Tải bản đầy đủ
Kết cấu của Luận văn.

Kết cấu của Luận văn.

Tải bản đầy đủ

7

CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ
CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về tín dụng ngân hàng.
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của tín dụng ngân hàng.
1.1.1.1. Khái niệm.
* Khái niệm tín dụng:
Trong kinh tế hàng hoá, trong cùng một thời gian luôn có một số người tạm
thời thừa vốn, có vốn tạm thời nhàn rỗi và có nhu cầu cho vay. Bên cạnh đó luôn có
một số người tạm thời thiếu vốn, có nhu cầu đi vay. Hiện tượng này làm nảy sinh
mối quan hệ kinh tế mà nội dung của nó là vốn được dịch chuyển từ nơi tạm thời
thừa sang nơi thiếu với điều kiện hoàn trả vốn và lãi tiền vay là lợi nhuận thu được
do sử dụng vốn vay. Đây chính là quan hệ tín dụng.
Hiểu một cách chung nhất thì tín dụng là mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ
thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một
thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vốn gốc và
lãi cho bên chuyển giao tiền hoặc tài sản với điều kiện theo thời hạn đó thoả thuận.
Tín dụng được cấu thành bởi sự kết hợp của 3 yếu tố chính là: Lòng tin, thời
hạn của quan hệ tín dụng, sự hứa hẹn hoàn trả. Từ đó có thể rút ra 3 đặc trưng của tín
dụng: (1) Quan hệ chuyển nhượng mang tính tạm thời; (2) Có tính hoàn trả; (3) Quan
hệ dựa trên cơ sở tin tưởng giữa người cho vay và người đi vay.
* Khái niệm tín dụng ngân hàng:
Công tác tín dụng là một trong những hoạt động chủ yếu của ngân hàng, tại
Việt Nam do sự phát triển kinh tế còn thấp các dịch vụ ngoài tín dụng chưa phát triển
nên trong tổng thu nhập của ngân hàng có đến 90% là thu từ hoạt động tín dụng. Tín
dụng là chức năng kinh tế hàng đầu của các ngân hàng thương mại, nhằm tài trợ vốn
cho các doanh nghiệp, cá nhân và các tổ chức khác trong nền kinh tế.

8
Hoạt động tín dụng là một quan hệ kinh tế trong đó có sự chuyển nhượng tạm
thời một lượng giá trị (chủ yếu là bằng tiền hoặc cũng có thể bằng hiện vật) từ chủ sở
hữu sang người sử dụng để sau một thời gian thu về một lượng giá trị lớn hơn lượng
giá trị ban đầu với những điều kiện mà hai bên thoả thuận trong khuôn khổ cho phép.
Tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa Ngân hàng với bên đi vay trong
đó Ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất
định theo thoả thuận (thời gian, lãi suất, khối lượng, điều kiện đảm bảo tiền vay) và
bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho Ngân hàng
(TCTD) khi đến hạn thanh toán.
Theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của NHNN thì
hoạt động cho vay được khái niệm: "Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó
TCTD giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời
gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi".
Tín dụng ngân hàng có các đặc trưng: (1) Giao dịch trong quan hệ tín dụng
bao gồm 2 hình thức: cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản); (2)
Khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng thông thường phải có vật thế chấp
(đảm bảo tiền vay); (3) Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay,
đó là thu nhập từ hoạt động tín dụng.

1.1.1.2. Đặc điểm.
Thứ nhất, tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin. Đây chính là điều kiện
tiên quyết để thiết lập quan hệ tín dụng. Ngân hàng chỉ cho vay khi đã tin tưởng đối
với người đi vay. Đồng thời người ta tin rằng người sử dụng lượng giá trị đó sẽ thu
được lượng giá trị cao hơn sau một thời gian nhất định, người cho vay cũng tin tưởng
người đi vay có ý muốn trả nợ thì quan hệ tín dụng mới xảy ra.
Thứ hai, tín dụng là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn hay tính thời
hạn của tín dụng. Xuất phát từ bản chất của tín dụng là sự tín nhiệm, người cho vay
tin tưởng người đi vay sẽ hoàn trả vào một ngày trong tương lai. Người đi vay chỉ
được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời gian sử dụng
theo thỏa thuận, người đi vay hoàn trả cho người cho vay.

