Tải bản đầy đủ
cổ phần Thế Giới Số tại Thái Nguyên

cổ phần Thế Giới Số tại Thái Nguyên

Tải bản đầy đủ

83

Việt Nam nằm trong khu vực phát triển năng động nhất của nền kinh tế
thế giới, xu hướng tự do hoá thương mại của nền kinh tế thế giới tạo thuận lợi
cho một nước đang phát triển như Việt Nam tham gia mạnh mẽ hơn vào các
giao lưu kinh tế quốc tế. Việt Nam đã mở rộng quan hệ ngoại giao buôn bán
với trên 150 quốc gia, tích cực tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế và liên
kết kinh tế khu vực như gia nhập APEC (năm 1998), ký hiệp định thương mại
với Hoa Kỳ (năm 2000), đang vận động đàm phán gia nhập WTO vào cuối
năm 2006,… Cùng với hoạt động mở cửa, hợp tác kinh tế với những thị trường
lớn, những cường quốc kinh tế và công nghệ, nước ta cũng từng bước hoàn
thiện hệ thống luật pháp cho phù hợp hơn với tình hình và thông lệ quốc tế.
Điển hình là các bộ Luật Đầu tư, Luật Phá sản doanh nghiệp, Luật Cạnh tranh,
Luật Doanh nghiệp,…tạo hành lang pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động.
Mặt khác, quá trình toàn cầu hoá cũng đưa đến những thách thức ở
nhiều mức độ khác nhau như gia tăng các rủi ro kinh tế, tăng sự lệ thuộc lẫn
nhau về kinh tế và cả chính trị, làm lợi nhiều hơn cho các nền kinh tế mạnh,
các nền kinh tế kém phát triển dễ bị thua thiệt. Các nước đi sau như Việt Nam
vừa phải chịu sứp ép của quá trình hội nhập quốc tế, của việc tham gia vào
các tổ chức mậu dịch đa phương với sự cạnh tranh gay gắt vừa phải đối phó
với hàng rào bảo hộ mậu dịch mới tinh vi thông qua các tiêu chuẩn chất lượng
và kỹ thuật của các nước phát triển. Trong các cuộc cạnh tranh quốc tế Việt
Nam ở vào thế bất lợi vì chúng ta không có được những ưu thế như các nước
phát triển và các nước khác trong khu vực như trình độ phát triển kinh tế, khả
năng cạnh tranh tốt, nắm giữ vốn, công nghệ, chất xám… Tham gia hội nhập
thì hàng hoá của Việt Nam có thêm cơ hội thâm nhập vào thị trường thế giới
nhưng vì sức cạnh tranh của hàng hoá nước ta rất kém (hàng hóa xuất khẩu
của Việt Nam đa số là các sản phẩm thô, chất lượng trung bình, chậm cải tiến,
giá thành cao, ít hàng hoá chứa hàm lượng trí tuệ cao…) nên các cơ hội đó

84

mới ở dạng tiềm năng trong khi đó hàng nước ngoài với sức cạnh tranh cao sẽ
có điều kiện thâm nhập thị trường Việt Nam. Nếu doanh nghiệp Việt Nam
không có sự thay đổi về chất thì sẽ không đứng vững được ngay trong thị
trường nội địa, dễ bị tổn thương và thua thiệt. Để tránh nguy cơ đó chỉ có biện
pháp duy nhất là phải nâng cao năng lực cạnh tranh vì sự tồn tại và phát triển
của chính mình.
*Tình hình trong nước
Trong tình hình trên, mặc dù phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, kinh tế
Việt Nam cũng đã thu được một số thành tựu đáng kể. GDP tăng trưởng cao
(năm 2011 là 7,6%, năm 2012 là 7,9% và năm 2013 là 8,7%) tạo điều kiện tích
luỹ và đầu tư phát triển. Tỷ trọng ngành công nghệ thông tin trong GDP năm
2013 tăng khoảng 7% so với năm 2011. Nền kinh tế trong nước ngày càng sôi
động và phong phú nhờ thành công của hoạt động cổ phần hoá doanh nghiệp
Nhà Nước và sự ra đời của thị trường chứng khoán. Các định chế tài chính trung
gian ngày càng phong phú và cạnh tranh mạnh tạo nhiều kênh huy động vốn cho
doanh nghiệp, các nghiệp vụ tài chính ngày càng đầy đủ và hoàn thiện hơn. Các
doanh nghiệp Việt Nam đã bắt đầu quen với phương thức làm việc theo cơ chế
thị trường tự chủ, linh hoạt, năng động, mạnh dạn.
Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và doanh
nghiệp Việt Nam nói riêng vẫn chưa cao. Theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế
thế giới (WEF), năm 2012, Việt Nam được đánh giá là nước có chỉ số ổn định
kinh tế vĩ mô cao (đứng thứ 6 sau Singapore, NaUy, Thuỵ Sĩ, Phần Lan và
Trung Quốc) nhưng chỉ được xếp thứ 65 về khả năng cạnh tranh trong 80
nước được khảo sát
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, khi các nước tiến hành công
nghiệp hoá có thể có những ưu tiên khác nhau cho tập trung phát triển các
ngành nhưng tất cả các nước công nghiệp phát triển trên thế giới tuỳ theo lợi

