Tải bản đầy đủ
Hình 2.1 Logo của công ty cổ phần Thế Giới Số

Hình 2.1 Logo của công ty cổ phần Thế Giới Số

Tải bản đầy đủ

78

Tại thị trường Thái Nguyên công ty Thế Giới Số không phải là một
thương hiệu xa lạ với người tiêu dùng, với giá cả hợp lý đã chinh phục được
một bộ phận không nhỏ người tiêu dùng. Ngoài ra công ty cũng thành lập
webside riêng, cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết đến người tiêu dùng như
giá thành cũng như hình ảnh của toàn bộ sản phẩm hiện có đến người tiêu
dùng. Ngoài ra công ty cũng tham gia cá hoạt động hội chợ triển lãm các tỉnh
phía Bắc, cũng nhờ việc làm này mà công ty đã giới thiệu được với người tiêu
dùng không những trong địa bàn Tỉnh Thái Nguyên mà các địa bàn lân cận
biết đến các sản phẩm và công ty mình. Hàng năm công ty cũng tổ chức tháng
khuyến mại vào tháng 12 hàng năm giảm giá thành sản phẩm từ 20% - 30%
đã thu hút lớn lượng khách hàng quan tâm tới góp phần đấy mạnh thương
hiệu của Công ty trên thị trường tỉnh Thái Nguyên và các tỉnh lân cận.
2.3. Đánh giá chung về thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của
Công ty Cổ phần Thế Giới Số tại Thái Nguyên
Qua phân tích các công cụ cạnh tranh được sử dụng và kết quả đạt
được có thể rút ra được những mặt mạnh và một số hạn chế trong năng lực
cạnh tranh của Tổng Công ty. Từ đó xác định nguyên nhân để có thể tìm ra
những giải pháp hữu ích giúp Tổng Công ty phát huy điểm mạnh, nâng lên
thành lợi thế cạnh tranh và có những điều chỉnh kịp thời để khắc phục các hạn
chế. Tất cả đều nhằm hướng tới một mục tiêu cuối cùng là Tổng Công ty có
năng lực cạnh tranh cao, ngày càng phát triển mạnh và bền vững.
2.3.1. Những kết quả đạt được
Theo tình hình các mặt hoạt động trong thời gian vừa qua, ta thấy Tổng
Công ty có một số điểm mạnh sau:
Trải qua nhiều năm hoạt động sản xuất kinh doanh, Công ty TGS
không ngừng lớn mạnh, tạo được uy tín của mình với người tiêu dùng trong
nước và nước ngoài. Sản phẩm của công ty đã có sức cạnh tranh lớn ngay cả

79

trong thị trường nội địa và thị trường các tỉnh lân cận. Đặc biệt trong những
năm gần đây, với sự mở của của nền kinh tế nước nhà, việc tìm ra những vận
hội mới trong hoạt động sản xuất kinh doanh đã mang lại nhiều thành công
cho Công ty .
- Chất lượng sản phẩm của công ty ngày càng được nâng cao, kiểu
dáng, mẫu mã ngày càng phong phú, đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người tiêu
dùng. Nhờ đó công ty không chỉ tạo uy tín trên thị trường nội địa tỉnh mà còn
tạo uy tín trên thị trường các tỉnh lân cận.
- Công ty đã không ngừng đầu tư trang thiết bị máy móc, ứng dụng
công nghệ mới vào sản xuất. Hiện nay công ty đã có một cơ sở sản vật chất
vững mạnh nhờ vậy đã nâng cao được sức cạnh tranh sản phẩm, đáp ứng nhu
cầu của khách hàng, nâng cao sức cạnh tranh so với các sản phẩm của đối thủ.
- Đối với thị trường nội địa tỉnh, công ty luôn có chiến lược hoạch định
đúng hướng. Đã có những chính sách hợp lý: Chính sách Mar, hệ thống phân
phối, .. và các chính sách này tỏ ra rất hiệu quả, đã tạo ra nhiều lợi thế của
sản phẩm so với các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.
- Thành công trong phát triển thương hiệu ở một số đoạn thi trường nhỏ
như máy tính bảng và laptop.
- Năng suất lao động của TGS đã được nâng cao rõ rệt qua các năm, điều
này chứng tỏ hiệu quả lao động đã được cải thiện, mang lại cho doanh nghiệp
nhiều lợi ích như giảm chi phí sản xuất, tăng sản lượng, giảm giá thành…Điều
này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh.
- Thị phần công ty chiếm lĩnh được ngày càng phát triển, và đến năm
2013 thị phần của công ty là 18%, điều này là một điều đáng tự hào vì trong
năm 2013 tình hình kinh tế trên thế giới đang gặp khó khăn do suy thoái, dẫn
theo sự sụp đổ của rất nhiều tập đoàn và các công ty lớn. Vậy mà TGS vẫn
đứng vững và phát triển.

