Tải bản đầy đủ
MỘT SỐ KỸ THUẬT NÂNG CAO QoS TRONG MẠNG IP

MỘT SỐ KỸ THUẬT NÂNG CAO QoS TRONG MẠNG IP

Tải bản đầy đủ

cập nhật
nội hạt,
bản tin cho
những
router
khác.

những thống
kê nội hạt,
bản tin từ
những router
khác.

Quản lý

Chuyển tiếp

Hình 3.1: Bộ định tuyến IP hỗi trợ tối đa thông thường
Những router đơn giản điển hình có chung tâm tín hiệu CPU thiết lập tất cả
những chức năng quản lý và chuyển tiếp gói. Từ khi những router có sự phát
triển theo hướng kiến trúc phấn tán, tất cả những thiết kế đều nhằm thực hiện
loại bỏ hay giảm những điểm thắt cổ chai. Trong những router đường trục thực
thi cao, bộ phận chuyển tiếp được phân tán thiết lập trong những cạc giao diện
dược liên kết bởi cơ cấu hay mặt bằng nền tảng chuyển mạch tốc độ cao. Tuy
nhiên, tất cả những router phải có trình tự chung theo các bước xử lý khi gói đi
qua. Ngày nay QoS đang trở nên quan trọng, quá trình chuyển tiếp được thiết kế
lại với chi phí nhiều hơn cho router gửi gói. cung cấp tổng quan về lý thuyết quá
trình xử lý xảy ra trong khối chuyển tiếp ở hình 3.1. Thông thường một gói gửi
qua thì thông qua ba giai đoạn chinh sau:
- Phân loại và tìm kiếm FIB (thiết lập nhận dạng gói và tìm giao diện đầu
ra).
- Đánh dấu và lập chính sách (dùng để đối phó với những trường hợp gói
không đến trong khung thời gian phù hợp).
- Hàng đợi và lập lịch (cho chuyển tiếp gói phụ thuộc vào những quy tắc
chia sẻ đường liên kết hay loại hình lưu lượng còn cho loại bỏ thì phụ thuộc vào
những quy tắc điều khiển nghẽn).

40

3.2 Phân loại
Sự xử lý phân loại gói trong những luồng ở bộ định tuyến gọi là phân loại
gói. Tất cả các gói thuộc luồng giống nhau (theo quy ước) thì được xử lý giống
nhau trong bộ định tuyến.
Cơ chế phân loại gói của một router ảnh hưởng trực tiếp đến nhân tố tách
các lớp hoặc các loại lưu lượng IP khác nhau. Trong thực tế, tình trạng của một
gói tin phụ thuộc vào cả hai thông tin mang bởi bản thân gói và thông tin tình
hình mạng được nhận từ giao diện của nó.
3.2.1 ToS, traffic Class (IPv4, IPv6)
Trường ToS (IPv4):
Gói IPv4 có một byte ToS trong phần tiêu đề cho phép phân loại gói tại mỗi
chặng theo một cách đơn giản. Hình vẽ 3.2 đưa ra tiêu đề gói IPv4 (theo RFC
1349), trong đó 3 bít được gán để biểu thị quyền ưu tiên của gói và 4 bít chỉ thị
loại dịch vụ. Bít cuối cùng được dự trữ và được thiết lập bằng 0.

Hình 3.2 Trường ToS trong Ipv4
Chúng ta có thể chia lưu lượng thành 2 3 lớp dịch vụ (Class of Service CoS) sử dụng ưu tiên IP (hai loại khác được dành riêng cho việc sử dụng mạng
nội bộ). Các kỹ thuật hàng đợi trên toàn mạng sau đó có thể sử dụng dấu hiệu
này để cung cấp cách xử lý phù hợp.
Ba bit trọng số lớn nhất (tương ứng với nhị phân là các giá trị 32,64,128)
của trường ToS trong tiêu đề IP tạo thành các bít được sử dụng cho ưu tiên IP.
Các bít này được sử dụng để cung cấp độ ưu tiên từ 0 đến 7 cho gói IP. Trong đó
41