9
Thứ ba, tín dụng phải trên nguyên tắc hoàn trả (gồm cả gốc và lãi). Đây là
đặc trưng cơ bản nhất và sự hoàn trả là tiêu chuẩn phân biệt quan hệ tín dụng với các
quan hệ tài chính khác. Trong tính hoàn trả thì lượng vốn được chuyển nhượng phải
được hoàn trả đúng hạn về cả thời gian và về giá trị bao gồm hai bộ phận: Gốc và lãi.
Phần lãi phải đảm bảo cho lượng giá trị hoàn trả lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Sự
chênh lệch này là giá trả cho quyền sử dụng vốn tạm thời. Mặt khác nếu không có sự
hoàn trả thì đó là quan hệ tín dụng không hoàn hảo.
Thứ tư, tín dụng là hoạt động ẩn chứa nhiều rủi ro. Do sự bất cân xứng về
thông tin và người cho vay không hiểu rõ hết về người đi vay. Mối quan hệ tín dụng
hoàn hảo nếu người đi vay hoàn trả được đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn.
Thứ năm, tín dụng dựa trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Về khía
cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tín dụng như hợp đồng tín dụng, khế
ước… thực chất là lệnh phiếu, trong đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho
bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Tuy nhiên trong thực tế không phải mọi việc lúc nào cũng diễn ra một cách
trôi chảy, không hiếm trường hợp người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ của
mình đối với chủ nợ do các nguyên nhân khách quan hay chủ quan gây ra, chưa kể
các hoạt động vi phạm pháp luật của các bên liên quan. Đó là trường hợp khi đến hạn
hoàn trả vốn vay, người đi vay không thể thực hiện được việc trả nợ cho người cho
vay dẫn đến các khoản nợ bị quá hạn. Nợ xấu là biểu hiện không lành mạnh của quá
trình hoạt động tín dụng, là sự báo hiệu của rủi ro.

1.1.2. Các hình thức tín dụng ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng có thể phân chia theo nhiều loại hình khác nhau tùy theo
tiêu chí phân loại. Qua việc phân loại giúp ngân hàng thiết lập quy trình cho vay,
nâng cao hiệu quả tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng được tốt hơn.
Thứ nhất, căn cứ theo thời hạn tín dụng:
- Cho vay ngắn hạn: Gồm những khoản cho vay có kỳ hạn từ 12 tháng trở
xuống, căn cứ vào chu kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng.

