Tải bản đầy đủ
Chương 4: Đánh giá tính hấp dẫn của thị trường Việt Nam khi Honda xâm nhập vào thị trường này.

Chương 4: Đánh giá tính hấp dẫn của thị trường Việt Nam khi Honda xâm nhập vào thị trường này.

Tải bản đầy đủ

Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đạt trên
7%/năm trong nhiều năm, đặc biệt là giai đoạn 1991-1995 (đạt trên
8,2%/năm). GDP bình quân đầu người giai đoạn 1996-2000 là 462 USD,
ước thực hiện giai đoạn 2001-2005 là 600 USD. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp
nước ngòai (FDI) giai đoạn 2001-2005 cả cấp mới và bổ sung đạt 15-16 tỷ
USD, tăng gấp 1,5 lần so với giai đoạn 1996-2000
Bên cạnh những thành tựu về kinh tế, sau 20 năm tiến hành đổi mới, Việt
Nam đã đạt được một số thành tựu về xã hội, có tác động thúc đẩy nền kinh
tế phát triển. Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc mục tiêu giảm một nửa số
người nghèo và một nửa số người dân bị đói theo chuẩn quốc tế so với
những năm đầu thập niên 90 chỉ trong khoảng 10 năm. Cụ thể: trong giai
doạn 2002-2004, mức sống - thể hiện qua chi tiêu của hộ gia đình, đã được
cải thiện rõ rệt. Tính chung cả nước, chi tiêu hộ gia đình theo giá so sánh
thời kì 2003-2004 đạt 328000 đồng, tăng bình quân 12,1%/năm.
3.1.2. Nhu cầu tiêu thụ xe máy

Cũng như những nhu cầu tự nhiên như ăn, mặc, ở thì một nhu cầu khác
cũng không thể thiếu được đối với con người trong cuộc sống hiện nay đó là
phương tiện đi lại hay còn gọi là phương tiện giao thông. Và để đáp ứng
đựơc nhu cầu đó của người dân thì hàng loạt các phương tiện giao thông
đã đựơc nghiên cứu, sản xuất và đưa vào sử dụng như ô tô, xe máy, xe đạp
điện…
Nếu như ở Việt Nam khoảng một hai thập niên trước đây, xe máy mang
tính thiểu số, được vị nể với tư cách là một sản phẩm tân kỳ, một tài sản lớn
hơn là một phương tiện giao thông thì trong những năm gần đây, chiếc xe
máy đã trở nên phổ biến hơn và hầu như trở thành phương tiện giao thông
chính của đại đa số người dân. Hiện nay, có những hộ gia đình có 1, 2 thậm
chí có đến 3, 4 chiếc xe máy trong nhà.
Trong cơ cấu tham gia giao thông đô thị ở Việt Nam, các số liệu cho biết: xe
máy chiếm vị trí đầu bảng với tỉ lệ khoảng 61% tổng các phương tiện giao
thông. Chỉ riêng thành phố Hồ Chí Minh đã có hơn 2 triệu xe máy, ở Hà Nội
thì con số này
khoảng hơn 1 triệu xe, còn không kể đến một số lượng xe không nhỏ ở các
vùng khác. Ngoài ra, đối với thu nhập bình quân của người Việt Nam hiện
nay, xe máy là sự lựa chọn phù hợp nhất – nó có giá cả tương đối phù hợp
(nhiều xe máy của Trung Quốc còn có giá rẻ)
Nhận biết được nhu cầu khổng lồ về xe máy như vậy nên trong thời gian
qua đã có nhiều nhà cung cấp trên thị trường xe máy Việt Nam. Các hãng xe

