Tải bản đầy đủ
Chương 1: Khái quát về vốn kinh doanh và hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại.

Chương 1: Khái quát về vốn kinh doanh và hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại.

Tải bản đầy đủ

Luận văn tốt nghiệp

Đại học Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội

Tiền gửi của khách hàng được chia làm hai bộ phận: Tiền gửi của doanh
nghiệp, tổ chức kinh tế và tiền gửi tiết kiệm của dân cư.
*Tiền gửi của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế bao gồm:
-Tiền gửi không kỳ hạn.
Đây là khoản tiền gửi mà khách hàng có thể rút ra bất kỳ lúc nào và ngân
hàng phải thoả mãn yêu cầu đó của khách hàng, thực chất đó là khoản tiền gửi
dùng để đảm bảo trong thanh toán.
Tiền gửi đảm bảo thanh toán được ký ýthác vào ngân hàng để thực hiện
các khoản chi trả khác phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của khách
hàng một cách thuận tiện và tiết kiệm. Đây là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi chờ
thanh toán mà không phải để dành. Bởi vậy đối với khách hàng đây là một tài
sản mà họ ký thác uỷ nhiệm cho ngân hàng bảo quản và thực hiện các nghiệp vụ
liên quan theo yêu cầu của khách hàng. Do vậy khách hàng không mất quyền sở
hữu, cũng như quyền sử dụng số tiền đó. Họ có quyền lấy ra hoặc chuyển
nhượng cho bất kỳ ai và bất kỳ thời gian nào. Khách hàng được sử dụng số tiền
của mình bằng các phương tiện thanh toán dùng để chi trả như séc, uỷ nhiệm
chi, thư chuyển tiền…
Đối với ngân hàng đây là một khoản nợ mà ngân hàng có nghĩa vụ thực
hiện lệnh thanh toán chi trả cho người thụ hưởng loại tiền gửi này, lãi suất
thường thấp hơn lãi suất trả cho các khoản tiền gửi có lãi khác.Nhưng khi khách
hàng mở và sử dụng các loại tài khoản này thì được ngân hàng cung ứng các loại
dịch vụ miễn phí hoặc thu với tỷ lệ thấp, lượng tiền vốn ở tài khoản thanh toán
thường chiếm gần 1/3 tiền gửi ngân hàng.
Như vậy các tài khoản này đã đem lại cho khách hàng sự an toàn trong
việc bảo quản vốn và trong qúa trình thanh toán trả tiền hàng hoá dịch vụ, ngoài
ra khách hàng còn được hưởng một khoản tiền lãi nhỏ và một số dịch vụ miễn
phí. Còn đối với ngân hàng phải bỏ ra một số chi phí cho bộ máy kế toán theo
dõi và nghi chép các nghiệp vụ phát sinh, chi phí phát hành séc và một số dịch
vụ kèm theo. Chi phí này khá lớn, nhưng nó được bù đắp lại bởi vì trên thực tế
4
GVHD : GS.TS Vũ Văn Hóa