10
- Cho vay trung, dài hạn: Gồm những khoản cho vay chủ yếu để đầu tư mua
sắm tài sản cố định, đổi mới trang thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh,
xây dựng các dự án có thời gian thu hồi vốn lâu (trên 12 tháng). Loại cho vay này
đang ngày càng được các ngân hàng chú trọng phát triển, một mặt chúng đáp ứng
nhu cầu vay vốn của khách hàng trên cơ sở yêu cầu của sự phát triển, mặt khác
chúng cũng phù hợp với khả năng vốn của các ngân hàng thương mại.
Trên thực tế, không phải cứ cho vay trên 12 tháng đều là hoạt động đầu tư.
Có những khoản cho vay có thời hạn trên 12 tháng nhưng là để bổ sung vốn lưu động
cho doanh nghiệp do chu kỳ sản xuất kinh doanh, vòng đời của sản phẩm kéo dài,
chẳng hạn như sản xuất rượu wishky thời gian cho vay vốn lưu động có thể kéo dài
đến 5 năm do việc ngâm ủ rượu kéo dài, hay sản xuất nước mắm cốt thời gian ủ tối
thiểu 12 tháng (càng lâu càng tốt), hay như việc cho vay để phát triển nguồn nguyên
liệu mà từ khi bắt đầu sản xuất đến khi thu hoạch có thể kéo dài 5 năm hoặc hơn.
Thứ hai, căn cứ theo mức độ tín nhiệm của khách hàng với ngân hàng:
- Tín dụng không bảo đảm (tín chấp): Việc cho vay căn cứ vào uy tín của
khách hàng, phương án sản xuất kinh doanh và khả năng quản lý của ngân hàng.
Ngân hàng sẽ xem xét dựa trên các điều kiện: phương án sản xuất kinh doanh có tính
khả thi, có khả năng đem lại lợi nhuận tốt; người vay kinh doanh có lãi trong hai năm
liền kề thời điểm vay vốn, người vay có uy tín, thương hiệu trên thị trường, khả năng
tài chính lành mạnh, có lịch sử quan hệ tín dụng tốt, khi đó ngân hàng dựa vào uy tín
của khách hàng mà không cần nguồn thu nợ bổ sung. Tuy nhiên, ngoài các điều kiện
trên, các ngân hàng còn xem xét đến khả năng quản lý các nguồn thu của khách hàng
của khách hàng đảm bảo khả năng trả nợ khi đến hạn.
- Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản: Là hình thức tín dụng dựa trên cơ sở
ngân hàng nắm giữ các tài sản thuộc sở hữu trực tiếp của người đi vay hoặc thuộc sở
hữu của bên thứ ba để bảo đảm cho các khoản vay. Các hình thức thường gặp là thế
chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh. Khi có tài sản bảo đảm khách hàng sẽ phấn đấu ở mức
cao nhất trong việc quản lý, sử dụng vốn vay đảm bảo có hiệu quả, thậm chí là sống
chết với việc sản xuất kinh doanh và trách nhiệm cao hơn đối với việc trả nợ.

11
- Tín dụng kết hợp - có bảo đảm một phần bằng tài sản: Là việc kết hợp của 2
hình thức trên. Tỷ lệ cho vay không có tài sản thế chấp tùy thuộc vào mức độ đánh
giá khách hàng của ngân hàng và các tiêu chí mà khách hàng đạt được trong hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Thứ ba, căn cứ theo xuất xứ tín dụng:
- Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho những khách hàng có
nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
- Cho vay gián tiếp: Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại
các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán. Các
ngân hàng thương mại cho vay gián tiếp theo các loại sau: Chiết khấu thương mại,
mua các phiếu bán hàng, mua các khoản nợ của doanh nghiệp…
Hiện nay, việc cho vay gián tiếp các ngân hàng tại Việt Nam chưa áp dụng
nhiều. Tuy nhiên, trong tương lai gần hình thức này sẽ rất phát triển ở Việt Nam và
là khoản thu quan trọng sau khoản thu từ hoạt động cho vay trực tiếp.
Thứ tư, căn cứ theo phương pháp, hình thức hoàn trả nợ vay:
Theo quy chế cho vay của các TCTD ban hành ngày 31/12/2001, ngân hàng
tiến hàng cho vay theo các phương thức như sau:
- Cho vay từng lần: Phương thức cho vay từng lần là phương thức cho vay mà
ngân hàng căn cứ vào từng kế hoạch, phương án kinh doanh, từng khâu hoặc từng
loại vật tư cụ thể để cho vay.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Việc cho vay và thu nợ căn cứ vào quá
trình nhập, xuất vật tư hàng hoá, dịch vụ... Theo phương thức cho vay này khách
hàng được ngân hàng xác định cho một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng
thời gian nhất định để làm căn cứ cho việc phát tiền vay. Thời hạn của hạn mức tín
dụng thường là 12 tháng.
- Cho vay theo dự án đầu tư: Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực
hiện đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời
sống. Ngân hàng cùng khách hàng cùng ký hợp đồng tín dụng và thoả thuận mức vốn