máy nổi tiếng trên thế giới như: Honda, SYM, Suzuki, Yamaha… đã tiến
hành liên doanh với Việt Nam để sản xuất và cung cấp cho người tiêu dùng
Việt Nam. Thêm vào đó, trong 5 năm trở lại đây, thị trường xe máy đã đa
dạng nay còn đa dạng hơn bởi những chiếc xe máy Trung Quốc được nhập
khẩu cũng như được sản xuất ồ ạt tại Việt Nam. Sản phẩm xe máy Trung
Quốc với ưu thế là giá rẻ, chủng loại phong phú đã thực sự phù hợp với
người tiêu dùng Việt Nam có nhu cầu sử dụng xe máy song thu nhập thấp
hoặc những người dân có nhu cầu đổi mới kiểu dáng xe nhưng không có đủ
tiền…
→Qua phân tích trên ta thấy nhu cầu sử dụng xe máy trên thị trường Việt
Nam là rất lớn. Trước thực trạng đó, có rất nhiều cơ hội cũng như thách
thức để có thể tiếp tục tạo dựng và duy trì lòng tin của người tiêu dùng Việt
Nam đối với các hãng sản xuất xe máy về những sản phẩm mà công ty đã và
đang tiến hành sản xuất - lắp ráp.
3.1.3. Chất lượng khách hàng

Người tiêu dùng Việt Nam có nhu cầu về xe gắn máy song lại có thu nhập
thấp hoặc có nhu cầu đổi xe mới nhưng lại không có đủ tiền giờ đây đã có
thể thoả mãn nhu cầu của mình bằng những sản phẩm đa dạng, phong phú
mà giá bán lại rất rẻ. Những chiếc xe máy Trung Quốc được nhập về hoặc
được lắp ráp bởi các dây chuyền lắp ráp dạng IKD có giá dao động chỉ từ
8.000.000 VND – 10.000.000 VND. Với số tiền như vậy, trước đây người dân
có thu nhập thấp không thể mua được xe máy, nếu có thể thì chỉ mua được
xe cũ mà thôi. Nhưng giờ đây họ đã có thể thoả mãn nhu cầu của mình. Tuy
nhiên, do giá bán đầu ra thấp kỷ lục như vậy thì một vấn đề luôn đi kèm với
nó mà ta cần phải xem xét đó là chất lượng. Chất lượng hay có thể hiểu là
tuổi thọ hay độ an toàn của những sản phẩm xe gắn máy Trung Quốc thực
sự là một vấn đề không thể kiểm soát nổi. Những ông chủ các tập đoàn sản
xuất xe gắn máy Trung Quốc thờ ơ với dịch vụ sau bán hàng, những cơ
quan hữu trách Vệt Nam vẫn chưa có những biện pháp xử lý nghiêm minh.
Và thế là vấn đề chất lượng của xe gắn máy Trung Quốc thì chỉ có người sử
dụng nó mới thấu hiểu. Có những người tiền mất, tật mang, có những
người phải chịu hậu quả đau xót do việc sử dụng những chiếc xe máy Trung
Quốc có độ an toàn thấp. Đó cũng chính là nguyên nhân làm cho số vụ tai
nạn giao thông ngày càng tăng lên. Rồi cho đến khi những chiếc này bị hỏng
thì “khổ chủ” của nó phải mang tiền đi sửa, tiền sửa xe nhiều lần như vậy
tính ra cũng gần bằng tiền mua xe. Hầu như những chiếc xe này trước khi
được đưa vào lưu thông, người chcủ của nó phải tiến hành thay thế, sửa
chữa phụ tùng bởi sự cẩu thả, vội vàng trong quá trình lắp ráp để kịp thời
tung ra thị trường.