85

thế của riêng mình đều phát triển mạnh nghành công nghệ thông tin. Vì công
nghệ thông tin có vai trò thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác và
tăng năng suất lao động xã hội.
Sự phát triển mạnh của khoa học công nghệ về sản xuất các sản phẩm
mới, đã nâng cao tính cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng trong nước
và nước ngoài. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, mỗi doanh nghiệp tham gia thị
trường xây dựng đều phải điều chỉnh chính sách và phương pháp hoạt động
phù hợp với thông lệ và các điều ước, công ước quốc tế trong lĩnh vực thị
trường công nghệ thông tin.
3.1.2 Mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh
* Phương hướng hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong thời
gian tới
Công ty Cổ phần thế giới số định hướng đến năm 2015 sẽ cơ cấu lại bộ
máy quản lý, đào tạo lại và phát triển nguồn lực nâng cao hơn nữa trình độ
của cán bộ công nhân viên trong công ty. Chiến lược phát triển sản phẩm của
công ty là tiếp tục duy trì và đẩy mạnh hoạt động kinh doanh các sản phẩm
truyền thống, triển khai có hiệu quả các ngành nghề kinh doanh mới như tab,
smartphone... Đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường, quảng bá sản phẩm
không chỉ trong phạm vi toàn quốc mà trong phạm vi cả khu vực, triển khai
công tác đầu tư và nghiên cứu khoa học công nghệ, đưa công nghệ dây
chuyền mới vào quá trình kinh doanh. Phát triển sản phẩm mới, khai thác tối
đa các công nghiệp hiện có. Có chiến lược phát triển trung và dài hạn. Giữ
vững và nâng cấp các sản phẩm truyền thống. Không ngừng cải tiến phát
triển, tạo các sản phẩm có giá trị kinh tế cao, giá thành thấp.
Mục tiêu cụ thể
• Sản phẩm: Công ty định hướng phát triển các sản phẩm mới nhằm giữ
vững thị trường hiện có, và mở rộng thị trường hơn nữa, nâng cao hơn nữa

86

hơn nữa thị phần trong khu vực, Phát triển các sản phẩm mới, dịch vụ mới.
Tối đa hoá những sản phẩm có thế mạnh, chỉ sản xuất theo đơn đặt hàng các
sản phẩm thị trường ít sử dụng. Nâng cao chất lượng sản phẩm hiện có và chỉ
tung ra thị trường những sản phẩm đảm bảo chất lượng.