ưu tiên IP 6 và 7 là để dự trữ và nhà quản trị mạng không được thiết lập, sáu mức
ưu tiên còn lại dành cho các luồng lưu lượng IP.
Bốn bít ToS có ý nghĩa như là một khoá phân loại cho việc thay đổi việc
tìm kiếm FIB. Nó chỉ ra loại định tuyến/dịch vụ chuyển tiếp được yêu cầu theo
khuyến nghị [RFC1349], bit cuối cùng được dùng cho dự phòng và thường được
đặt bằng không. Các thiết lập khác nhau của các bít ToS yêu cầu gói phải được
định tuyến dọc theo đường đã chọn dựa theo các tiêu chí độ trễ, thông lượng, độ
tin cậy và các lý do về giá thành.
IPv6: Một cách tương tự các đặc trưng RFC2460, tiêu đề gói tin IPv6 bao
gồm một octet TC(traffic Class) đơn cho việc phân loại lưu lượng đơn giản
[RFC2460]. Tuy nhiên RFC2460 định nghĩa không chi tiết về octet TC
3.2.2 Phân loại đa trường
Chỉ sử dụng trường DiffServ cho việc phân loại gói sẽ có một số hạn chế.
Thứ nhất, số lượng lớp lưu lượng tối đa là 64 và thông thường là ít hơn nhiều.
Thứ hai, với sự phân loại như vậy, bộ định tuyến biết rất ít về các nguồn và đích
của gói. Một kỹ thuật khác được đưa ra là phân loại đa trường.
Thông thường bộ phân loại đa trường được sử dụng để phân biệt giữa các
luồng ứng dụng. Điều này cần đến một khoá phân loại bao gồm các trường địa
chỉ đích và nguồn (để xác định các điểm đầu cuối tham gia), trường giao thức, số
hiệu cổng đích và nguồn TCP/UDP (chỉ thị ứng dụng, giả sử tải trọng là TCP hay
UDP).
Mặc dù không phải là phần bắt buộc phải có trong tiêu đề gói tin IP, nhưng
số hiệu cổng TCP/UDP luôn có trong 32 bít đầu sau phần tiêu đề IPv4 và bộ
phân loại đa trường có thể dễ dàng xác định vị trí của chúng.
Quy tắc ưu tiên
Bộ phân loại MF cũng phải có khả năng giải quyết nhiều quy tắc liên quan
của một gói. Đối với mỗi luồng đến router có thể có nhiều quy tắc cùng phù hợp,
như vậy đặt ra một vấn đề phải lựa chọn ra một quy tắc phù hợp. Điều đó quan
hệ tới thông tin thêm trong router và thứ tự được sử dụng các quy tắc cho sự
phân loại, các quy tắc nhất định có thể định rõ để biết chúng là một tập con hay
là một tập siêu con của các quy tắc khác.
42

Quy tắc chính xác hơn sẽ có quyền ưu tiên hơn (trong trường hợp này là
quy tắc hai), và chắc chắn sẽ được lựa chọn. Tuy nhiên các quy tắc chồng chéo
không phải bao giờ cũng dễ dàng được biểu thị chính xác hơn hoặc kém hơn.
Phân loại đa trường có thể thêm trường DiffServ
Mặc dù trường DiffServ thường được sử dụng thay cho phân loại MF.
Không có lý do tại sao một bộ phân loại MF không thể có thêm trường DiffServ
trong khoá phân loại của nó. Một cách lựa chọn là một router có thể dùng một bộ
xử lý phân loại hai tầng trong đó sự phân loại ban đầu thiết lập trường hợp trong
tầng để giải thích nội dung của trường DiffServ ( có thể tạo miền DiffServ ảo có
ý nghĩa trường DiffServ khác ). Lựa chọn phụ thuộc vào nhiều cách phân loại.
3.3 Quản lý hàng đợi
Quản lý hàng đợi đưa ra khả năng chia sẻ của một kết nối trong một kiểu
điều khiển lưu lượng có sự cạnh tranh lưu lượng được phân phối qua nhiều hàng
đợi tại giao diện đầu ra. Mọi lớp lưu lượng có yêu cầu đặc điểm lập lịch riêng
phải được đặt trong chính hàng đợi của nó với mỗi gói trực tiếp tới hàng đợi
thích hợp sử dụng thông tin tình huống thu thập từ tầng phân loại trước đó.
Không có các hàng đợi riêng biệt nó không thể có khả năng cho tầng lập lịch sau
phân biệt giữa nhiều lớp lưu lượng cạnh tranh một đường kết nối đơn. Một chức
năng bộ quản lý hàng đợi đó là chịu trách nhiêm thiết lập và duy trì hàng đợi và
phương thức hàng đợi trong router. Chức năng này bào gồm bốn hoạt động cơ
bản:
- Thêm một gói vào hàng đợi được chỉ rõ bằng tình huống của gói (như
được thiết lập trong tầng phân loại) nếu hàng đợi không đầy.
- Loại bỏ môt gói nếu hàng đợi đầy.
- Loại bỏ một gói khi được yêu cầu bởi bộ lập lịch.
- Giám sát lựa chọn sự chiếm dụng hàng đợi (số gói hoặc byte chiếm dụng
hàng đợi ) và dựa vào một trong các bước thực hiện sau để giữ mức chiếm dụng
thấp:
+ Loại bỏ một gói (hoặc không chọn thêm một gói ) khi hàng đợi đã đầy.
+ Đánh dấu một gói khi hàng đợi bắt đầu đầy.
3.3.1 Giảm thời gian chiếm đóng hàng đợi
43