Qua đây cũng đủ để cho chúng ta thấy chất lượng của xe gắn máy Trung
Quốc đang thực sự bị “thả nổi” và hậu quả hoàn toàn thuộc về người tiêu
dùng còn trách nhiệm thì không thuộc về ai cả.
Người tiêu dùng Việt Nam qua đó cũng có được cái nhìn so sánh và khẳng
định chất lượng của những sản phẩm do Honda Việt Nam cung cấp. Dù cho
xe Trung Quốc có lợi thế về giá rẻ nhưng chất lượng không đảm bảo như
vậy thì việc mất thị phần ở thị trường Việt Nam là chuyện tất yếu sẽ xảy ra.
Người tiêu dùng Việt Nam sẽ lại quay về với những sản phẩm có chất lượng
cao mà trong đó sản phẩm của Honda là có chất lượng cao nhất.
→Qua phân tích ở trên ta thấy, công ty Honda Việt Nam có rất nhiều cơ hội
trong việc phát triển xe gắn máy trên thị trường tiềm năng Việt Nam. Đã có
sẵn uy tín và lòng tin ở người tiêu dùng Việt Nam, công ty Honda Việt Nam
cần phải có những chính sách mang tính lâu dài kết hợp với những chiến
lược tức thời để tận dụng tối đa những cơ hội nhằm ngày càng phát triển,
khẳng định vị trí số 1 trong lòng người tiêu dùng Việt Nam.
3.2. Đánh giá tính cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một vấn đề không thể tránh
khỏi đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào. Cho dù doanh nghiệp đó đang
tiến hành kinh doanh ở bất kỳ một lĩnh vực nào thì vấn đề cạnh tranh luôn
song hành với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp đó. Đối với thị
trường xe Việt Nam cũng vậy. Trong những năm gần đây, trên thị trường xe
Việt Nam có rất nhiều nhà cung cấp. Họ có những điểm mạnh của riêng
mình và đang từng bước khắc họa, khẳng định uy tín của mình trên thị
trường xe Việt Nam. Công ty Honda Việt Nam là liên doanh giữa công ty
Honda Motor Nhật Bản, công ty Asian Honda Motor Thái Lan và Tổng công
ty máy động lực và máy nông nghiệp Việt Nam, sau nhiều năm hoạt động
Honda luôn làm hài lòng khách hang và chiếm được lòng tin của đại đa số
người dân Việt Nam. Tuy vậy Việt Nam là một thị trường hấp dẫn, đông dân
và khả năng tiêu thụ xe rất cao vậy nên không chỉ Honda mà rất nhiều công
ty khác đã thâm nhập vào thị trường Việt Nam và có sức cạnh tranh không
hề nhỏ.
3.2.1. Sức ép của đối thủ cạnh tranh trong ngành

-SYM được thành lập năm 1954 tại Đài Loan, khởi đầu bằng việc sản xuất
đinamô cho xe đạp. Năm 1962, SYM bắt đầu sản xuất xe máy và năm 1969
là ô tô. Trong 50 năm qua SYM đã sản xuất và tiêu thụ hơn 6.000.000 xe
máy, luôn là doanh nghiệp hàng đầu về sản xuất và tiêu thụ xe máy ở Đài
Loan. Năm 1992, SYM đầu tư sản xuất kinh doanh xe gắn máy tại Việt Nam
với tên đầy đủ là: “Công ty hữu hạn chế tạo hàng công nghiệp và gia công

chế biến hàng xuất khẩu Việt Nam. Sản phẩm mang thương hiệu SYM có
hai dòng chính: xe Cub (xe số bình thường) và xe Scooter (xe tay ga).
Với chất lượng và uy tín cũng như sự tìm tòi, cải tiến không ngừng với
những sản phẩm mẫu mã đẹp, chất lượng cao, SYM ở Việt Nam đã và đang
trở thành một trong những nhãn hiệu được người tiêu dùng Việt Nam ưa
chuộng và tin tưởng.Đây sẽ là một đối thủ cạnh tranh cực kỳ lớn của
Honda.
-Suzuki Việt Nam là một hang sản xuất xe khá là quen thuộc của Việt Nam.
Ngoài việc luôn chịu khó học hỏi, cải tiến chất lượng xe, Suzuki còn đưa ra
thị trường các kiểu xe mới như Shogun R125, Viva 110 thường và phanh
đĩa, Smash 110. Với khẩu hiệu xe máy Suzuki “Ride the winds of change”,
Suzuki chấp nhận thách thức trong việc cải tiến công nghệ nhằm đem lại
những sản phẩm xe máy tinh tế đem lại cảm xúc hoàn toàn mới cho người
sử dụng, họ đã “thổi luồng gió mới cho cuộc sống” và đã được người tiêu
dùng Việt Nam chấp nhận, hứa hẹn là đối thủ nặng ký của Honda Việt Nam.
=>có thể thấy, thị trường Việt Nam là một thị trường tiềm năng tiêu thụ xe
máy, oto vậy nên khi xâm nhập vào thị trường Việt Nam, Honda sẽ phải đối
mặt với nhiều đối thủ cạnh tranh trong ngành. Tuy nhiên với bề dày kinh
nghiệm cũng như nguồn lực, năng lực và lợi thế cạnh tranh riêng có của
Honda thì có thể vẫn có ưu thế hơn so với các đối thủ cạnh tranh các trên
thị trường Việt Nam.
3.2.2. Đe dọa gia nhập mới