Thị trường và công nghệ: Áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý

bằng các chương trình phần mềm. Hợp tác hoặc thuê chuyên gia kỹ thuật,
kinh tế, tuyển dụng mới nhân viên kỹ thuật kinh tế có trình độ trên đại học,
trình độ đại học chính quy các trường có chất lượng đào tạo. Tuyển dụng mới,
đào tạo tốt hơn về tay nghề của nhân viên, nội quy, quy định, các chương
trình kế hoạch của Công ty và pháp luật.
• Nhân sự: Khuyến khích mạnh hơn nữa Cán bộ công nhân viên chức
tham gia phát huy sáng kiến cải tiến để cho ra đời các sản phẩm chất lượng tốt
hơn, Tổ chức quản lý tốt nhân sự hiện có, đào tạo bồi dưỡng nâng cao kỹ
thuật nghiệp vụ trên cơ sở xây dựng mặt trận đào tạo. Khuyến khích Cán bộ
công nhân viên chức bằng lợi ích vật chất xứng đáng với những sáng kiến, ý
tưởng làm lợi về kinh tế kỹ thuật cho Công ty. Tạo môi trường làm việc tốt
thân thiện nhằm phát huy nhân tố con người và cơ hội cho mọi người phát
triển đó cũng là nguồn lực tốt nhất cho sự phát triển bền vững của Công ty.
Công ty sẽ cố gắng hơn nữa trong chế độ đã ngộ đối với công nhân viên, có
mức lương hấp dẫn phù hợp với khả năng của mỗi người. Thu hút và đãi ngộ
nhân tài trong cả nước.
• Tài chính: Công ty định hướng sẽ tăng vốn điều lệ phù hợp với yêu cầu
phát triển sản xuất kinh doanh đẩy mạnh để hợp tác đầu tư phát triển dự án
lớn. Giữ uy tín với các tổ chức tín dụng để vay vốn lưu động, vốn trung và dài
hạn đầu tư phát triển doanh nghiệp. Công ty đã đề ra phương hướng, nhiệm
vụ và những giải pháp thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch trong năm 2014, trong
đó,phấn đấu năm 2015 là đạt tổng doanh thu 155 tỷ đồng, tiền lương bình

87

quân là 8,5 triệu đồng/người/tháng. Tài chính doanh nghiệp lành mạnh và
minh bạch về các khỏan lợi nhuận, thuế, tài sản cố định, tài sản lưu động….
3.1.3 Cơ hội và thách thức đối với Công ty trong quá trình nâng cao năng
lực cạnh tranh
* Điểm mạnh
- Ban lãnh đạo có kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực công nghệ thông
tin. Đội ngũ nhân viên trẻ, năng động, tiếp thu nhanh, đều có tinh thần làm
việc tốt không ngại khó khăn, đặc biệt có tinh thần đoàn kết. Đây là một tiềm
lực quan trọng để phát triển công ty trong tương lai. Công ty có lợi thế về
mặt bằng kinh doanh ở nhiều vị trí đẹp và nằm trên các tuyến phố chính.
* Điểm yếu
Vốn kinh doanh hạn chế, khả năng huy động vốn kém. Đội ngũ nhân
viên còn yếu về trình độ chuyên môn, thiếu kinh nghiệm thực tế, chưa ứng
dụng một cách có hiệu quả khoa học công nghệ
Đội ngũ lãnh đạo còn yếu trong lĩnh vực quản lý chưa nhận thức được
tầm quan trọng của nguồn nhân lực. Chưa có bộ phận Marketing các hoạt
động truyền thông, quảng cáo chưa đủ mạnh, hiệu quả, hệ thống thu thập
thông tin chưa được xây dựng. Thương hiệu, hình ảnh của công ty chưa được
nhiều người biết đến.
* Cơ hội

- Dù nền kinh tế gặp nhiều khó khăn nhưng công ty vẫn có thể tăng
doanh thu nhờ chào giá linh hoạt để tăng lượng sản phẩm tiêu thụ và đáp ứng
nhanh chóng các đơn hàng đã được đặt trước. Công ty có thể tăng doanh thu
bằng việc nhập thêm các mẫu hàng thiết kế độc đáo, xa xỉ.
- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường, đáp ứng nhu cầu ngày càng
cao của xã hội, mở rộng thị trường bằng cách mở đại lý tiêu thụ trên tất cả các

