Tải bản đầy đủ
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Tải bản đầy đủ

102

2. Khuyến nghị
Trong nền kinh tế hiện nay, sự cạnh tranh gay gắt đã hạn chế khả năng
tìm kiếm lợi nhuận nên các doanh nghiệp thường tìm mọi cách giảm bớt cạnh
tranh, né tránh cạnh tranh. Tình hình đó làm hiệu năng của cả hệ thống kinh tế
thị trường bị kém đi, Nhà Nước có vai trò quan trọng là tạo lập môi trường
cạnh tranh, duy trì cạnh tranh trong khuôn khổ pháp lý, chính sách, chế độ do
Nhà Nước đặt ra. Tuy nhiên, hiện nay các bộ luật, các chính sách chế độ còn
một số vấn đề bất cập chưa phù hợp với sự phát triển nói chung và quá trình
hoạt động, phát triển của ngành công nghệ thông tin nói riêng.
Thứ nhất: Hiện nay hầu hết nguyên vật liệu đầu vào của ngành công
nghệ thông tin phải nhập khẩu rất bị động và ảnh hưởng đến giá thành sản
phẩm, vì vậy Nhà Nước cần có chính sách khuyến khích các thành phần kinh
tế đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất các thiết bị linh kiên đầu vào.
Thứ hai: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được quyết định bởi
đội ngũ nhân lực lành nghề. Hiện nay ở Việt Nam thiếu rất nhiều những cán
bộ có chuyên môn cao đòi hỏi Nhà Nước quan tâm mở rộng và tăng năng lực
hoạt động cho các trường học để họ cung cấp nguồn nhân lực cho các doanh
nghiệp, có cơ chế động viên các trường đại học tích cực đào tạo các nhà kinh
doanh giỏi, trình độ quản lý cao.
Thứ ba: Nhà Nước đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại nhằm tạo
chỗ dựa cho các doanh nghiệp trong nước khi vươn ra thị trường quốc tế. Xúc
tiến thương mại là một trong những giải pháp hữu hiệu giúp doanh nghiệp tìm
kiếm và mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh. Xét ở tầm vĩ mô,
xúc tiến thương mại có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy xuất khẩu và
tăng trưởng kinh tế. Đa số các doanh nghiệp Việt Nam chưa có kinh nghiệm
cũng như những hiểu biết cần thiết về thị trường nước ngoài. Nhà Nước cần
nâng cao hơn nữa nhận thức của doanh nghiệp về lĩnh vực này và có các biện

103

pháp hỗ trợ thông qua con đường ngoại giao. Nhà Nước có thể lập các văn
phòng đại diện, các cơ quan thương vụ, hội đồng tư vấn xuất khẩu ở nước
ngoài tại các thị trường điểm, các khu vực kinh tế lớn. Xây dựng hệ thống
chính sách và các biện pháp đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại ở nước
ngoài như khuyến khích doanh nghiệp thành lập ở nước ngoài những đại lý
phân phối hàng hóa, kho ngoại quan, trung tâm trưng bày sản phẩm… Nhà
Nước có thể tổ chức nghiên cứu học tập kinh nghiệm tổ chức và quản lý của
một số tổ chức xúc tiến thương mại lớn trên thế giới để sắp xếp và hoàn thiện
bộ máy của hệ thống xúc tiến thương mại ở Việt Nam.
Thứ tư: Thông tin là đầu vào tất yếu của quá trình kinh doanh, doanh
nghiệp nào có thông tin nhanh nhất, doanh nghiệp đó sẽ có nhiều cơ hội chiến
thắng. Có đầy đủ thông tin và xử lý đúng đắn thông tin là công cụ quan trọng
để doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh của mình vì đó là căn cứ để
doanh nghiệp đưa ra các quyết định sản xuất kinh doanh, sản xuất cái gì, cho ai
và như thế nào? Đa số các doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều hạn chế trong tổ
chức tiếp cận thông tin thị trường trong nước và quốc tế, các nguồn thông tin
còn phân tán, không hệ thống và không mang tính chuyên nghiệp. Mọi doanh
nghiệp Việt Nam dù ở quy mô nào khi thu thập thông tin đều bắt đầu từ con số
không, thu thập những thông tin cơ bản nhất rồi mới đến các thông tin chuyên
ngành dẫn đến rất tốn kém mà chưa chắc đã hiệu quả. Nếu Nhà Nước đứng ra
cung cấp phần thông tin nền này sẽ tiết kiệm cho doanh nghiệp một khoản
đáng kể. Nhà Nước có thể đẩy mạnh hoạt động cung cấp thông tin cho doanh
nghiệp bằng cách hình thành các trung tâm thu thập, phân tích và cung cấp
thông tin trong nước, khu vực và thế giới. Qua đó cung cấp thông tin cho
doanh nghiệp trên tất cả các lĩnh vực như thông tin kinh tế, thông tin khoa học
kỹ thuật… Đây là một bước để công khai hóa thông tin và giảm chi phí xã hội.