-Trước hết là sự cạnh tranh giữa công ty với các đối thủ cạnh tranh tiềm
năng( là những doanh nghiệp hiện không cạnh tranh trong ngành nhưng
có khả năng sẽ gia nhập vào thị trường). Tại thị Trường Việt Nam, Honda sẽ
cạnh tranh với sự gia nhập mới của các doanh nghiệp kinh doanh xe đạp
điện, xe máy điện và thậm chí là oto điện. Lợi thế cạnh tranh của các doanh
nghiệp này là giá rẻ cũng như tiết kiệm nhiên liệu, thân thiện với môi
trường. Đặc biệt là nguồn nhập khẩu số lượng lớn các loại xe điện từ Trung
Quốc với giá rất rẻ.

- Sau đó là hàng rào về công nghệ, kỹ thuật;
Để có thể tham gia vào ngành công nghiệp xe, đòi hỏi các công ty phải có
một nền tảng công nghệ nhất định, đặc biệt là trình độ công nghệ kỹ thuật
về tự động hóa và chế tạo máy. Đây là một rào cản lớn đối với các doanh

nghiệp. Tuy nhiên đối với tập đoàn lớn mạnh như Honda thì họ tương đối
dễ dàng vượt qua rào cản này khi tham gia vào thị trường Việt Nam.


Vốn đầu tư và hiệu quả kinh tế theo quy mô:
Để tham gia ngành công nghiệp sản xuất xe đòi hỏi các hang phải có nguồn
vốn tương đối lớn. Như đối với Honda, sau hơn 10 năm đặt chân lên Việt
Nam, đã đầu tư hơn 65 triệu USD đẻ xây dựng các nhà máy sản xuất với quy
mô lớn. Đó là một con số khá lớn và là một thách thức không nhỏ cho các
công ty khác nếu họ muốn tham gia vào thị trường và đánh bại Honda trên
đất Việt.



Chuyên biệt hóa sản phẩm
Hầu hết ở Việt Nam thường là các công ty với qui mô vừa và nhỏ nên việc
chuyên biệt hóa về sản phẩm là rất khó. Mặt khác, quy mô của Honda là khá
lớn tại thị trường Việt Nam nên có điều kiện để đầu tư chi phí cho bộ phận
D&R để nghiên cứu tạo ra sự chuyên biệt về sản phẩm sao cho đáp ứng
được yêu cầu địa phương hóa.

Chi phí và sự gia nhập vào hệ thống phân phối
Hệ thống phân phối ở Việt Nam chưa thực sự phát triển. Để một sản phẩm
từ nhà sản xuất đến tay người tiêu dùng sẽ trải qua rất nhiều trung gian
phân phối nên khiến đẩy giá thành sản phẩm lên cao . Do đó, Honda đã áp
dụng hệ thống quản trị chất lượng toàn diện cũng như giảm thời gian lưu
trữ sản phẩm để phân phối sản phẩm sản xuất ra trực tiếp đến người tiêu
dùng thông qua việc đặt trụ sở trực tiếp tại Việt Nam với hệ thống
showroom phục vụ cho việc trưng bày sản phẩm cũng như các đại lý phân
phối nhượng quyền của Honda phủ khắp thị trường Việt Nam
• Chính sách của chính phủ Việt Nam
Việt Nam là quốc gia đang phát triển nên chính phủ luôn đưa ra các chính
sách ưu đãi nhằm thu hút đầu tư nước ngoài: miễn thuế thuê đất cho doanh
nghiệp trong 7 năm, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm đầu, kí
hợp đồng dài hạn 50 năm với đối tác nước ngoài....... bên cạnh đó các thủ
tục hành chính, hải quan đối với công ty nước ngoài cũng đơn giản và dễ
dàng hơn