4
SV : Đỗ Băng Thanh

Luận văn tốt nghiệp

Đại học Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội

do lượng tiền gửi vào và số lượng tiền rút ra không cùng một lúc và chủ tài
khoản thường không sử dụng hết số tiền của mình trên tài khoản. Do đó luôn tồn
tại một số tiền trên tài khoản trong một thời gian dài số dư ấy được ngân hàng
dùng để đầu tư cho vay đối với một số doanh nghiệp, cá nhân thiếu vốn sản
xuất, kinh doanh để thu lợi nhuận. Như vậy đối với tài khoản tiền gửi thanh toán
số dư trên tài khoản giao dịch không những bù đắp được chi phí mà còn có thể
mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
Ngày nay do điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển, nhiều công nghệ mới
được ứng dụng vào hoạt động ngân hàng. Vì vậy đã có nhiều doanh nghiệp, cá
nhân mở tài khoản giao dịch tại ngân hàng, làm cho lượng tiền gửi này ngày
càng gia tăng. Đó là những nguồn vốn dùng để cho vay hết sức quan trọng của
ngân hàng, đồng thời lợi nhuận thu về từ nguồn vốn này cũng ngày càng tăng.
- Tiền gửi có kỳ hạn.
Tiền gửi có kỳ hạn là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của doanh nghiệp,
chưa sử dụng đến trong một thời gian nhất định, mà khoảng thời gian này được
xác định trước. Do đó cá doanh nghiệp thường gửi vào ngân hàng dưới hình
thức tiền gửi có kỳ hạn. Phần lớn các nguồn tiền gửi này xuất phát từ nguồn tích
luỹ của các doanh nghiệp mà có. Về nguyên tắc khách hàng chỉ được rút tiền ra
khi đến hạn và được hưởng số tiền lãi trên số tiền gửi đó. Nhưng hiện nay để thu
hút vốn nhằm khuyến khích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, các NHTM cho
phép khách hàng rút tiền ra trước thời hạn. Trong trường hợp này khách hàng
không được hưởng lãi hoặc chỉ được hưởng theo lãi suất của tiền gửi không kỳ
hạn.
Do tính chất của loại tiền vốn tương đối ổn định, ngân hàng có thê sử
dụng phần lớn số dư loại nguồn vốn này để cho vay trung và dài hạn. Nếu nguồn
vốn này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động sẽ tạo điều kiện
thuận lợi, chủ động của ngân hàng trong quá trình kinh doanh, các NHTM
thường đưa ra nhiều loại kỳ hạn nhằm đáp ứng nhu cầu tiền gửi của khách hàng.
Hiện tại các NHTM có các loại tiền gửi có kỳ hạn 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 6
5
GVHD : GS.TS Vũ Văn Hóa

5
SV : Đỗ Băng Thanh

Luận văn tốt nghiệp

Đại học Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội

tháng 9 tháng, 1 năm, 2 năm. Với mỗi một kỳ hạn khác nhau thì ngân hànng áp
dụng một loại lãi suất khác nhau. Thông thường thì thời hạn càng dài thì lãi suất
càng cao. Các NHTM thường khuyến khích khách hàng gửi tiền với thời hạn
dài, vì loại tiền này tương đối ổn định, ngân hàng sẽ chủ động trong kinh doanh.
Để thu hút được nhiều nguồn vốn dài hạn thì tốc độ phát triển nền kinh tế phải
ổn định, giá trị đồng tiền được đảm bảo, lạm phát vừa phải (thường là một con
số một năm) và tình hình hoạt động kinh doanh của các ngân hàng có hiệu quả.
* Tiền gửi tiết kiệm dân cư:
Tiển gửi tiết kiệm là khoản tiền để dành của mỗi các nhân được gửi vào
Ngân hàng, nhằm hưởng lãi suất theo qui định. Tiền gửi tiết kiệm là bộ phận thu
nhập bằng tiền gửi của cá nhân chưa sử dụng được gửi vào tổ chức tín dụng. Nó
là một dạng đặc biệt của tích luỹ tiền tệ trong tiêu dùng cá nhân. Khi gửi tiền
người gửi tiền được giao một sổ tiết kiệm coi như một giấy chứng nhận tiền gửi
vào Ngân hàng. Đến thời hạn khách hàng rút tiền ra được nhận một khoản tiền
lãi trên tổng số tiền gửi tích kiệm.
Có hai loại tiền gửi tiết kiệm là:
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
Loại tiền gửi này người gửi tiền có thể rút ra một phần hoặc toàn bộ số
tiền gửi bất kỳ lúc nào. Nhưng khác với loại tiền gửi thanh toán, người gửi tiền
không được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả cho người khác, lãi suất
tiền gửi tiết kiệm thường cao hơn và phần lớn những người gửi tiền tiết kiệm là
do chưa xác định được nhu cầu chi tiêu cụ thể trong tương lai, nhưng lại hưởng
mức lãi trong thời gian khoản tiền nhàn rỗi.
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.
Khi cá nhân gửi tiền vào ngân hàng loại tiền gửi tích kiệm có kỳ hạn trên
cơ sở thoả thuận giữa khách hàng và ngân hàng về thời hạn gửi, lãi suất theo qui
định và khách hàng chỉ được rút tiền ra khi đến hạn. Nhưng trong thực tế ở nước
ta hiện nay để khuyến khích người gửi tiền các NHTM vẫn cho khách hàng rút