Độ chiếm dụng của một hàng đợi tăng lên khi tải trọng cung cấp (lưu lượng
đến) vượt quá tốc độ mà bộ lập lịch lưu thoát gói khỏi hàng đợi. Để làm giảm độ
chiếm dụng của một hàng đợi yêu cầu một vài phương pháp khơi mào phương
thức tránh nghẽn trong giao thức truyền tải thông thường các luồng đi qua hàng
đợi. Bởi sự xuất hiện trễ hạn chế trước bất kỳ giao thức truyền tải có thể bắt đầu
tác động lại tới nghẽn trong một router, quản lý hàng đợi phải nhận hai loại
nghẽn cơ bản sau:
- Nghẽn tạm thời, xuất hiện trong khoảng thời gian ngắn hơn thời gian phản
ứng lại tránh nghẽn truyền tải vào các giao thức.
- Nghẽn dài hạn, kết quả của tình huống không đổi do tốc độ của tất cả các
luồng đi qua hàng đợi.
Nghẽn tạm thời gây nên thường ngắn và liên quan đến sự bùng nổ lưu lượng từ
một hoặc nhiều luồng.
Nghẽn trung bình của một hàng đợi được đo trong vài khoảng thời gian gần
đây, độ chiếm dụng trung bình ảnh hưởng đến trễ trải qua bởi tất cả các gói đi
qua hàng đợi đó. Một bộ quản lý hàng đợi cần tiếp tục cung cấp phản hồi các
giao thức truyền tải để giảm độ chiếm dụng dài hạn. Về nguyên tắc có thể áp
dụng phản hồi theo hai cách:
- Trong dải đánh dấu của gói.
- Loại bỏ các gói.
Trong dải đánh dấu của các gói yêu cầu giao thức truyền tải tác động lại để
nhận được các gói bị đánh dấu bởi sự tránh nghẽn ban đầu. Thực tế là việc loại
bỏ được đề cập đến gần mạng IP. Bởi vì TCP sử dụng các gói mất để khơi mào
phương thức tránh nghẽn của nó. Sự loại bỏ gói cũng có một lợi ích bên cạnh
hiệu quả làm giảm tải đường xuống ngay lập tức.
3.3.2 Tìm kiếm ngẫu nhiên sớm
Trải qua nhiều năm nghiên cứu vấn đề điều khiển độ chiếm dụng trung bình
của hàng đợi chia sẻ bởi nhiều luồng thay đổi khác nhau, tổ chức IRTF kết luận
rằng giải pháp tốt nhất với router thực hiện trong tài khoản gồm tín hiệu phản hồi
phân phối ngẫu nhiên, thống kê. Điển hình mà IRTF sử dụng cho phương thức
này như là bộ tách sớm ngẫu nhiên RED.
44

RED sử dụng độ chiếm dụng trung bình của hàng đợi như là một tham số,
một chức năng ngẫu nhiên mà nó quyết định có chế tránh nghẽn phải được khơi
mào hay không. Sau khi độ chiếm dụng trung bình tăng lên thì khả năng loại bỏ
gói cũng sẽ tăng lên. Hình 3.3 biểu diễn một hàm khả thi đơn giản.
- Độ chiếm dụng lên tới một ngưỡng thấp hơn min TH, các gói chuyển qua
không bị ảnh hưởng (khả năng loại bỏ gói bằng không). Trên giới hạn min TH, khả
năng loại bỏ gói tăng theo đường thẳng với khả năng vươn tới max P cho một độ
chiếm dụng của maxTH. Tại và trên maxTH các gói chắc chắn bị loại bỏ.
- Ba giai đoạn này thỉnh thoảng chỉ dẫn đến tránh nghẽn và điều khiển
nghẽn. Trường hợp xấu nhất kích thước hàng đợi bị giới hạn bởi max TH. RED bắt
đầu khai mào sự chỉ dẫn nghẽn trước khi hàng đợi bị đầy.
Độ chiếm dụng trung bình được tính toán lại tại mọi thời điểm một gói đến
và dựa vào bộ lọc thông thấp hoặc độ chiếm dụng trung bình hoạt động trọng số
hàm mũ (EWMA) của độ chiếm dụng hàng đợi tức thời. Công thức của nó là:
Qavg = (1 − Wq ).Qavg + Qinst .Wq

Qavg là độ chiếm dụng trung binh.
Qinst . là độ chiếm dụng tức thời.