3.2.3. Quyền lực thương lượng của nhà cung ứng.

Để phục vụ việc sản xuất sản phẩm, Honda đã sử dụng vật tư được cung
ứng từ 10 công ty tại Nhật Bản và 2 công ty lien doanh có nhà máy tại Việt
Nam( VAT và MAP) . Với nhiều nhà cung cấp như vậy có thể cho thấy mức
độ tập trung của các nhà cung cấp là thấp và sức ép của các nhà cung cấp

với Honda là cũng không cao. Hơn nữa giữa Honda và nhà cung cấp của
mình đã liên kết khá lâu nên có thể nói Honda là người mua trung thành
của các công ty trên.
Điều tiếp theo phải nói tới là khả năng hội nhập dọc xuôi chiều của các nhà
cung cấp này là khó xảy ra. Mặc dù việc sản xuất và kinh doanh xe có mang
lại lợi nhuận và thị trường tiêu thụ xe còn rộng khắp nhưng do không có
công nghệ chế tạo đặc thù nên khả năng xuất xe của các nhà cung cấp là
khá thấp.
3.2.4. Sức ép từ khách hàng:

Đối với thị trường xe khách hàng rất đa dạng tuổi tác , nghề nghiệp, điều
kiện vật chất,… bên cạnh đó người mua xe có đặc điểm đáng lưu ý là chủ
yếu mua lẻ, ít khi có trường hợp mua với số lượng lớn, vì thế mà sức ép lên
nhà cung cấp là tương đối nhỏ, nhà cung cấp có quyền định giá
3.2.5. Đe dọa từ sản phẩm thay thế

3.3. Đánh giá rủi ro của thị trường Việt Nam
3.3.1. Rủi ro kinh tế:

Việt Nam là quốc qia đang phát triển nên chịu ảnh hưởng rất lớn từ nền
kinh tế thế giới( cuộc khủng hoảng nhà bank của Mĩ năm 2008 đã ảnh
hưởng đến nền kinh tế Việt Nam) . Vậy nên rủi ro kinh tế là một trong các
rủi ro mà Honda phải đối mặt khi xâm nhập thị trường Việt Nam. Rủi ro
kinh tế thường thể hiện trên các yếu tố sau:
- Suy thoái kinh tế sẽ làm cho doanh thu của doanh nghiệp giảm đi.
- Thâm hụt ngân sách chính phủ rất dễ gây nên sự mất ổn định kinh tế vĩ
mô.
- Kiểm soát giá cả, trần lãi suất, giới hạn thương mại.
- Trách nhiệm của chính phủ đối với việc duy trì và nâng cao mức sống
trong nước thông qua các chỉ tiêu lợi ích công cộng và các chính sách…
Để có thể tránh được các rủi ro này, nhà quản trị dự án cần phải xây dựng
chiến lược marketing và chiến lược sản xuất tại Việt nam:
- Chiến lược marketing:
+ Lựa chọn thị trường: Công ty Honda cần phân đoạn thị trường thành: thị
trường có thu nhập cao, tập chung vào các khách hàng sinh sống ở các
thành phố lớn như Hà nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng,... và thị

