Tải bản đầy đủ
2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại NH VPbank Hà Nội.

2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại NH VPbank Hà Nội.

Tải bản đầy đủ

Luận văn tốt nghiệp

Đại học Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội

nguồn vốn này. Tuy nhiên, CN cần có những giải pháp thích hợp hơn để thu hút
được nguồn vốn dồi dào này.
Thứ nhất, Đa dạng hoá các hình thức gửi tiền tiết kiệm trong dân cư bao
gồm cả tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi sử dụng thẻ, trái phiếu, kỳ phiếu. Áp dụng
hình thức gửi nhiều lần lấy gọn một lần, tiết kiệm gửi góp, tiết kiệm tuổi già, tiết
kiệm tích luỹ, hay tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm nhà ở... Với những hình thức
này, Ngân hàng có thể tăng cường được nguồn vốn huy động, đặc biệt là vốn
trung dài hạn.
Thứ hai, Quầy gửi tiền tiết kiệm của dân chúng phải phân bổ ở nhiều nơi,
đảm bảo thuận tiện cho khách hàng.
Thứ ba, VPBANK Hà Nội cần cải tiến thời gian làm việc để thuận tiện
cho người gửi, rút tiền. Nên chăng các quầy giao dịch bố trí người làm việc sớm
hơn và nghỉ muộn hơn (thậm chí giao dịch cả tối và ngày nghỉ). Đây là một vấn
đề rất quan trọng vì có những người chỉ có ngoài giờ làm việc hoặc ngày nghỉ
mới có thời gian để đến Ngân hàng gửi tiền cũng như rút tiền.
Thứ tư, Cải cách lề lối làm việc, thủ tục trong việc huy động vốn qua các
tài khoản tiền gửi tiết kiệm. Tránh sử dụng nhiều chứng từ, thủ tục rườm rà, tốn
công sức, tiền của của Ngân hàng mà khách hàng lại không hài lòng.
Sự linh hoạt về kỳ hạn cũng là một sự hấp dẫn tiền gửi. Bên cạnh các kỳ
hạn đang áp dụng, ngân hàng mở rộng thêm các thời hạn gửi tiền như 9 tháng, 2
năm, 3 năm, 5 năm... và thậm chí 10 năm. Việc áp dụng hình thức gửi tiền tiết
kiệm có kỳ hạn với thời hạn khác nhau sẽ tăng nguồn vốn trung và dài hạn, tạo
điều kiện đa dạng hoá các hình thức sử dụng vốn tại ngân hàng. Tuy nhiên, để có
thể thu hút vốn dài hạn, ngân hàng nên phát hành "phiếu tiết kiệm có kỳ hạn
chuyển nhượng" ngay tại các quỹ tiết kiệm của ngân hàng. Với loại tiết kiệm có
kỳ hạn này có thể dung hoà được lợi ích hai bên: ngân hàng và người gửi tiền.
Người gửi tiền tiết kiệm chủ động khi cần rút vốn ra chi tiêu đột xuất, đồng thời
ngân hàng tạo được nguồn vốn ổn định.

35
GVHD : GS.TS Vũ Văn Hóa

35
SV : Đỗ Băng Thanh

Luận văn tốt nghiệp

Đại học Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội

Ngoài ra, cần có giải pháp tự động chuyển hoá tiền gửi không kỳ hạn sang
có kỳ hạn cho dân. Ví dụ: những người đã gửi tiền tiết kiệm không kỳ hạn ở
ngân hàng từ 2 tháng trở lên có thể chuyển cho họ được hưởng quyền lợi về tiền
gửi tiết kiệm có kỳ hạn.
b. Đa dạng hóa tài khoản tiền gửi cá nhân
Hình thức này giúp ngân hàng thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư
với lãi suất thấp. Đồng thời, phát triển tài khoản cá nhân góp phần hiện đại hoá
quá trình thanh toán qua ngân hàng, giảm tỷ lệ tiền mặt trong lưu thông, tiết
kiệm chi phí lưu thông.
Việc mở tài khoản tiền gửi cá nhân là nhu cầu cấp thiết xét về góc độ đáp
ứng nhu cầu phát triển các dịch vụ ngân hàng cho mọi tầng lớp dân cư và xu
hướng thanh toán không dùng tiền mặt của một nền kinh tế phát triển. Để tăng
số lượng tài khoản này lên, đồng nghĩa với việc tăng doanh số thanh toán qua tài
khoản, góp phần thúc đẩy quá trình thanh toán không dùng tiền mặt trong xã hội
thì VPBANK Hà Nôi cần chú ý hơn nữa đến hình thức. Bởi vì nước ta vẫn còn
nghèo, thu nhập bình quân thấp, tâm lý của người dân Việt Nam vẫn quen sử
dụng tiền mặt. Vì vậy khái niệm mở tài khoản cá nhân và thanh toán qua ngân
hàng với nhiều người vẫn còn rất mới mẻ. Hơn nữa, lãi suất huy động đối với
loại tài khoản này là rất thấp (lãi suất không kỳ hạn) ngược hẳn với tâm lý của
người gửi tiền vào ngân hàng luôn mong hưởng lãi suất cao.Về phía Ngân hàng
cần có những biện pháp tác động như sau:
c. Phát triển và mở rộng hình thức huy động vốn qua tài khoản của các
doanh nghiệp
Hiện nay, số lượng doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn Hà Nội là rất lớn,
quan hệ thương mại phức tạp. Nhiều doanh nghiệp (nhất là doanh nghiệp tư
nhân) không mở tài khoản thanh toán ở Ngân hàng hoặc thanh toán với nhau
bằng tiền mặt không qua ngân hàng. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động
thanh toán của hệ thống NHTM nói chung và VPBANK Hà Nội nói riêng, qua
đó hạn chế hiệu quả huy động vốn - cho vay của Sở. Vì vậy, trong thời gian tới,
36
GVHD : GS.TS Vũ Văn Hóa