12
đầu tư duy trì cho cả thời gian đầu tư của dự án, phân định các kỳ trả nợ và giải ngân
theo tiến độ thực hiện dự án.
- Cho vay hợp vốn: Một nhóm TCTD cùng cho vay đối với một dự án vay
vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng. Trong đó có một TCTD làm đầu mối
dàn xếp, phối hợp với các TCTD khác. Cho vay hợp vốn có ưu điểm là san sẻ được
rủi ro song nhược điểm là nới lỏng việc kiểm soát tiền vay khách hàng.
- Cho vay trả góp: Khi vay vốn, ngân hàng và khách hàng xác định và thoả
thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ
hạn trong thời hạn cho vay.
- Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Ngân hàng cam kết đảm bảo sẵn
sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Ngân hàng
và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí
trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
- Cho vay theo hạn mức thấu chi.
- Cho vay lưu vụ: Phương thức này chỉ áp dụng trong cho vay hộ gia đình cá
nhân, ở vùng chuyên canh trồng lúa và các vùng xen canh trồng lúa với các cây trồng
ngắn ngày khác.
- Các phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm.
Thứ năm, căn cứ vào mục đích tín dụng:
- Cho vay bất động sản: Gồm các khoản cho vay thi công xây dựng, giải
phóng mặt bằng dưới 12 tháng và các khoản cho vay trung dài hạn tài trợ cho việc
mua đất canh tác, nhà, trung tâm thương mại… và mua các tài sản nước ngoài. Đối
với loại hình cho vay này, tài sản thế chấp thường được bảo đảm bằng chính tài sản
hình thành trong tương lai (áp dụng đối với các chủ đầu tư là người đi vay).
- Cho vay đối với các tổ chức tài chính: Gồm các khoản tín dụng dành cho
ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác.
- Cho vay nông nghiệp, công nghiệp và thương mại.
- Cho vay tiêu dùng đối với các cá nhân.

13
- Cho vay khác: Bao gồm các khoản cho vay không được xếp ở trên mà pháp
luật không cấm và các khoản cho vay kinh doanh chứng khoán.
- Tài trợ thuê mua: Loại hình này chủ yếu áp dụng đối với các công ty cho
thuê tài chính, đó là việc các công ty tài chính mua các loại bất động sản, động sản
(thường có giá trị cao, thời gian khấu hao dài) để cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu
thuê lại phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thứ sáu, căn cứ vào chủ thể vay vốn:
- Tín dụng doanh nghiệp (bán buôn): Là loại hình ngân hàng mà hoạt động
của nó chủ yếu thực hiện đối với các khách hàng lớn. Số lượng các giao dịch của
ngân hàng bán buôn nhỏ song về giá trị một dịch vụ lại lớn.
- Tín dụng cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ và vừa (bán lẻ): Là loại
hình ngân hàng mà hoạt động chủ yếu của nó thực hiện đối với các khách hàng là các
doanh nghiệp vừa và nhỏ, khách hàng cá nhân.
- Tín dụng cho các tổ chức tài chính: Đây là các khoản cấp tín dụng cho các
ngân hàng, các tổ chức tài chính, bảo hiểm… Hiện chưa phát triển ở Việt Nam.
Thứ bảy, căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng
- Tín dụng bằng tiền: Là loại hình tín dụng được giải ngân bằng tiền cho đối
tượng thụ hưởng và một phần nhỏ lẻ giải ngân trực tiếp cho người vay.
- Tín dụng bằng tài sản: Đây là hình thức cho vay bằng tài sản khá phổ biến
và đa dạng, mà điển hình nhất là tài trợ thuê mua. Theo phương thức này ngân hàng
hoặc công ty thuê mua (chủ yếu là các công ty con thuộc các Ngân hàng) cung cấp
trực tiếp tài sản cho khách hàng và theo định kỳ khách hàng hoàn trả nợ vay gồm cả
gốc và lãi. Đây gọi là hình thức tín dụng cho thuê tài chính.