Wq là trọng số của hàm di chuyển trung
bình.
Wq có ảnh hưởng mật thiết tới tham số chiếm dụng trung bình theo độ chiếm
dụng tức thời của hàng đợi. Giá trị cao hơn thì mức xung đột nhiều hơn và giá trị
thấp hơn thì mức duy trì hơn. Mục đích là chọn lựa một giá trị cho phép RED bỏ
qua tạm thời ngắn hạn mà không gây mất gói khi truyền dẫn nhưng có tác dụng
duy trì các mức độ chiếm dụng trước độ trễ của mọi tác động một cách vô hạn
hoặc những luồng đồng bộ của việc tránh nghẽn của TCP chịu ảnh hưởng.

45

Hình 3.3: khả năng loại bỏ biến thay đổi với thời gian chiếm dụng hàng đợi
Một router có thể giữ các giá trị minTH, maxTH và maxP khác nhau cho
các hàng đợi khác nhau, cân bằng với tổng không gian khả dụng của hàng đợi, số
lượng hàng đợi yêu cầu và độ trễ, độ rung pha hạn chế của lớp lưu lượng sử dụng
các hàng đợi khác nhau. Thêm vào đó Wq phải khác nhau trong mỗi hàng đợi.
Chiến lược loại bỏ ngẫu nhiên có những đặc điểm hữu ích sau:
- Chúng tạo ra một cơ chế phản hồi không tích cực cho TCP và cường độ
tăng lên theo hàm mức nghẽn trong router.
- Các luồng chịu sự chi phối chia sẻ thông qua hàng đợi (các gói vào hàng
đợi thường xuyên hơn) thì chịu cường độ phản hồi tốt hơn.
- Sự đồng bộ được giảm tới mức cực tiểu giữa nỗ lực tránh nghẽn của phiên
truyền dẫn độc lập chia sẻ một hàng đợi riêng biệt.
Sự bắt đầu loại bỏ ngẫu nhiên sớm (trước khi hàng đợi thực sự sử dụng hết
hoàn toàn không gian cho phép của nó) tăng lên thì có thể dễ dàng xếp ngoài
vùng nghẽn tạm thời trước độ chiếm dụng hàng đợi là quá cao. Quá trình ngẫu
nhiên phân phối loại bỏ trong giai đoạn đầu làm giảm tính ngẫu nhiên của nhiều
luồng cho loại bỏ gói.
Hai khoá giả định làm nền tảng cho loại bỏ dựa vào quản lý hàng đợi tích
cực :
- Nhiều hoặc hầu hết các tầng gây ra nghẽn tạm thời là nền tảng TCP và
trước đó đáp lại tới phản hồi không tích cực của mất gói sớm.
- Các gói thực sự loại bỏ thuộc về luồng (hoặc các luồng) TCP gây ra
nghẽn.
46