36
SV : Đỗ Băng Thanh

Luận văn tốt nghiệp

Đại học Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội

VPBANK Hà Nội cần có những giải pháp đúng đắn để thu hút nguồn vốn này
như:
* Cử cán bộ xuống tận doanh nghiệp, giới thiệu cho doanh nghiệp các loại
tài khoản và những tiện ích của chúng. Đồng thời có chính sách ưu đãi khuyến
khích doanh nghiệp mở tài khoản và thanh toán qua ngân hàng.
* Bám sát quá trình sản xuất kinh doanh, quá trình luân chuyển vật tư
hàng hoá và kỳ hạn nợ của các TCKT để động viên khách hàng nhanh chóng
tiêu thụ sản phẩm, nộp tiền cho Ngân hàng đúng hạn thanh toán. Với những
khách hàng có doanh thu lớn, VPBANK Hà Nội có biện pháp thu tại chỗ theo
lịch thỏa thuận với đơn vị, tạo mối quan hệ tốt đẹp trong mối quan hệ kinh
doanh với bạn hàng.
* Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu có mục đích với hình thức đa dạng hơn
như trả lãi trước, trả lãi sau, trả lãi định kỳ. Kỳ hạn đa dạng hơn, lãi suất áp dụng
linh hoạt hơn trên cơ sở hoạt động của ngân hàng có lãi.
* Ngoài việc đa dạng hoá các hình thức huy động còn có thể qua tư vấn
môi giới, cầm đồ, tín dụng thu mua...
3.2.2. Gắn liền huy động vốn với sử dụng vốn có hiệu quả
Trong hoạt động Ngân hàng, giữa nguồn vốn và sử dụng vốn có quan hệ
thường xuyên, tác động hỗ trợ lẫn nhau, chi phối lẫn nhau. Nguồn vốn là cơ sở,
là tiền đề để Ngân hàng thực hiện công tác sử dụng vốn. Nhưng chỉ khi Ngân
hàng tiến hành cho vay quay vòng vốn thì nguồn vốn mới sinh lời. Do đó, sử
dụng vốn là căn cứ quan trọng để Ngân hàng xác định nguồn vốn cần huy động.
Nước ta đang trong giai đoạn trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước nên việc đầu tư tín dụng có chiều hướng tăng trưởng mạnh. Nhưng việc
mở rộng tín dụng phải đi đôi với việc nâng cao chất lượng, đảm bảo an toàn vốn
và tăng trưởng. VPBANK Hà Nội I cần đưa ra các giải pháp thích hợp cho việc
huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả:
* Thường xuyên bám sát chủ trương, đường lối phát triển kinh tế xã hội
của thành phố, bám sát mục tiêu, biện pháp của ngành. Nắm chắc thị trường, cả
37
GVHD : GS.TS Vũ Văn Hóa