1.1.3. Vai trò của tín dụng ngân hàng.
Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng của ngân hàng được sử dụng như là
công cụ khai thác và động viên có hiệu quả nhất các nguồn lực xã hội vào quá trình
tái sản xuất xã hội nhất là tái sản xuất mở rộng, phù hợp với quá trình vận động liên
tục của vốn.

14
Do trình độ phát triển kinh tế khác nhau, mục tiêu chiến lược kinh tế xã hội
khác nhau ở mỗi nước nên vai trò tín dụng được thể hiện và có định hướng khác
nhau. Ở Việt Nam hiện nay, tín dụng góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống nhân dân, song song
với nhiệm vụ hoàn thiện cải cách các thể chế để thu hút đầu tư nước ngoài đang có
xu hướng suy giảm trong thời gian gần đây.

1.1.3.1. Đối với ngân hàng thương mại.
Trong cơ chế thị trường hiện nay, các ngân hàng đang phải cạnh tranh gay gắt
để tồn tại và phát triển, kinh doanh có hiệu quả. Hoạt động tín dụng là hoạt động
quan trọng nhất quyết định thành bại của các ngân hàng. Trong điều kiện hiện nay ở
nước ta, nhu cầu mở rộng quy mô, trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, tiên tiến
thì nhu cầu nguồn vốn tín dụng trung – dài hạn là cấp thiết và quan trọng. Đây là
điều kiện để ngân hàng mở rộng phạm vi hoạt động của mình và ngày càng khẳng
định vai trò, vị trí của mình trong nền kinh tế thị trường.
Tín dụng còn là một hoạt động mang lại lợi ích chủ yếu cho các ngân hàng.
Quan hệ tín dụng cũng dẫn tới các hoạt động bảo lãnh do ngân hàng thực hiện. Ngân
hàng có thể thực hiện bảo lãnh cho các khách hàng vay các ngân hàng khác, bảo lãnh
thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tiền tạm ứng, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh bảo đảm chất
lượng sản phẩm và các hình thức bảo lãnh khác cho khách hàng. Qua việc thu phí từ
các hình thức bảo lãnh này đem lại thêm lợi nhuận cho Ngân hàng.
Chính vì vậy, nâng cao hiệu quả tín dụng đang là những vấn đề mà các ngân
hàng đều quan tâm nhằm đem lại lợi nhuận, hiệu quả cho ngân hàng cũng như phục
vụ sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước.

1.1.3.2. Đối với khách hàng vay.
Thiếu vốn là căn bệnh kinh niên của các đơn vị sản xuất kinh doanh (sau đây
gọi chung là doanh nghiệp), đặc biệt là các doanh nghiệp ở Việt Nam khi kinh tế
chưa phát triển và chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn doanh nghiệp lớn thì
chủ yếu tài sản cũng hình thành từ vốn vay. Càng lớn càng vay nhiều, bất kể là
doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân. Trong khi đó kinh tế không ngừng vận động,