6
GVHD : GS.TS Vũ Văn Hóa

6
SV : Đỗ Băng Thanh

Luận văn tốt nghiệp

Đại học Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội

ra trước thời hạn và được hưởng lãi suất thấp hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn
(thông thường bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn).
Do nguồn vốn huy động từ loại tiền gửi này mang tính ổn định, cho nên
các NHTM thường đưa ra nhiều loại kỳ hạn khác nhau như loại 3 tháng, 6 tháng,
12 tháng, 24 tháng… nhằm thu hút càng nhiều nguồn vốn với lãi suất của các kỳ
hạn khác nhau. Thông thường kỳ hạn ngày càng dài thì lãi suất huy động ngày
càng cao (lãi suất tiền gửi có kỳ hạn lớn hơn lãi suất tiền gửi không kỳ hạn và
tiền gửi thanh toán).
Nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm của dân cư có số lượng lớn thứ
hai trong tổng số các loại tiền gửi vào ngân hàng và nó phục thuộc rất lớn vào
thu nhập bình quân theo đầu người, tỷ lệ tiết kiệm trên tổng thu nhập của dân cư,
chất lượng phục vụ của NHTM, sự ổn định đồng tiền và nền kinh tế tăng trưởng
vững chắc.
b. Tạo vốn qua phát hành công cụ nợ.
Vốn phát hành của ngân hàng, đây là hình thức huy động vốn thông qua
phát hành kỳ phiếu, trái phiếu…Đó là các công cụ nợ của ngân hàng.
Đặc điểm của loại vốn này là lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm.
Mục đích huy động dùng để đáp ứng cho các dự án đầu tư lớn. Nguồn vốn này
được huy động theo nhiều thời hạn khác nhau như ngắn hạn, trung hạn, dài hạn.
Thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao. Hiện nay ở Việt nam các NHTM thường
huy động nguồn vốn này dưới hình thức phát hành kỳ phiếu có mục đích và trái
phiếu trung, dài hạn.
* Phát hành kỳ phiếu có mục đích.
Khi các NHTM có nguồn vốn tài chính dồi dào để tài trợ cho các nguồn
vốn có qui mô lớn, nhằm phát triển kinh tế địa phương, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế hoặc liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế mà các nguồn vốn tự có chưa
đáp ứng được, NHTM trình ngân hàng Nhà nước xin phép phát hành kỳ phiếu
để tạo nguồn vốn tín dụng tương đối lâu dài cho các hoạt động này.

7
GVHD : GS.TS Vũ Văn Hóa

7
SV : Đỗ Băng Thanh

Luận văn tốt nghiệp

Đại học Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội

Như vậy kỳ phiếu là một chứng chỉ huy động vốn có mục đích, có thời
hạn, người sở hữu có thể chuyển nhượng cho người khác qua chứng nhận của
ngân hàng, vì trên sổ kỳ phiếu có ghi tên người hưởng. Kỳ phiếu ngân hàng
được phát hành nhằm huy động vốn trong dân cư một cách linh hoạt có tác dụng
thu hút cá nguồn tiền nhàn rỗi vào ngân hàng, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn
định giá trị của đồng tiền, tạo nguồn vốn trung dài hạn để đầu tư cho các dự án
phát triển kinh tế.
* Phát hành trái phiếu.
Trái phiếu ngân hàng thực chất là giấy nhận nợ có kỳ hạn của ngân hàng
đối với những người mua trái phiếu (nhà đầu tư). Trái phiếu được các NHTM
hay các tổ chức tín dụng phát hành nhằm huy động vốn cho chính bản thân ngân
hàng hoặc các tổ chức tín dụng có liên quan. Thời hạn của trái phiếu thường lớn
hơn một năm. Lãi suất của trái phiếu thường cao hơn lãi suất của tiền gửi tiết
kiệm, kỳ phiếu. Các NHTM phát hành trái phiếu trên cơ sở nhu cầu sử dụng vốn
thông qua các dự án đầu tư của các doanh nghiệp mà ngân hàng cam kết cho
vay.
Huy động vốn thông qua việc phát hành các công cụ nợ của các NHTM
như kỳ phiếu, trái phiếu là một hình thức mới trong công tác huy động vốn của
NHTM ở cá nước đang phát triển. Vốn được huy động từ hình thức này dùng để
đầu tư cho các dự án trung và dài hạn.
ở nước ta hình thức này được Ngân hàng sử dụng từ năm 1992. Nhưng
cho đến nay khối lượng vốn huy động của NHTM qua hình thức này vẫn còn
thấp so với các hình thức huy động vốn truyền thống khác. Để phát huy được thế
mạnh của công cụ huy động vốn này đòi hỏi phải có thị trưòng vốn hoàn chỉnh
(thị trưòng chứng khoán). ở nước ta thị trường này mới được thành lập cho nên
hoạt động của nó chưa ảnh hưởng nhiều đến hoạt động huy động vốn của ngân
hàng.
b. Vốn vay từ các tổ chức tín dụng khác và ngân hàng Trung ương.