104

Thứ năm: Một vấn đề được quan tâm hàng đầu của Nhà Nước ta hiện
nay là việc hoàn thiện chính sách thuế và công cụ thuế. Thuế luôn được coi là
một khoản chi phí của doanh nghiệp, tác động trực tiếp đến giá cả và năng lực
cạnh tranh. Chính sách thuế ở Việt Nam hiện nay thường xuyên thay đổi, đặc
biệt là thuế nhập khẩu làm cho doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong việc
lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhất là đối với các doanh nghiệp sản xuất
phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu như ngành cơ khí. Chính sách thuế
cho phép miễn thuế đối với nhập khẩu thiết bị đồng bộ, trong khi trong nước tự
sản xuất thiết bị cho dây chuyền đồng bộ vẫn phải đóng thuế nhập khẩu vật tư
thiết bị. Như vậy đã trói buộc nhà sản xuất trong nước và lại tạo điều kiện cho
nhập khẩu những thiết bị trong nước có thể sản xuất được. Nên chăng Nhà
Nước có cơ chế miễn hoặc giảm thuế nhập khẩu vật tư thiết bị phục vụ chế tạo
cơ khí trong nước. Nhà Nước nên tích cực cải cách hệ thống thuế và phí nói
chung để giảm gánh nặng cho doanh nghiệp và đảm bảo tính minh bạch của hệ
thống thuế. Chính sách thuế cần khuyến khích đầu tư nâng cao tỷ lệ nội địa
hóa. Nhà Nước thực hiện hỗ trợ có thời hạn hợp lý và hiệu quả đối với một số
sản phẩm quan trọng. Công cụ thuế phải trở thành đòn bẩy kích thích đầu tư
sản xuất kinh doanh và tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển chứ không
phải là công cụ tận thu vắt kiệt nguồn lực của doanh nghiệp. Chính sách thuế
cần được hoàn thiện theo hướng khắc phục thất thu và lạm thu thuế, đảm bảo
công bằng giữa các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế.
Thứ sáu: Nhà Nước cần có các chính sách giúp doanh nghiệp giải quyết
các vướng mắc về vốn. Các doanh nghiệp được quyền huy động vốn dưới
nhiều hình thức như gọi vốn cổ phần, góp vốn liên doanh, phát hành trái phiếu,
tín phiếu. Cùng với đẩy mạnh phát triển thị trường tài chính, các chính sách của
Nhà Nước phải tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư, cải thiện môi trường đầu
tư, thu hút các nguồn vốn trực tiếp, gián tiếp và các nguồn vốn khác.

105

Với vai trò là người nhạc trưởng điều tiết các hoạt động trong nền kinh
tế thị trường, nếu Nhà Nước thiết lập được một hành lang pháp lý rõ ràng,
nhất quán, ổn định, tạo dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh, bình
đẳng, tiếp tục cải thiện chính sách đầu tư, đảm bảo tính minh bạch hiệu quả
của hệ thống thuế, hệ thống ngân hàng sẽ giúp cho mỗi doanh nghiệp, mỗi
thành viên của nền kinh tế nâng cao năng lực cạnh tranh, hội nhập một cách
thuận lợi vào nền kinh tế khu vực và thế giới.