80

2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân
2.3.2.1. Những hạn chế
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, năng lực cạnh tranh của công ty
còn bộc lộ một số hạn chế như:
-

Tuy mẫu mã sản phẩm và chất lượng có được nâng cao và cải tiến nhưng so với
các đối thủ cạnh tranh thì mẫu mã của công ty con ít phong phú. Đây là một
trong những yếu tố làm giảm sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp.

-

Như chúng ta điều biết, giá cả là một công cụ cạnh tranh phổ biến và hữu
hiệu. Những sản phẩm có cùng công dụng và chất lượng, thì sản phẩm nào có
giá thấp hơn sẽ được người tiêu dùng mua nhiều hơn, từ đó tốc độ tiêu thụ tốt
hơn, lợi nhuận mang lại nhiều hơn. Thế nhưng đây lại là nhược điểm của
TGS, giá bán của TGS thường cao hơn giá của các đối thủ cạnh tranh.
Nguyên nhân chính là do công tác định giá và quản trị chi phí con yếu.

-

Hiện nay TGS đang có lợi thế rất lớn về các sản phẩm truyền thống, điều này
là một nền tảng vững chắc cho sự phát triển của TGS. Nhưng để trở thành
người đứng đầu thị trường trong tương lai, TGS cần phải chú trọng hơn vào
công tác phát triển sản phẩm mới. Điều này hiện tại công ty thực hiện còn yếu
hơn đối thủ IEC.

-

TGS còn yếu trong việc thiết lập mối quan hệ bạn hàng thân thiết với các nhà
cung ứng thiêt bị đầu vào. Chính điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến năng lực
cạnh tranh của công ty, nó làm giảm sức mạnh cạnh tranh của công ty so với các
đối thủ khác trên thị trường do số lượng bạn hàng thân thiết cung ứng nguyên
vật liệu còn ít, nên công ty phải nhập nguồn nguyên liệu đầu vào với giá thành
cao, chất lượng và số lượng không đáp ứng yêu cầu…điều này làm cho giá
thành sản phẩm của công ty cao hơn đối thủ cạnh tranh.
2.3.2.2. Nguyên nhân

81

Nguyên nhân của những hạn chế chủ yếu xuất phát từ việc công ty là
một công ty mới gia nhập vào thị trường thiết bị di động viễn thông. Thêm
vào đó nguồn vốn chủ sở hữu của công ty còn ít, phải phụ thuộc nhiều vào
nguồn vốn vay từ bên ngoài. Đây là nguồn vốn không chủ động, do vậy công
ty sẽ gặp nhiều rủi ro nếu không quản lý tốt được nguồn vốn này.
Một nguyên nhân nữa là do trình độ lao động của công ty còn khá thấp,
số lao động trình độ cao đẳng, trung cấp còn nhiều, kỹ năng bán hàng và tư
vấn sản phẩm chưa cao, vì thế, để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình,
công ty cần có những giải pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng
như có những lớp đào tạo về kỹ năng, nghiệp vụ cho người lao động
Tiểu kết chương 2
Ở chương hai, tác giả trình bày thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh
tại công ty Cổ phần thế giới số ở Thái Nguyên, trong đó tác giả đề cập đến
những nội dung như:
-

Tác giả giới thiệu về lịch sử hình thành và phát triển của công ty, trong đó có
chức năng nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động kinh doanh, cơ cấu bộ máy quản lý.
Tại đây đã cho thấy những khái quát chung nhất về công ty cổ phần thế giới
số

-

Tác giả nêu lên thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh tại công ty cổ phần
thế giới ở 4 khía cạnh: Sản phẩm, nguồn lực, thị phần và thương hiệu

-

Từ những thực trạng trên, tác giả phân tích để thấy được những thành tựu và
hạn chế của công ty cổ phần thế giới số trong quá trình nâng cao năng lực
cạnh tranh, đồng thời làm rõ những nguyên nhân của những hạn chế còn tồn
tại để có thể đưa ra giải pháp khắc phục.