8
GVHD : GS.TS Vũ Văn Hóa

8
SV : Đỗ Băng Thanh

Luận văn tốt nghiệp

Đại học Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội

Khi các NHTM có sự mất cân đối giữa nguồn vốn huy động và sử dụng
vốn, xảy ra hiện tượng thiếu vốn đột xuất.
Để đảm bảo khả năng thanh toán của mình, các tổ chức tín dụng vay vốn
của nhau qua thị trường liên ngân hàng. Thị trường này giúp cho NHTM bổ
sung nguồn vốn cho nhau, nhằm giải quyết tình trạng thiếu hụt vốn trong thanh
toán. Hoạt động của thị trường này nhằm tận dụng đến mức cao nhất các khả
năng sẵn có một cách triệt để của các tổ chức tín dụng, trước khi có nhu cầu vay
vốn của ngân hàng Trung ương.
Việc thực hiện quan hệ tín dụng giữa các NHTM phải được tiến hành theo
nguyên tắc đi vay cho vay và phải được thoả thuận trên cơ sở hợp đồng tín dụng,
vốn vay phải đảm bảo bằng thế chấp, cầm cố (tiền mặt tại quĩ và các chứng từ có
giá trị), hay NHTM đi vay có thể xin ngân hàng Nhà nước bảo lãnh để vay vốn
các ngân hàng khác. Các ngân hàng đi vay phải chấp hành đầy đủ các quy chế
dự trữ bắt buộc và an toàn vốn, phải có tài khoản tiền gửi thanh toán hoạt động
thường xuyên tại NHTW.
Khi các NHTM đã hết khả năng vay mượn của nhau mà vẫn thiếu vốn
hoặc mất khả năng thanh toán, các NHTM thực hiện vay vốn tại ngân hàng
Trung ưng để tạo thêm nguồn vốn bổ sung cho hoạt động kinh doanh của mình.
Việc ngân hàng Trung ương cho các NHTM vay đã làm tăng khả năng thanh
toán cho các NHTM. Nguồn vốn của ngân hàng Trung ương là nguồn vốn cuối
cùng, làm cho khả năng thanh toán của nền kinh tế được bình thường. Nếu như
thiếu nguồn vốn này thì sẽ xuất hiện các cuộc khủng hoảng tài chính khi các
NHTM mất khả năng thanh toán.
Các nguồn vốn đi vay từ các tổ chức tín dụng khác, từ ngân hàng Trung
ương để đảm bảo khả năng thanh toán trong những trường hợp cần thiết. Cho
nên thời hạn vay thường ngắn, lãi suất thường cao hơn các hình thức huy động
vốn khác của NHTM.
d. Tạo vốn từ nguồn vốn khác.