88

tỉnh, thành trong cả nước, thậm chí các vùng dân cư, thị trấn mang phong
cách thương mại.
Hiện nay, để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, công ty đứng
trước rất nhiều những cơ hội và thách thức.
Sân chơi toàn cầu ngày càng phẳng hơn, do vậy công ty có khả năng và
nhiều cơ hội tiếp cận những ứng dụng của khoa học công nghệ, áp dụng trong
kinh doanh, từ đó đem lại hiệu quả cao hơn.
Hệ thống giáo dục đào tạo quốc gia đang ngày càng được chú trọng và
nâng cao, do vậy chất lượng nguồn nhân lực cũng tăng lên, giúp công ty có
nhiều khả năng tuyển được nguồn nhân lực chất lượng cao.
Khoảng hơn mười năm nay sản phẩm thiết bị số nói chung là một lĩnh
vực kinh doanh và thu được nhiều lợi nhuận ở Việt Nam. Các sản phẩm thiết
bị số và những tiện ích chúng mang lại ngày càng trở nên thông dụng và cần
thiết, thậm chí không thể thiếu đối với mỗi cá nhân, tổ chức. Thực tế, có thể
nói xã hội đã nhận thức được sâu sắc tầm quan trọng của thiết bị số cũng như
sự phát triển của cá nhân mỗi con người. Thị trường thiết bị số Việt Nam vẫn
được đánh giá là một thị trường trẻ. Trong xu hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, hội nhập kinh tế như những năm gần đây thì dự báo sức mua sẽ còn
tăng mạnh. Với đặc điểm như vậy và sự phát triển của các ngành về kinh
doanh thì cơ hội của Thế giới số trong việc khai thác thị trường vẫn rất lớn.
Nhu cầu sử dụng các thiết bị số như điện thoại, máy tính, … rất đa dạng, với
những nhu cầu đặc trưng khác nhau thì cần ứng dụng mỗi dòng sản phẩm
khác nhau. Do đó mà bên cạnh mở rộng thị trường mục tiêu Thế Giới Số hoàn
toàn có khả năng mở rộng sang những đoạn thị trường mới khi đủ nguồn lực.
Cùng với sự phát triển của đất nước, khả năng chi trả của người tiêu
dùng cũng dần cao hơn. Do đó các thiết bọ số không còn được coi là các sản
phẩm quá xa xỉ. Bên cạnh đó mức độ tiếp xúc của khách hàng với các phương

89

tiện truyền tin nhiều hơn cả về tần suất lẫn cường độ tiếp xúc. Đây là cơ hội
để các trương trình của Thế Giới Số đến với đúng đối tượng, đúng thời điểm.
Là một công ty bán lẻ được coi là trẻ, Thế Giới Số có có cơ hội học hỏi
kinh nghiệm từ các hãng khác nhờ đó tiết kiệm chi phí và giảm thiểu rủi ro.
Sự bùng nổ khoa học kỹ thuật hiện nay là một cơ hội lớn cho Thế Giới số
phát triển tiêu thụ sản phẩm và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ
hoạt động kinh doanh dịch vụ.
* Thách thức:
Sự cạnh tranh mạnh mẽ từ đối thủ trong, ngoài nước và càng khốc liệt
hơn khi Việt Nam gia nhập WTO việc này sẽ khiến cho việc nâng cao năng
lực cạnh tranh toàn diện trong quá trình hoạt động đặc biệt như: nguồn tài
chính, khoa học công nghệ, nguồn nhân lưc…
Thế Giới Số gặp phải sức ép cạnh tranh của nhiều công ty lớn trong
cùng lĩnh vực. Lợi nhuận từ kinh doanh các sản phẩm thiết bị số thu hút ngày
càng nhiều đơn vị vào tham gia vào thị trường này, vì thế cạnh tranh càng trở
nên gay gắt
Thách thức cũng là mối đe dọa lớn với công ty Thế Giới Số chính là sự
cạnh tranh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài gia nhập vào
thị trường Việt Nam khi xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng phát
triển. Các công ty này thường có ưu thế về vốn đầu tư, kinh nghiệm quản lý,
dịch vụ được lòng khách hàng, kỹ thuật công nghệ ...Vì vậy, sản phẩm của họ
có lợi thế cạnh tranh hơn sản phẩm của doanh nghiệp trong nước về giá cả,
chất lượng….
- Đối thủ cạnh tranh lớn nhất của doanh nghiệp là Trung Quốc bởi các
sản phẩm mà Trung Quốc đưa ra thường giá cả hợp lý, mẫu mã phong phú, rất
phù hợp với người dân. Hàng điện tử của Trung Quốc thường nhái hàng rất
nhanh và giống nên đáp ứng được nhu cầu sản phẩm luôn được đổi mới theo