106

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Chính phủ Việt Nam, báo cáo Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng
trình bày tại Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XII năm 2008 về Tình hình kinh tế xã hội năm 2008 và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2009,.
2. Chu Văn Cấp (1996), Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trong
quá trình hội nhập khu vực và quốc tế. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
3. Bạch Thu Cường (2002), Bàn về cạnh tranh toàn cầu, NXB Thông tấn xã, Hà Nội
4. PGS.TS. Phí Mạnh Hồng (2012), Giáo trình Kinh tế vi mô, NXB Thống kê, Hà Nội
5. TS. Vũ Trọng Lâm (2006), Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp
trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
6. Dương Ngọc Dũng (2009), Chiến lược cạnh tranh theo lý thuyết của
M.Porter, NXB Tổng hợp, Thành phố Hồ Chí Minh.
7. Nguyễn Hữu Thắng (2009), Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam
trong xu thế hội nhập kinh tế hiện nay. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
8. TS. Nguyễn Vĩnh Thanh (2005), Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh
nghiệp thương mại Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Lao độngxã hội, Hà Nội
9. Trần Thị Anh Thư (2012), “Tăng cường năng lực cạnh tranh của Tập đoàn
Bưu chính Viễn thông Việt Nam trong điều kiện Việt Nam là thành viên của tổ
chức thương mại thế giới”, luận án tiến sỹ, Viên Nghiên cứu Quản lý kinh tế
Trung Ương, Hà Nội
10. Trường Cao đẳng nông nghiệp và phát triển nông thôn bắc bộ (2011), “Giáo
trình mô đun Khai thác và tiêu thụ sản phẩm”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội
Tiếng Anh
11. Michael E.Porter (1996), What Is Strategy, Harvard Business Review,
United State of American
12. Michael E.Porter (1985), Competitive Strategy: Techniques for Analyzing
Industries and Competitors, United State of American

107

PHỤ LỤC
 Danh mục các sản phẩm hiện nay công ty đang kinh doanh

- Điện thoại
- Máy tính để bàn và máy tính xách tay (laptop)
- IBM, COMPAQ, Samsung, Olivetti, Parkard Bell. Các đời máy tính
và tốc độ truyền dữ liệu (từ 33MHz đến 850MHz): 486 SX 33MHz; 486
DX66, 100MHz,...586 DX133, DX166, DX266,...Pentium 133, 166, 200,
233MHz,...Pentium II, III (từ 200MHz ÷ 850MHz)
- Máy tính xách tay (Notebook) từ đời 486 đến Intel duo core
- Laptop: PC là loại máy tinh cá nhân mà chúng ta vẫn gặp hàng ngày
chỉ dùng cho một người hoặc dùng làm trạm làm việc cho một số người
• Các dòng máy chủ:
- PC server: Là loại máy thông dụng nhất trên thị trường Việt Nam hiện
nay dùng để quản trị mạng cục bộ (LAN-Local Area Network), chỉ có thể
dùng quản trị dữ liệu cho một công ty.
- Main frame: Là loại máy quản trị mạng rộng (WAN- Wide Area
Network) dùng làm máy chủ cho hệ thống đòi hỏi các tốc độ xử lý cao, khả
năng truyền dữ liệu lớn và có lưu lượng thông tin lớn.
- Midrange: Cũng là máy quản trị mạng rộng nhưng với qui mô nhỏ
hẹp, dùng cho công ty lớn, tốc độ truyền dữ liệu cao, tốc độ xử lý dữ liệu lớn.
- Mini: Là loại máy dùng làm máy chủ cho một mạmg trung bình (MANMiddle Area Network) dùng để quản trị mạng cho công ty lớn hay một số công ty
có nhu cầu về thông tin dữ liệu không giới hạn trong nội bộ công ty.
• Thiết bị tin học:
- Các thiết bị về mạng: LAN, WAN, MAN...
- Các thiết bị ngoại vi: HP, Epson...như: Máy in, máy in kim, máy in
Laser, máy in phun; Máy vẽ (Plotter); Máy quét (Scanner); Cung cấp phần mềm