82

Chương 3
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN THẾ GIỚI SỐ TẠI THÁI NGUYÊN
3.1 Quan điểm và mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty
cổ phần Thế Giới Số tại Thái Nguyên
Trong xu thế phát triển hiện nay, nền kinh tế luôn có biến động, những
biến động đó tác động đến mọi thành viên của nền kinh tế. Tuy nhiên, trong
mỗi giai đoạn, những biến động của nền kinh tế lại tác động đến các thành
viên kinh tế theo những hướng khác nhau. Để có thể tận dụng các cơ hội và
né tránh rủi ro, Công ty phải hiểu biết về môi trường kinh doanh, về xu hướng
phát triển của nền kinh tế, nhận thức được nâng cao năng lực cạnh tranh là
một nhu cầu tất yếu đối với Công ty nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển từ
đó xác định phương hướng nâng cao năng lực cạnh tranh cho Công ty trong
thời gian tới.
3.1.1 Quan điểm nâng cao năng lực cạnh tranh
Toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ trong quá trình phát triển của kinh
tế thế giới. Toàn cầu hoá có thể được hiểu là quá trình phát triển kinh của các
nước trên thế giới vượt ra khỏi biên giới quốc gia, hướng tới phạm vi toàn cầu
trên cơ sở lực lượng sản xuất cũng như trình độ khoa học kỹ thuật phát triển
mạnh mẽ và sự phân công hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng, tính chất xã
hội hoá của sản xuất ngày càng tăng. Trong tiến trình này, thị trường chiếm
địa vị chủ đạo, ai chiếm được vị trí có lợi trong cạnh tranh thị trường, người
đó sẽ chiếm được quyền chủ động trong tiến trình toàn cầu hoá. Toàn cầu hóa
diễn ra cả bề rộng và chiều sâu, một mặt đưa tới cơ hội phát triển kinh tế cho
mỗi quốc gia cũng như toàn thế giới, giúp cho việc sử dụng hợp lý các nguồn
tài nguyên hiện có trên trái đất cũng như gây tác động ngược trở lại đối với sự
phát triển của khoa học kỹ thuật và phân công lao động quốc tế.

83

Việt Nam nằm trong khu vực phát triển năng động nhất của nền kinh tế
thế giới, xu hướng tự do hoá thương mại của nền kinh tế thế giới tạo thuận lợi
cho một nước đang phát triển như Việt Nam tham gia mạnh mẽ hơn vào các
giao lưu kinh tế quốc tế. Việt Nam đã mở rộng quan hệ ngoại giao buôn bán
với trên 150 quốc gia, tích cực tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế và liên
kết kinh tế khu vực như gia nhập APEC (năm 1998), ký hiệp định thương mại
với Hoa Kỳ (năm 2000), đang vận động đàm phán gia nhập WTO vào cuối
năm 2006,… Cùng với hoạt động mở cửa, hợp tác kinh tế với những thị trường
lớn, những cường quốc kinh tế và công nghệ, nước ta cũng từng bước hoàn
thiện hệ thống luật pháp cho phù hợp hơn với tình hình và thông lệ quốc tế.
Điển hình là các bộ Luật Đầu tư, Luật Phá sản doanh nghiệp, Luật Cạnh tranh,
Luật Doanh nghiệp,…tạo hành lang pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động.
Mặt khác, quá trình toàn cầu hoá cũng đưa đến những thách thức ở
nhiều mức độ khác nhau như gia tăng các rủi ro kinh tế, tăng sự lệ thuộc lẫn
nhau về kinh tế và cả chính trị, làm lợi nhiều hơn cho các nền kinh tế mạnh,
các nền kinh tế kém phát triển dễ bị thua thiệt. Các nước đi sau như Việt Nam
vừa phải chịu sứp ép của quá trình hội nhập quốc tế, của việc tham gia vào
các tổ chức mậu dịch đa phương với sự cạnh tranh gay gắt vừa phải đối phó
với hàng rào bảo hộ mậu dịch mới tinh vi thông qua các tiêu chuẩn chất lượng
và kỹ thuật của các nước phát triển. Trong các cuộc cạnh tranh quốc tế Việt
Nam ở vào thế bất lợi vì chúng ta không có được những ưu thế như các nước
phát triển và các nước khác trong khu vực như trình độ phát triển kinh tế, khả
năng cạnh tranh tốt, nắm giữ vốn, công nghệ, chất xám… Tham gia hội nhập
thì hàng hoá của Việt Nam có thêm cơ hội thâm nhập vào thị trường thế giới
nhưng vì sức cạnh tranh của hàng hoá nước ta rất kém (hàng hóa xuất khẩu
của Việt Nam đa số là các sản phẩm thô, chất lượng trung bình, chậm cải tiến,
giá thành cao, ít hàng hoá chứa hàm lượng trí tuệ cao…) nên các cơ hội đó