9
GVHD : GS.TS Vũ Văn Hóa

9
SV : Đỗ Băng Thanh

Luận văn tốt nghiệp

Đại học Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội

Ngoài các nguồn vốn huy động trên các NHTM cũng có thể khai thác
nguồn vốn từ các tổ chức tài chính quốc tế, đây là nguồn vốn lớn, có thời hạn
tương đối dài từ 5 đến 50 năm với lãi suất tương đối ưu đãi. Khi các NHTM
nhận các nguồn vốn này thường có các điều kiện kèm theo rất chặt chẽ và việc
cấp phát phải đúng nội dung chương trình của các dự án tài trợ.
ở nước ta khi thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế, Đảng và Nhà nuớc
ta đã sáng suốt lựa chọn các đường lối ngoại giao đúng đắn, trên tinh thần mở
cửa của nền kinh tế, làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, thu hút các nguồn
vốn đầu tư của nước ngoài vào Việt nam. Các nguồn vốn này có đóng gỏp rất
quan trọng vào công cuộc đổi mới công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đòi
hỏi Ngân hàng Nhà nước và NHTM phải tăng cường mở rộng các mối quan hệ
hợp tác quốc tế, từ đó tranh thủ và tiếp nhận các nguồn vốn này.
Trên đây là các hình thức huy động vốn chủ yếu của NHTM, tuy nhiên
chất lượng, hiệu quả của hoạt động huy động vốn chịu ảnh hưởng tác động rất
nhiều yếu tố, từ các yếu tố mang tính chất vĩ mô, đến các yếu tố mang tính chât
vi mô của nền kinh tế, cũng như các yếu tố liên quan tới chính NHTM.
1.1.3 Vai trò của vốn kinh doanh đối với NHTM
1.1.3.1. Vốn giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành NHTM
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động sản xuất kinh doanh
được thì phải có :Công nghệ - Lao động – Tiền vốn trong đó vốn là nhân tố quan
trọng, nó phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh. Riêng
đối với NHTM, vốn lại càng là nhân tố không thể thiếu trong hoạt động kinh
doanh của ngân hàng. Vốn là cơ sở để NHTM tổ chức hoạt độnh kinh doanh,
ngân hàng không thể thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh nếu không có vốn.
Như đã biết, đặc trưng của hoạt động ngân hàng:Vốn không chỉ là phương tiện
kinh doanh chính mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu của NHTM. Ngân
hàng là tổ chức kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt trên thị trường tiền tệ(thị
trường vốn ngắn hạn) và thị trường chứng khoán(thị trường vốn dài hạn). Những
ngân hàng trường vốn là ngân hàng có nhiều thế mạnh trong kinh doanh. Hơn
10
GVHD : GS.TS Vũ Văn Hóa

10
SV : Đỗ Băng Thanh

Luận văn tốt nghiệp

Đại học Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội

nữa, vốn lớn là lợi thế đầu tiên trong việc chấp hành pháp luật trước hết là luật
NHTW, luật các TCTD, tạo thế mạnh và thuận lợi trong kinh doanh tiền tệ.
Chính vì thế, có thể nói vốn là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của ngân
hàng, là khâu cốt tử của ngân hàng. Do đó, ngoài vốn ban đầu cần thiết, tức là
đủ vốn điều lệ theo luật định thì ngân hàng phải thường xuyên chăm lo tới việc
tăng trưởng vốn trong suốt quá trình hoạt động của mình
Từ đặc trưng kinh doanh của Ngân hàng, vốn vừa là phương tiện kinh
doanh, vừa là đối tượng kinh doanh. Các NHTM thực hiện kinh doanh loại
“hàng hoá đặc biệt” – tiền tệ trên thị trường tiền tệ (thị trường vốn ngắn hạn) và
thị trường chứng khoán (thị trường vốn dài hạn). Vì vậy, ngoài vốn ban đầu khi
thành lập theo qui định của pháp luật, các Ngân hàng phải thường xuyên tìm mọi
biện pháp để tăng trưởng vốn trong quá trình hoạt động kinh doanh.
1.1.3.2. Vốn quyết định khả năng thanh toán và năng lực cạch tranh của
Ngân hàng:
Trong nền kinh tế thị trưòng, để tồn tại và ngày càng mở rộng quy mô
hoạt động đòi hỏi các ngân hàng phải có uy tín lớn trên thị trường là điều trọng
yếu. Uy tín đó phải được thể hiện trước hết ở khả năng sẵn sàng thanh toán, chi
trả cho khách hàng của ngân hàng. Chúng ta đã biết, đại bộ phận vốn của ngân
hàng là vốn tiền gửi và đi vay, do vậy ngân hàng phải trả cho khách hàng khi họ
có yêu cầu rút tiền. Với một ngân hàng có quy mô vốn nhỏ, khi nhu cầu vay vốn
trên thị trường là rất lớn, một mặt ngân hàng không đáp ứng đủ nhu cầu vay, mặt
khác với quy mô nhỏ, ngân hàng nếu cho vay tối đa nguồn vốn huy động đuợc,
dự trữ ít sẽ dẫn đến mất khả năng thanh toán. Trong khi đó, với một ngânh hàng
trường vốn, họ thực hiện dự trữ đủ khả năng thanh toán đồng thời vẫn thỏa mãn
được nhu cầu vay vốn của nền kinh tế, do đó sẽ tạo được uy tín ngày càng cao.
Khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng của ngân
hàng càng lớn. Vì vậy nếu loại trừ các nhân tố khác, khả năng thanh toán của
ngân hàng tỷ lệ thuận với vốn của ngân hàng nói chung và với vốn khả dụng của
ngân hàng nói riêng. Với tiềm năng vốn lớn, ngân hàng có thể hoạt động kinh
11
GVHD : GS.TS Vũ Văn Hóa