90

công nghệ hiện đại trong khi thu nhập người dân chưa cao nhưng tâm lý
người tiêu dùng luôn muốn đổi mới và phù hợp với túi tiền, hàng công nghệ
là mặt hàng có sự thay đổi nhanh chóng nhất.
- Lạm phát tăng làm cho tương tai kinh doanh trở nên khó lường, khó
dự đoán được giá trị thực của lợi nhuận thu được. Ngành công nghệ là một
ngành có sự thay đổi liên tục và nhanh chóng, các dòng sản phẩm thường
xuyên được cải tiến. Chính tốc độ thay đổi này làm cho sản phẩm tin học trở
nên lỗi thời và giảm giá mạnh trong một thời gian ngắn, gây ảnh hưởng đến
lượng hàng nhập và tiêu thụ sản phẩm của công ty
- Toàn cầu hóa nền kinh tế cũng khiến cho sự cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp ngày càng khốc liệt. Công ty không chỉ phải cạnh tranh với các doanh
nghiệp trong nước mà còn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài.
- Vấn đề quản lý và cơ cấu nguồn vốn phải hợp lý để sử dụng có hiệu
quả nguồn vốn, sử dụng vốn vay làm đòn bẩy tài chính hiệu quả.
- Nguồn nhân lực hiện nay trình độ học vấn còn chưa cao, do vậy cần
phải có giải pháp nâng cao chất lượng NNL.
Kết hợp điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của Công ty Thế
Giới Số
Cơ hội (O)

Thách thức (T)

Môi trường

-Môi trường kinh tế ổn -Cạnh tranh gay gắt giữa

kinh doanh

định, tăng trưởng

các công ty trong ngành

-Sự bùng nổ của khoa -Sự đe dọa của nhiều
học kỹ thuật

đơn vị gia nhập ngành

-Nhu cầu về dòng sản -Giá các sản phẩm máy
Môi trường

phẩm thiết bị số tăng

nội bộ

-Việt Nam gia nhập

doanh nghiệp

nhiều tổ chức diễn đàn

tính có xu hướng giảm

91

Mặt mạnh(S)

kinh tế
Kết hợp (S & O)

Kết hợp S & T

-Ban lãnh đạo có kinh -Nâng cao chất lượng -Đa dạng hóa các sản
nghiệm lâu năm trong sản phẩm dịch vụ giữ phẩm và hình thức dịch
lĩnh vực công nghệ

vững



phát

triển vụ

-Sức trẻ, sức năng động thương hiệu Thế Giới -Đẩy mạnh các hoạt
và khả năng tiếp thu của Số

động liên kết với các

đội ngũ nhân viên

công ty, đơn vị khác trên

Mặt yếu (W)

mọi mặt.
Kết hợp W & T

Kết hợp W & O

-Vốn kinh doanh còn -Huy động vốn và sử -Duy trì và đẩy mạnh
hạn chế

dụng có hiệu quả

-Đội ngũ lao động yếu -Đào

tạo

phát

hoạt động quảng bá
triển thương hiệu

về trình độ chuyên môn nguồn nhân lực
và kinh nghiệm thực tế

-Xây

dựng

văn

hóa

-Duy trì và đẩy mạnh doanh nghiệp.

-Chưa coi trọng nguồn hoạt động nghiên cứu
nhân lực

thị trường

-Các hoạt động nghiên
cứu thị trường và quảng
bá thương hiệu chưa
hiệu quả
3.2. Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần
Thế Giới Số tại Thái Nguyên
Trải qua một chặng đường tồn tại và phát triển Công ty đã có những
thành công nhất định trong lĩnh vực kinh doanh sản phẩm công nghệ thông
tin, đáp ứng được nhu cầu thị trường, chiếm được lòng tin của khách hàng,
sản phẩm của công ty đã có được chỗ đứng trên thị trường trong địa bàn tỉnh