3.4 Lập lịch
Lập lịch điều khiển đặc trưng thời gian của việc lưu thoát gói khỏi mỗi hàng
đợi - thường tại giao diện đầu ra hướng tới router hoặc host tiếp theo, nhưng
cũng có thể là tại các điểm hàng đợi trong một router. Các router truyền thống
chỉ có một hàng đợi đơn trên một giao diện kết nối đầu ra. Như vậy lập lịch có
nhiệm vụ đơn giản là lôi các gói ra khỏi hàng đợi nhanh bằng khả năng kết nối có
thể chuyển được. Trong các router có kiến trúc CQS, mỗi giao diện có một tầng
bộ lập lịch chia sẻ khả năng chứa của kết nối đầu ra giữa sự kết hợp các hàng đợi
trong giao diện. Chia sẻ kết nối đạt được một sự sắp xếp lịch, khi nào và xảy ra
như thế nào.
Bộ lập lịch chủ yếu cưỡng chế quyền ưu tiên tương đối, hạn chế trễ, hoặc
băng thông chủ định giữa các lớp lưu lượng khác nhau. Một bộ lập lịch có thể
thiết lập băng thông khả dụng nhỏ nhất cho một lớp đặc biệt bằng cách đảm bảo
rằng các gói được lấy ra khỏi hàng đợi có quan hệ với các lớp đó một cách thông
thường. Một bộ lập lịch cũng có thể cung cấp định hướng tốc độ. Bằng cách giới
hạn tần số trong hàng đợi của lớp nào được phục vụ dựa vào thiết kế của một bộ
lập lịch, nó có thể áp đặt hai giới hạn băng thông dưới và trên trên cho mỗi hàng
đợi hoặc cho một số hàng đợi .
Tất cả các thiết kế bộ lập lịch có những kiểu dịch vụ đặc trưng của riêng nó –
cách mà nó lựa chọn hàng đợi dịch vụ. Bộ lập lịch đơn giản nhất tập trung vào
hàng đợi phục vụ trong một số hàng đợi dự đoán trước. Các bộ lập lịch tiên tiến
hơn cho phép tương đối hoặc toàn bộ băng thông để thiết lập cho mỗi hàng đợi
và chúng tiếp tục hỗi trợ thêm vào các kiểu dịch vụ để đảm bảo băng thông trung
bình hoặc trễ đạt được bởi mỗi hàng đợi giới hạn trong cấu hình.
3.5 Dịch vụ tích hợp
3.5.1 Khái niệm
Internet truyền thống đưa ra rất nhiều mức chất lượng rịch vụ (QoS) cho
kết nối trực tuyến, nó có tên là dịch vụ hỗi trợ tối đa. Tất cả sự khác nhau trong
số các khách hàng có ảnh hưởng xấu trong các loại kết nối : modem tương tự,
mạng tích hợp dịch vụ ISDN, hay đường dây kết nối qua đường dây điện thoại
(dial-up), đường dây thuê bao riêng (leased – line). Trong những năm gần đây
47

những nhà cung cấp mạng internet đã phát triển nhiều loại hình dịch vụ với nhiều
ứng dụng mới khác nhau như những dịch vụ đa phương tiện, những dịch vụ
mạng riêng ảo….
Yêu cầu ứng dụng:
Ứng dụng có thể thấy được thông qua thông qua tập trung vào các driver
của Internet. Nói theo cách khác, mạng tồn tại nhằm đáp ứng các yêu cầu của
các ứng dụng.
Những ứng dụng có thể mô tả thông qua hai thuộc tính
- Tốc độ truyền dẫn dự báo trước
- Dung sai trễ
Phụ thuộc vào những sự mô tả của tốc độ truyền dẫn, những ứng dụng có
thể được phân loại theo bảng phân loại dưới đây

Bảng 3.1: Mô tả những ứng dụng
Luồng

Có tốc độ truyền dẫn dự báo trước và các hằng số truyền
dẫn có liên quan (hằng số tốc độ CBR). Sự ứng dụng trong
phân loại có xác định giới hạn về tốc độ. Ví dụ luồng video

sự bùng nổ

thoại trên IP.....
Ngược lại với trên là truyền dẫn thay đổi và không dự báo

lưu lượng

trước của khối dữ liệu . Nó thì không xác định về miền giới
hạn về tốc độ. ví dụ như truyền file.....

48

Phụ thuộc vào dung sai độ trễ, những ứng dụng có thể vào một trong những
trường hợp của bảng phân loại sau:
Bảng 3.2 Những yêu cầu cần thiết của ứng dụng trong những trường hợp quan
trọng.
Asynchronuos

Đây là những ứng dụng mềm dẻo không cần đòi hỏi định

Synchronuos

thời ví dụ như :truyền dẫn mail, truyền dẫn file...
Đây là những ứng dụng linh hoạt không yêu cầu định

Interactive

thời thời gian ví dụ Web browsing ..
Những ứng dụng ở đây về chất lượng sử dụng và về khả

(sự tương tác)

năng không phụ thuộc vào sự phân phối thời gian nhưng
thoả mãn người sử dụng ở một số phạm vi (ví dụ: telnet,