11
SV : Đỗ Băng Thanh

Luận văn tốt nghiệp

Đại học Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội

doanh với quy mô ngày càng mở rộng, tiến hành các hoạt động cạnh tranh có
hiệu quả nhằm giữ chữ tín, vừa nâng cao vị thế của ngân hàng.
1.1.3.3. Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động kinh
doanh khác của Ngân hàng:
Vốn của Ngân hàng quyết định việc mở rộng hay thu hẹp khối lượng tín
dụng. Thông thường, các Ngân hàng nhỏ phạm vi hoạt động kinh doanh, khoản
mục đầu tư, khối lượng cho vay ít và kém đa dạng hơn. Do đó, ảnh hưởng đến
khả năng thu hút vốn của các tổ chức kinh tế và tầng lớp dân cư, thậm chí không
đáp ứng được nhu cầu vốn vay của doanh nhiệp. Họ sẽ mất khách hàng và
không tận dụng được cơ hội kinh doanh. Nếu là Ngân hàng lớn, nguồn vốn dồi
dào chắc chắn họ sẽ đáp ứng được nhu cầu về vốn, có điều kiện để mở rộng
quan hệ tín dụng với nhiều doanh nghiệp và thị trường tín dụng.
Nguồn vốn lớn còn giúp Ngân hàng hoạt động kinh doanh với nhiều loại
hình khác nhau như: Liên doanh liên kết, dịch vụ thuê mua tài chính, kinh doanh
chứng khoán… các hình thức kinh doanh này nhằm phân tán rủi ro và tạo thêm
vốn cho Ngân hàng. đồng thời, nâng cao uy tín và tăng sức cạnh tranh trên thị
trường. Vì vậy, vốn có vai trò quyết định trong hoạt động kinh doanh của Ngân
hàng.
1.1.3.4 Nguồn vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng
Thực tế đã chứng minh: quy mô, trình độ nghiệp vụ, phương tiện kỹ thuật
của ngân hàng là tiền đề cho việc thu hút nguồn vốn. Đồng thời, khả năng vốn
lớn là điều kiện thuận lợi đối với ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng
với các thành phần kinh tế xét cả về quy mô, khối lượng tín dụng, chủ động về
thời gian, thời hạn cho vay, thậm chí quyết định mức lãi suất vừa phải cho khách
hàng. Điều đó sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng, doanh số hoạt động của
ngân hàng sẽ tăng lên nhanh chóng và ngân hàng sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong
kinh doanh. Đây cũng là điều kiện để bổ xung thêm vốn tự có của ngân hàng,
tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật và quy mô hoạt động của ngân hàng trên mọi
lĩnh vực.
12
GVHD : GS.TS Vũ Văn Hóa