92

và các tỉnh lân cận. Tuy nhiên do đặc trưng của nền kinh tế thị trường cạnh
tranh ngày càng gay gắt và khốc liệt. Công ty muốn tồn tại và phát triển hơn
thì luôn phải chú trọng tới việc nâng cao khả năng cạnh tranh. Thông qua
thông tin về sức cạnh tranh sản phẩm hiện tại của công ty, thông qua lợi thế
cạnh tranh của công ty có được và những tồn tại còn vướng mắc.
3.2.1 Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và phát triển thị trường
Trước khi bắt đầu bất kỳ một khâu nào trong quá trình sản xuất kinh
doanh, các doanh nghiệp đều phải thực hiện công việc đầu tiên là nghiên cứu
thị trường. Hoạt động nghiên cứu thị trường có một vai trò cực kỳ quan trọng,
đây là tiền đề cho các hoạt động khác của doanh nghiệp diễn ra trôi chảy.
Hoạt động nghiên cứu thị trường nói chung sẽ giúp doanh nghiệp trả lời được
ba câu hỏi: Sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào. Còn công
tác nghiên cứu thị trường phục vụ cho tiêu thụ sẽ giúp cho các doanh nghiệp
biết mình đang phải cạnh tranh với ai và vị trí của mình đang ở đâu.
Công tác nghiên cứu thị trường là công tác rất quan trọng đốí với tất cả
các sản phẩm, ngành nghề. Nếu như không có hiểu biết về khách hàng và nhu
cầu của họ, thì mọi cố gắng là vô ích. Hiện nay, mọi hoạt động liên quan đến
thị trường đều do phòng kế hoạch thị trường đảm nhận. Phòng này thực hiện
rất nhiều chức năng, từ kế hạch nhập hàng cho đến kế hoạch xuất hàng.
Nhiệm vụ của phòng kinh doanh là thu thập, xử lý các thông tin có liên
quan đến hoạt động tiêu thụ, nắm bắt được tình hình kinh tế xã hội, sức tiêu
thụ, thị hiếu của khách hàng,…Muốn nắm chắc được các yêu cầu đó, bên
cạnh đội ngũ cán bộ công nhân viên của phòng Marketing có trình độ tốt thì
Công ty cũng cần phải thiết lập được quan hệ chặt chẽ với các cơ quan thông
tin thị trường.
Cán bộ thị trường cần phải thông qua các phương pháp nghiên cứu thị
trường tiêu thụ của Công ty như: điều tra thị trường, phỏng vấn trực tiếp

93

khách hàng,… để rồi từ đó có thể tổng hợp, phần tích, lập báo cáo chi tiết
chính xác về từng mảng thị trường để cho ban lãnh đạo Công ty có thể căn cứ
vào đó để đưa ra những kế hoạch nhập và tiêu thụ phù hợp.
Công tác nghiên cứu thị trường cũng cần làm rõ về các đối thủ cạnh
tranh của Công ty, năng lực của họ ra sao? Các chiến lược, chính sách họ
đang áp dụng là gì? So sánh chất lượng, giá cả sản phẩm của Công ty với các
sản phẩm cùng loại trên thị trường… Những thông tin này là rất quan trọng và
cần phải được xử lý thật tốt.
- Điều kiện để thực hiện giải pháp:
+ Công ty cần phải có ngân sách cho hoạt động nghiên cứu thị trường,
đây là điều kiện đầu tiên nhằm đảm bảo cho hoạt động nghiên cứu thị trường
có hiệu quả.
+ Công ty phải có được một đội ngũ cán bộ điều tra nghiên cứu thị
trường giỏi về chuyên môn, do đó Công ty phải có chính sách tuyển mộ, đào
tạo cụ thể trong thời gian tới.
+ Công ty cần phải đầu tư những trang thiết bị hiện đại, phục vụ tốt cho
hoạt động nghiên cứu thị trường trong giai đoạn sau này.
Tóm lại, đối với bất cứ doanh nghiệp nào thì việc nghiên cứu thị trường
là rất quan trọng, là yếu tố tiên quyết cho sự thành bại trong tiêu thụ sản
phẩm. Vì vậy, công tác này phải được nhìn nhận và đánh giá một cách đúng
mực và nghiêm túc.
3.2.2 Áp dụng công nghệ thông tin vào quá trình hoạt động
Như đã phân tích ở trên, công nghệ có ý nghĩa quan trọng bởi vì công
nghệ sản xuất là một vũ khí cạnh tranh lâu dài và bền vững. Việc đầu tư dây
truyền công nghệ mới có thể rất tốn kém, làm giảm dòng tiền măt, và có thể
làm giảm năng suất lao dộng trong thời gian đầu… và tất cả các điều này có
thể làm cho doanh nghiệp yếu đi trong một thời gian ngắn nhưng về mặt