37
SV : Đỗ Băng Thanh

Luận văn tốt nghiệp

Đại học Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội

thị trường hiện tại và thị trường dự báo để xây dựng chiến lược tổng thể về bề
rộng của thị trường.
* Thực hiện phương châm cho vay an toàn - hiệu quả. Kế toán cho vay
phải tuân thủ nghiêm ngặt các tỷ lệ giới hạn an toàn vốn trong kinh doanh được
qui định trong Luật NHNN và Luật Các TCTD bao gồm:
- Tỷ lệ đảm bảo an toàn về khả năng chi trả gồm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ
lệ đảm bảo khả năng thanh toán theo qui định của NHNN.
- Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu.
- Tỷ lệ tối đa dư nợ cho vay trên vốn huy động.
- Tỷ lệ cho vay tối đa trên vốn tự có.
- Tỷ lệ chuyển hoá vốn
- Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ...
3.2.3. Thực hiện tốt chính sách khách hàng và chiến lược marketing
hiệu quả
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, ngân hàng cần hiểu rõ lợi ích của
ngân hàng hoàn toàn phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, vào
lợi ích của người gửi tiền. Vì vậy, ngân hàng phải có chính sách khách hàng
đúng đắn. Đó là thu hút nhiều khách hàng, duy trì, mở rộng khách hàng truyền
thống, đảm bảo lợi ích cho cả ngân hàng và khách hàng, chiến lược kinh doanh
của ngân hàng cũng phải nhằm giúp đỡ doanh nghiệp khắc phục những khó
khăn yếu kém, tạo mối quan hệ lâu dài. Ngân hàng chia khách hàng ra làm nhiều
loại để có cách đối xử cho phù hợp. Những khách hàng lâu năm, có số dự tiền
gửi lớn, được ngân hàng tín nhiệm, thì ngân hàng sẽ có chính sách ưu tiên về lãi
suất, kỳ hạn món vay cũng như việc xét thưởng.
Để thu hút khách hàng đến với ngân hàng ngày một nhiều thì ngân hàng
phải đặt ra chiến lược khách hàng. Vì lợi ích của khách hàng, ngân hàng cần có
phòng Marketing riêng chuyên thu thập thông tin, nắm bắt nhu cầu của khách
hàng, phân loại thị trường, phân loại khách hàng để từ đó có cách xử lý cho phù
hợp.
38
GVHD : GS.TS Vũ Văn Hóa

38
SV : Đỗ Băng Thanh

Luận văn tốt nghiệp

Đại học Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội

Thêm vào đó, hoạt động khuyếch trương, quảng cáo đối với ngân hàng là
không bao giờ thừa bởi hiện nay rất nhiều người dân chi mới quen với việc đến
ngân hàng chỉ gửi tiền để lấy lãi. Họ chưa quen với các dịch vụ của ngân hàng,
khái niệm sản phẩm ngân hàng đối với họ còn rất trừu tượng. Do vậy, VPBANK
Hà Nội cần có những hình thức tuyên truyền, quảng cáo, giới thiệu để đưa thông
tin đến với khách hàng để họ biết tới hoạt động của ngân hàng. Đồng thời họ
thấy được lợi ích khi giao dịch với ngân hàng, về lãi suất, về các chính sách ưu
đãi của các hình thức huy động vốn của ngân hàng.
Việc nắm bắt được thông tin của khách hàng, nắm bắt được thông tin của
thị trường sẽ giúp cho ngân hàng tận dụng được hấu hết các cơ hội. Từ đó có
những định hướng, chính sách huy động phù hợp hơn, đa dạng hơn.
3.2.4. Tăng cường công tác kiểm tra kiểm toán nội bộ.
Nhằm kịp thời phát hiện những tồn tại, thiếu sót để tìm biện pháp khắc
phục hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay và huy động vốn . Chú trọng công
tác tự kiểm tra, kiểm soát nội bộ để nâng cao chất lượng mọi mặt hoạt động
nghiệp vụ và khả nâng điêu hành của các bộ phận.
3.2.5 Nâng cao văn hóa doanh nghiệp
Vấn đề văn hoá doanh nghiệp còn là một vấn đề mới mẻ trong các doanh
nghiệp Việt Nam, mặc dù nó là yếu tố cơ bản, có tác động rất nhiều tới thành
công hay thất bại của công việc kinh doanh. Trong thời kì các ngân hàng đang
cạnh tranh nhau quyết liệt như hiện nay, hơn bao giờ hết văn hoá doanh nghiệp
có một tầm quan trọng đặc biệt. Nó là tài sản vô hình, là nguồn lực tạo ra lợi thế
cạnh tranh.
3.2.6 Tiếp tục bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ cho nhân viên
Trong xu thế phát triển, máy móc sẽ thay thế con người. Tuy nhiên, trong
bất kỳ hoàn cảnh nào, những nhân viên ngân hàng chuyên nghiệp là không thể
thay thế. Nhận thức được tầm quan trọng của yếu tố người trong quá trình phát
triển, ngân hàng VPbank Hà Nội đã tổ chức nhiều khoá học, các lớp bồi tiềnỡng
về nghiệp vụ... Bước sang năm 2014, các hoạt động này cần được đẩy mạnh hơn
39
GVHD : GS.TS Vũ Văn Hóa