12
SV : Đỗ Băng Thanh

Luận văn tốt nghiệp

Đại học Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội

Đồng thời vốn của ngân hàng lớn sẽ tạo ra thuận lợi cho việc sử dụng
tổng hòa các nguồn vốn khác. Trên cơ sở đó sẽ giúp ngân hàng có đủ khả năng
tài chính để kinh doanh đa năng trên thị trường, không chỉ đơn thuần là cho vay
mà còn mở rộng các hình thức liên doanh liên kết, kinh doanh dịch vụ thuê mua
(leasing), mua bán nợ (phactoring), kinh doanh trên thị trường chứng khoán.
Chính các hình thức kinh doanh đa năng này sẽ góp phần phân tán rủi ro trong
hoạt động kinh doanh và tạo thêm vốn cho ngân hàng đồng thời tăng sức cạnh
tranh của ngân hàng trên thị trường.
Ngoài ra vốn của ngân hàng dồi dào sẽ tạo điều kiện cho NHNN đảm bảo
khả năng thực thi chính sách tiền tệ, góp phần ổn định lưu thông tiền tệ, đảm bảo
cân đối tiền – hàng trong nền kinh tế.
Xuất phát từ vai trò của nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân
hàng và của nền kinh tế nên nguồn vốn nói chung và vốn huy động nói riêng
phải thường xuyên được bảo toàn và không ngừng mở rộng quy mô, nâng cao
hiệu quả của vốn là tiền đề quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của
hoạt động kinh doanh ngân hàng, đáp ứng vốn cho nền kinh tế. Vì vậy, nâng cao
hiệu quả huy động vốn là sự cần thiết trong quá trình hoạt động của NHTM ở tất
cả các quốc gia.
1.2 Hiệu quả huy động vốn và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn
của NHTM
1.2.1 Khái niệm về hiệu quả huy động vốn
Hiệu quả huy động vốn là tập hợp các tiêu chí chỉ rõ sự tăng trưởng bền
vững của số vốn huy động với chi phí, rủi ro thấp nhất về tỷ lệ vốn được sử
dụng cao nhất
Hiệu quả huy động vốn được thể hiện ở các mặt sau:
Về phía xã hội : Để thực hiện được công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại
hóa đất nước, cần một lượng vốn rất lớn làm tiền đề vật chất, vốn để xây dựng cơ
sở vật chất kỹ thuật , kết cấu hạ tầng, vốn để sản xuất kinh doanh.
13
GVHD : GS.TS Vũ Văn Hóa

13
SV : Đỗ Băng Thanh

Luận văn tốt nghiệp

Đại học Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội

Về phía ngân hàng, để có thể tiến hành kinh doanh có hiệu quả, đa dạng các
hình thức kinh doanh để nâng cao sức cạnh tranh và lợi nhuận ngân hàng cần có
một lượng vốn lớn huy động từ các nguồn trong nước.
Vốn trong nước phần lớn nằm trong các hộ gia đình dưới dạng tiết kiệm dự
phòng. Hơn nữa vốn của các tổ chức kinh tế xã hội không phải lúc nào cũng
được sử dụng theo vụ mùa, theo chu kỳ kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.Do đó
lượng vốn nhàn rỗi trong khu vức này cũng rất là lớn. Nhiệm vụ to lớn của mỗi
ngân hàng là phải tập trung và thu hút các nguồn vốn lớn này để đầu tư cho các
hoạt động sản xuất kinh doanh, các công trình kinh tế xã hội biến chúng thành
những đồng vốn mang lại hiệu quả kinh tế xã hội.
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả huy động vốn
Số vốn huy đông năm “n”- số vốn huy động năm “n-1”
+) Tỷ lệ tăng trưởng VHĐ =

x100
Số vốn huy động năm “n -1”

-

Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ tăng trưởng vốn huy động năm sau so với
năm trước. Nếu ngân hàng huy động càng nhiều vốn thì đơn vị càng có
khả năng mở rộng quy mô cho vay bởi vì ngân hàng là doanh nghiệp đi
vay để cho vay. Vì vậy, đơn vị phải thường xuyên theo dõi quy mô và cơ
cấu nguồn vốn huy động theo kỳ hạn, theo đối tượng huy động (tổ chức
kinh tế, cá nhân), theo loại tiền (VND và ngoại tệ),… trên cơ sở xác định
cơ cấu từng thành phần trong nguồn vốn huy động. Qua đó có thể xem
xét, đánh giá nguồn vốn huy động để có biện pháp điều chỉnh hợp lý.
Đồng thời có thể nắm được tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn huy động.

+) Tỷ lệ chi phí huy động vốn
Tổng chi phí huy động vốn
14
GVHD : GS.TS Vũ Văn Hóa

14
SV : Đỗ Băng Thanh