi sự cố SRLG (Shared Risk
Link Group)
Băng thông cho phép tối đa là lượng băng thông lớn nhất của liên kết mà

tất cả các trung kế lưu lượng được tạo thành trong mạng có thể sử dụng. Thông
thường lượng băng thông này chỉ có giá trị bằng 75% lượng băng thông tối đa do
25% còn lại thường được sử dụng để đảm bảo cho các giao thức điều khiển của
mạng như các giao thức định tuyến, giao thức phân phối nhãn, giao thức báo
hiệu,…
Băng thông khả dụng hiện thời là lượng băng thông còn lại của liên kết
dành cho trung kế lưu lượng có thể sử dụng. Lượng băng thông này chính bằng
lượng băng thông cho phép tối đa của liên kết trừ đi lượng băng thông đã được
sử dụng cho các trung kế lưu lượng đã thiết lập và báo hiệu đi qua liên kết trước
đó.
Các cờ thuộc tính (Attribute Flags) là các thuộc tính có thể được đính
kèm trong các bản tin cập nhật của các giao thức định tuyến OSPF và IS-IS mang
thông tin về một thuộc tính nào đó của liên kết, trong mỗi bản tin này có trường
32 bit dành cho các cờ thuộc tính, do đó có thể có nhiều nhất là 32 thuộc tính đối
với một liên kết (0x0 đến 0xFFFFFFFF). Nhà quản trị mạng có thể tùy ý cài đặt ý
nghĩa cho từng bit của trường 32 bit này. Các cờ thuộc tính này sẽ được so sánh
với các giá trị Affinity Bit mà trung kế lưu lượng yêu cầu, nếu liên kết có các
thuộc tính Attribute Flags thỏa mãn các giá trị Affinity Bit yêu cầu thì liên kết đó
sẽ được sử dụng trong quá trình chọn lựa ra đường dẫn tối ưu và phù hợp nhất
cho trung kế lưu lượng.
Trọng số lưu lượng (TE Metric) là tham số mà nhà điều hành mạng có
thể sử dụng để xây dựng đồ hình trạng thái lưu lượng mà có thể khác biệt so với

34

đồ hình trạng thái thông thường của mạng. Theo mặc định, giá trị chi phí lưu
lượng (TE Cost) của một liên kết bằng với giá trị chi phí thông thường (IGP
Cost) của liên kết đó. Mỗi một node trong mạng đều có thể được cấu hình để sử
dụng TE Cost hoặc IGP Cost trong quá trình tính toán đường dẫn tối ưu và phù
hợp nhất cho trung kế lưu lượng. Giá trị trọng số lưu lượng thường được sử dụng
trong mạng có hỗn hợp các nguồn lưu lượng IP truyền thống và các nguồn lưu
lượng chuyển mạch nhãn MPLS, kỹ thuật lưu lượng MPLS-TE lúc này chỉ đóng
vai trò dẫn lưu lượng một cách hiệu quả qua một khu vực tắc nghẽn của mạng.
Giá trị nhóm các liên kết cùng bị ảnh hưởng bởi sự cố SRLG (Shared
Risk Link Group) là một thuộc tính ràng buộc của một liên kết do nhà điều hành
mạng quản lý và sử dụng, chỉ dẫn tập hợp các liên kết sẽ chịu ảnh hưởng bởi
cùng một sự cố nào đó trong mạng ví dụ như các liên kết trong một khu vực
mạng sẽ cùng chịu ảnh hưởng bởi sự cố đứt đường dẫn cáp quang tới khu vực
mạng đó. Giá trị SRLG được truyền tải bởi các giao thức định tuyến Link-State
mở rộng cho MPLS-TE (OSPF và IS-IS) và được sử dụng khi các đường hầm
hay các trung kế lưu lượng dự phòng được triển khai.
2.2.4. Các thuộc tính ràng buộc của trung kế lưu lượng
Kỹ thuật lưu lượng MPLS-TE đưa ra khái niệm trung kế lưu lượng
(Traffic Trunk) để thực hiện kỹ thuật lưu lượng hóa các luồng lưu lượng từ đó
truyền tải chúng một cách hiệu quả trên các đường dẫn tối ưu và phù hợp nhất
qua miền chuyển mạch nhãn MPLS.
Trung kế lưu lượng là một tập hợp gồm các luồng lưu lượng thuộc cùng
một FEC, có chung một tập các thuộc tính, các luồng lưu lượng này sẽ được
truyền trên cùng một LSP đã được lưu lượng hóa tại một thời điểm. Đối với một
số kỹ thuật lưu lượng nâng cao trong MPLS-TE có thể nới lỏng định nghĩa này
để cho phép trung kế lưu lượng thu gom lưu lượng của nhiều FEC hơn là chỉ gói
gọn trong cùng một FEC. Trung kế lưu lượng còn được gọi là các đường hầm lưu
lượng (TE Tunnel) và nó có thể được định tuyến để tìm ra đường dẫn tối ưu và
phù hợp nhất tại từng thời điểm nhất định. Điểm đầu của trung kế lưu lượng là
Ingress-LER thực hiện kỹ thuật lưu lượng, Ingress-LER lúc này được gọi là LER

35