39
SV : Đỗ Băng Thanh

Luận văn tốt nghiệp

Đại học Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội

nữa.
Một trong những yếu tố làm tăng tính cạnh tranh của Ngân hàng VPbank
Hà Nội là các nhân viên làm việc có chất lượng cao. Đó là các nhân viên ngân
hàng chuyên nghiệp mà các nhân viên ngân hàng công thương Hoàn Kiếm đang
hướng tới :
- Hiểu biết khách hàng.
- Hiểu biết nghiệp vụ.
- Hiểu biết quy trình.
- Hoàn thiện phong cách phục vụ.
3.3 Một số kiến nghị
3.3.1 Với chính phủ
Giải pháp huy động vốn của Chi nhánh NHĐT&PT HD cũng như nhiều
NHTM khác chỉ có thể thực hiện tốt được nếu có các điều kiện kinh tế - xã hội
và pháp lý cần thiết tạo nên một hệ thống các giải pháp hỗ trợ tác động tới công
tác huy động vốn của ngân hàng. Đó chính là vai trò của Nhà nước, của Chính
phủ trong việc ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, môi trường pháp lý và môi
trường tâm lý phù hợp với quy luật của nền kinh tế thị trường. Vì vậy, ở tầm
quản lý vĩ mô, Nhà nước cần quan tâm tới các yếu tố sau:
a- Ổn định môi trường kinh tế vĩ mô
Môi trường kinh tế vĩ mô bao gồm nhiều yếu tố có tính chất bao trùm lên
toàn bộ hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh tế như: Tăng trưởng kinh tế,
lạm phát, thâm hụt cán cân thanh toán, ngân sách, tỉ giá đồng bộ.
Điều này không những không đảm bảo được quyền lợi cho người gửi tiền
mà còn gây khó khăn cho ngân hàng trong việc thực thi các điều khoản của pháp
luật. Bởi chưa có một chuẩn mực chung cho các ngân hàng nên các ngân hàng
đều thực hiện theo một quy định của riêng mình và gây không ít khó khăn, trở
ngại cho khách hàng khi đến giao dịch với ngân hàng.
Tất cả các yếu tố trên có ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh ngân hàng
và tác động rất lớn đến công tác huy động vốn.
40
GVHD : GS.TS Vũ Văn Hóa

40
SV : Đỗ Băng Thanh

Luận văn tốt nghiệp

Đại học Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội

b- Tạo lập môi trường pháp lý ổn định, đồng bộ
Hoạt động của các NHTM nằm trong một môi trường pháp lý do Nhà
nước quy định, chịu sự tác động của hệ thống pháp luật về kinh doanh ngân
hàng. Vì vậy, tạo lập môi trường pháp lý ổn định, đồng bộ là điều kiện thuận lợi
để các NHTM hoạt động kinh doanh có hiệu quả theo đúng quy định của luật
pháp.
Hiện nay, hệ thống luật kinh tế nước ta đã có những điều chỉnh, sửa đổi
phù hợp với tình hình kinh tế chung trên đất nước song chưa thực sự thống nhất
và đồng bộ. Các ngân hàng vẫn còn tình trạng thực hiện theo những qui định
riêng của mình. Điều này không những không đảm bảo được quyền lợi của
người gửi tiền mà còn gây khó khăn cho ngân hàng trong việc thực thi các điều
khoản của pháp luật. Do đó, để dảm bảo quyền chính đáng của người đầu tư
(đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp qua ngân hàng) và người sử dụng vốn đầu tư
cần có một hệ thống pháp luật đồng bộ như luật bảo vệ quyền tài sản cá nhân,
luật chứng khoán và thị trường chứng khoán, luật kế toán và kiểm soát độc lập.
Việc ban hành hệ thống pháp lý đồng bộ rõ ràng sẽ tạo niềm tin của công
chúng. Đồng thời, với những qui định khuyến khích của Nhà nước sẽ tác động
trực tiếp tới việc điều chỉnh quan hệ giữa người tiêu dùng và tiết kiệm, chuyển
một phần tiêu dùng sang đầu tư, chuyển dần cất trữ tài sản dưới dạng vàng,
ngoại tệ, bất động sản sang đầu tư vào sản xuất kinh doanh hay gửi vốn vào
ngân hàng.
3.3.2 Với NHNN VN
NHNN là nơi hoạch định các chính sách tiền tệ quốc gia với mục tiêu ổn
định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã
hội, nâng cao đời sống nhân dân. Do đó, các biện pháp khả dĩ có thể thực hiện
được nhằm khuyến khích người dân gửi tiền vào ngân hàng, đó là NHNN cần
xây dựng và điều hành một chính sách tiền tệ ổn định và hợp lý hơn. Chính sách
này phải theo sát với tín hiệu của thị trường. Các can thiệp của NHNN phải
41
GVHD : GS.TS Vũ Văn Hóa

41
SV : Đỗ Băng Thanh