trường có thu nhập thấp là các vùng nông thôn. Như vậy, Công ty có thể
tránh được các rủi ro do thu nhập cá nhân gây nên.
+ Chiến lược sản phẩm: Từ việc phân đoạn thị trường ở trên, Công ty cần
phải có cơ cấu sản phẩm phù hợp với các khu vực thị trường này. Đối với
khu vực thành thị nên sản xuất các sản phẩm mang tính chất thời trang,
chú trọng cả về hình thức và động cơ để thu hút người tiêu dung với mức
thu nhập từ tầm trung trở lên , còn ở vùng nông thôn Công ty có thể đưa ra
các mẫu xe vừa có thể là phương tiện giao thông nhưng cũng phát huy
được vấn đề chuyên chở hàng hóa để thu hút khách hàng có mức thu nhập
từ tầm trung trở xuống.
+ Chiến lược giá: Công ty cần xây dựng được chiến lược giá phù hợp để có
thể duy trì sự thị phần khi cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại nhưng giá
rẻ, đặc biệt là các sản phẩm nhập từ Trung quốc. Việc xây dựng chiến lược
giá chủ yếu tính đến các loại xe máy có giá rẻ.
+Chương trình khuyến mãi: Công ty cần nâng cao các chương trình khuyến
mãi như giảm giá bảo dưỡng, tham gia các chương trình quay số,... thông
qua các đại lý của mình trên toàn quốc.
- Chiến lược sản xuất: Như đã nói ở trên để có thể xây dựng được chiến lược
giá nhằm duy trì thị phần, Công ty phải làm một số việc sau: - Đa dạng hoá
các sản phẩm tức là vừa có loại xe đắt tiền, vừa có loại xe rẻ tiền. - Đa dạng
hoá nguồn nhập nguyên vật liệu: Công ty cần chủ động nhập linh kiện từ
nước ngoài để đối phó với chính sách giảm giá tiền tệ đồng thời cũng nhanh
chóng nội địa hoá sản phẩm để giảm giá thành.
3.3.2. Rủi ro chính trị:

- Rủi ro chính trị được định nghĩa như là chính sách của chính phủ áp dụng
mà giới hạn cơ hội kinh doanh của các nhà đầu tư. Cụ thể hơn là những khả
năng mà các cơ quan của chính phủ có thể tạo nên sự thay đổi trong môi
trường kinh doanh của quốc gia mà tác động đến lợi nhuận và các mục tiêu
khác của công ty kinh doanh.
- Các loại rủi ro chính trị thường gặp:
+ Thuế: Đó là sự thay đổi chính sách thuế làm thay đổi khoản thu nhập
cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
+ Hạn ngạch xuất nhập khẩu hoặc các giới hạn thương mại khác

Công ty Honda Việt nam kinh doanh trong môi trường Việt Nam có thể bị
tác động bởi rất nhiều chính sách dễ bị thaytheo thời gian: chính sách về
thuế thu nhập doanh nghiệp, biện pháp phòng vệ thương mại; thuế nhập
khẩu linh kiện, chính sách nội địa hoá hay việc hạn chế phát triển xe máy ở
khu vực có mật độ dân số cao khi cơ sở hạ tầng giao thông còn hạn chế,
v.v... Để hạn chế được những rủi ro này Công ty đã cùng với các doanh
nghiệp đầu tư nước ngoài yêu cầu chính phủ Việt Nam cải thiện môi trường
đầu tư đồng thời cũng tư vấn với các nhà làm luật Việt Nam, ngoài ra,trong
chiến lược marketing của mình Công ty đã đa dạng hoá sản phẩm để đối
phó với những thay đổi liên tục trong chính sách, chẳng hạn Công ty đã đưa
ra sản phẩm xe Wave a với giá rất phù hợp, có thể cạnh tranh về giá với sản
phẩm ngoại nhập và phù hợp với thu nhập của khu vực có thu nhập thấp ở
vùng nông thôn Việt Nam. Cũng một biện pháp nữa để tránh rủi ro tại Việt
Nam là Công ty đã lập nên một số Công ty cung cấp phụ tùng, linh kiện có sự
góp vốn của các nhà đầu tư Việt Nam, như vậy công ty có thể hạn chế việc bị
sung công tài sản.
3.3.3. Rủi ro pháp lý.

Rủi ro pháp lý thường xuất phát từ :
+ Thay đổi luật kinh doanh của Nam : qui định về môi trường, về lao động,
về nhãn hiệu ...
+Thiếu kiến thức về pháp lý nói chung hay về ký kết hợp đồng kinh tế.
Đối với Công ty Honda Việt Nam vấn đề tránh rủi ro về mặt pháp lý tập
chung vào việc giữ vững nhãn hiệu hàng hoá bởi vì hiện nay Honda Việt
nam đang phải tranh chấp về mặt kiểu dáng một số loại xe máy do các
doanh nghiệp ngoài nước, đặc biệt là xe máy do Trung Quốc sản xuất. Để
phòng ngừa rủi ro này, Công ty phải tranh thủ sự bảo vệ của các cơ quan
của chính phủ như Cục sở hữu công nghiệp, cơ quan an ninh, ... để tránh
việc làm nhái mẫu mã.
.
3.3.4. Rủi ro về văn hoá:

Thông thường sự khác nhau về văn hoá sẽ làm tăng sự hiểu lầm trong
nhiều khía cạnh. Trong kinh doanh rủi ro về văn hoá có thể gây ra bởi một
số nguyên nhân sau:
+ Không tìm hiểu kỹ về văn hoá của nơi định đầu tư: Phong tục tập quán,
ngôn ngữ,... do đó có thể gây ra sự hiểu lầm nhau trong đàm phán cũng như
trong việc quảng cáo.

+ Không am hiểu các tập quán kinh doanh của nước chủ nhà
+ Không am hiểu phong cách thực hành quản lý của các doanh nghiệp của
từng nước.
Để tránh được vấn đề rủi ro này Công ty cần phải hiểu một cách sâu sắc văn
hoá của người Việt tránh được những hiểu lầm không đáng có trong quá
trình kinh doanh. Tuy nhiên, công nhân Việt nam làm tại Công ty cũng cần
phải hiểu rõ phong cách quản lý của người Nhật là: Định hướng chiến lược
dài hạn do đó các cam kết về lao động là dài hạn, làm việc theo tập thể, lãnh
đạo theo kinh nghiệm thâm niên,...để cả hai quốc gia có thể hợp tác có hiệu
quả.
→ Có thể nói vấn đề phát hiện ra các loại rủi ro và đưa ra các phương
pháp để quản trị rủi ro là một bài toán phức tạp cho các doanh nghiệp. Để
có thể hạn chế rủi ro đòi hỏi các doanh nghiệp phải đầu tư trong rất nhiều
lĩnh vực như các chính sách về marketing, phát triển công nghệ, con người.
Tuy nhiên, phải khẳng định rằng với kinh nghiệm kinh doanh đã tích luỹ
được trong việc hạn chế rủi ro thì Công ty Honda Việt nam sẽ hoạt động
thành công trên thị trường Việt nam.
=>Qua việc phân tích các yếu tố về thị trường, cạnh tranh cũng như mức độ
rủi ro của thị trường Việt Nam , ta có thể đánh giá: thị trường Việt Nam là
một thị trường hấp dẫn, có nhiều nhân tố thuận lợi cho Honda xâm nhập
vào. Tuy nhiên khi xâm nhập vào thị trường Việt Nam thì Honda cần xem
xet các nhân tố rủi ro để điều chỉnh chiến lược kinh doanh sao cho phù hợp
và đạt được chiến lược kinh doanh toàn cầu của mình.

C KẾT LUẬN
Thị trường xe gắn máy tại Việt Nam luôn được đánh giá là một thị trường
đầy tiềm năng và triển vọng. Nhu cầu đi lại của người dân ngày càng tăng
khiến cho thị trường này ngày càng sôi động và hấp dẫn. Hơn 10 năm qua
kể từ khi gia nhập vào thị trường Việt Nam cùng với tiềm lực tài chính
vững mạnh, nhà lãnh đạo tài ba, đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ,
hệ thống đại lí phân phối rộng khắp và những nỗ lực không ngừng nghỉ
nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu khách hàng ngày
một tốt hơn, Honda đã từng bước khẳng định mình và trở thành doanh
nghiệp sản xuất, lắp ráp và kinh doanh xe gắn máy hàng đầu. Từ đó thương
hiệu Honda trở thành một thương hiệu để lại ấn tượng sâu sắc trong tâm
trí khách hàng, cũng như nhận được nhiều sự yêu thích, tin dùng nhất. Tuy
nhiên nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển, xu thế toàn cầu hóa mở
rộng , sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt thì việc các doanh nghiệp kinh
doanh nói chung và công ty Honda nói riêng cần phải nhận thức rõ điểm
mạnh , điểm yếu của mình, am hiểu, nhìn nhận và đánh giá về môi trường
bên ngoài tác động như thế nào đến công ty để đưa ra chiến lược kinh
doanh phù hợp , giữ vững được tên tuổi của mình trên thị trường.