Ioschronuos or

Web browsing...)
Chất lượng sử dụng được bị ảnh hưởng bởi trễ ( ví dụ IP

conversational
Mission-critical

telephony)
Chức năng bị thiệt hại nếu độ trễ yêu cầu không tính đến

(nhiệm vụ then

thời tiết . (ví dụ: toll qualiti IPT)

chốt)
Dịch vụ tích hợp (IntServ), đứng trước nhu cầu ngày càng tăng trong việc
cung cấp các dịch vụ thời gian thực (thoại, Video), băng thông cao (đa phưng
tiện) dịch vụ tích hợp IntServ đã ra đời. Đây là sự phát triển của mạng IP nhưng
đồng thời cung cấp dịch vụ truyền thống nỗ lực tối đa và các dịch vụ thời gian
thực . Động lực thúc đẩy mô hình này chủ yếu là một số lý do cơ bản sau đây:
Dịch vụ nỗ lực tối đa không còn đủ tốt nữa: ngày càng có nhiều ứng dụng
khác nhau có những yêu cầu khác nhau về đặc tính lưu lượng được triển khai,
đồng thời người sử dụng ngày càng yêu cầu cao hơn về chất lượng dịch vụ.
Các ứng dụng đa phưng tiện cho gói ngày càng xuất hiện nhiều: mạng IP
phải có khả năng hỗ trợ không chỉ đơn dịch vụ mà phải hỗ trợ tích hợp đa dịch
vụ của nhiều loại lưu lượng khác nhau từ thoại, số liệu đến Video.
Tối ưu hoá hiệu suất sử dụng mạng và tài nguyên mạng: đảm bảo hiệu quả
sử dụng và đầu tư. Tài nguyên mạng sẽ được dự trữ cho lưu lượng có độ ưu tiên
cao hơn, phần còn lại sẽ dành cho số liệu nỗ lực tối đa.
49

3.5.2 Một số mô hình của dịch vụ tích hợp
Trong những nét chính về dịch vụ tích hợp IETF đã định nghĩa hai dịch vụ
mạng thêm vào dịch vụ hỗi trợ tối đa truyền thống , tên của hai dịch vụ đó là:
The guaranteed Quality of Service

(đảm bảo chất lượng của dịch vụ hay

còn gọi là các dịch vụ đảm bảo). Các ứng dụng cung cấp thuộc loại này có thể kể
đến: hội nghị truyền hình chất lượng cao, thanh toán tài chính thời gian thực...
The controlled Load Quality of service (chất lượng dịch vụ tải điều khiển
còn gọi là các dịch vụ kiểm soát tải).
Dịch vụ đảm bảo (GS)
Định nghĩa nét chính của dịch vụ tích hợp trong tiêu chuẩn RFC 2212 như
sau:
- Dịch vụ đảm bảo cung cấp giới hạn nhất định dựa trên trễ hàng đợi dữ liệu
từ đầu cuối tới đầu cuối. Những dịch vụ này có khả năng cung cấp đảm bảo cả hai
thông số trễ và băng thông…
- Dịch vụ đảm bảo này đảm bảo sự định tuyến dữ liệu đảm bảo sẽ đến trong
thời gian được phân phát và không bị mất gói do bởi luồng bị tràn hàng đợi, nó
được cung cấp luồng lưu lượng với thông số riêng. Dịch vụ này được mong đợi
cho những dịch vụ cần sự đảm bảo nhất định về dữ liệu sẽ đến trong thời gian qui
định nghiêm ngặt cần thiết.
Ứng dụng này cung cấp đặc điểm mong đợi hồ sơ lưu lượng , tính toán
mạng, trễ từ đầu cuối tới đầu cuối của nó được đảm bảo. Nếu trễ này trong giới
hạn mong đợi của ứng dụng, ứng dụng sẽ được chắc chắn rằng gói sẽ được phân
chia trên đường dẫn trong sự tính toán giới hạn trễ.
GS yêu cầu đặc điểm của bản thân ứng dụng tồn tại tròn giới hạn kích cỡ
tốc độ và sự bùng nổ lưu lượng (các thông số của token bucket ). Trễ đầu cuối tới
đầu cuối được tạo bởi sự kết hợp bởi trễ đường dẫn với trễ hàng đợi thông qua tất
cả các NE. Trễ hàng đợi của NE phụ thuộc vào các thông số của gáo token được
cung cấp bởi các úng dụng. Mạng tính toán ngay cả trong trường hợp xấu nhất
của trễ, nó được đảm bảo dựa trên những thuật toán hàng đợi.
GS không cố gắng vượt giới hạn hay xác định số lượng trễ nhỏ nhất, trễ
trung bình hay biến động trễ- chỉ trong trường hợp trễ xấu nhất được đảm bảo.
50