15
hàng hoá sản xuất ngày càng nhiều và nhu cầu con người không ngừng tăng lên.
Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải nắm bắt nhu cầu và thoả mãn nhu
cầu đó.
Như vậy, doanh nghiệp phải liên tục đổi mới, mạnh dạn đầu tư để nâng cao
chất lượng sản phẩm, mở rộng sản xuất hay để xâm nhập vào thị trường mới, sản
phẩm mới. Tuy nhiên, để đạt được điều này, cần huy động một khối lượng vốn nhất
định đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh, hoặc doanh nghiệp cũng có thể tự
tích luỹ thông qua lợi nhuận để lại nhưng thời gian tích luỹ quá lâu, làm mất thời cơ
kinh doanh thậm chí tụt lại phía sau và phá sản. Đối với việc vay vốn từ ngân hàng
đôi khi đem lại nhiều thuận lợi hơn so với việc huy động vốn trên thị trường chứng
khoán và không phải doanh nghiệp nào cũng có thể huy động vốn hoặc đủ điều kiện
niêm yết trên thị trường chứng khoán. Còn về kỳ hạn, doanh nghiệp có thể vay vốn
ngân hàng theo kỳ hạn phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn. Thời gian và thủ tục
nhanh và ít phức tạp so với huy động trên thị trường chứng khoán.
Lãi vay cũng được hạch toán vào chi phí để giảm số thuế thu nhập phải nộp,
trong khi huy động vốn trên thị trường chứng khoán thì cổ tức chỉ được chia sau khi
đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ thuế. Đây là sự khác biệt rất lớn trong việc huy
động vốn của doanh nghiệp.
Ngoài ra đối với các khoản vay tại ngân hàng, doanh nghiệp thực hiện được
mục tiêu kinh doanh là tăng lợi nhuận mà không tăng sự kiểm soát của người bên
ngoài đối với hoạt động kinh doanh như trong trường hợp phát hành cổ phiếu. Tuy
nhiên, vay vốn ngân hàng chi phí khá cao so với huy động trên thị trường chứng
khoán với các doanh nghiệp đủ điều kiện. Do vậy, doanh nghiệp cũng cần tính toán
đến hiệu quả đầu tư, doanh thu đạt được không chỉ đủ trả vốn và lãi cho ngân hàng
mà phải đem lại lợi tức cho mình. Do đó, lãi suất cho vay là đòn bẩy thúc đẩy doanh
nghiệp khai thác triệt để đồng vốn để kinh doanh có lãi và thắng lợi trong cạnh tranh.

16

1.1.3.3. Đối với nền kinh tế và xã hội.
Tín dụng ngân hàng kênh cung ứng vốn quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân, điều hoà lượng cung cầu về vốn trong nền kinh tế, chuyển vốn từ nơi thiếu vốn,
từ tiết kiệm sang nhà đầu tư, phục vụ phát triển kinh tế.
Do tập trung được vốn và điều hoà cung cầu vốn trong nền kinh tế, tín dụng
góp phần đầy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng đầu tư phát triển kinh tế, thực
hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ.
Các khoản cho vay cung cấp cho ngành được thực hiện theo cả chiều sâu và chiều
rộng, đầu tư có trọng điểm, hình thành các ngành sản xuất mũi nhọn, xây dựng cơ
cấu kinh tế hợp lý, khai thác triết để các nguồn lực, tập trung phục vụ sản xuất. Nắm
trong tay nguồn vốn lớn, lâu dài đã thúc đẩy tiến độ đầu tư xây dựng các công trình,
các dự án, tạo được hiệu quả kinh tế bên vững, lâu dài góp phần thúc để tốc độ
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Bên cạnh đó, các khoản cho vay có vai trò tạo nguồn vốn để thực hiện xây
dựng mới, hiện đại hoá từng bước nền sản xuất trong nước, thúc đẩy sản xuất, nâng
cao chất lượng, mẫu mã, đa dạng về tính năng của sản phẩm để tiêu thụ trong nước
và xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ cho quốc gia, cải thiện cán cân thương mại và cán cân
thanh toán quốc tế.
Tín dụng ngân hàng có vai trò trong việc thực hiện các chính sách kinh tế vĩ
mô thông qua các chính sách điều hành thị trường tiền tệ của Chính phủ. TCTD đóng
vai trò là người cho vay cuối cùng trong nền kinh tế, ổn định lưu thông tiền tệ. Thông
qua tín dụng ngân hàng, Chính phủ có thể quản lý và thực hiện các chương trình kinh
tế lớn một cách có hiệu quả. Thực tế cho thấy, các chương trình kinh tế lớn đều được
cấp vốn thông qua hệ thông các TCTD, hiệu quả được xét đến kỹ hơn và Chính phủ
cũng quản lý dễ dàng hơn các chương trình đầu tư này. Ngoài ra, Chính phủ còn có
thể hướng tín dụng ngân hàng vào các ngành kinh tế mũi nhọn, phục vụ quá trình
công nghiệp hoá - hiện đại hoá để các ngành này đi đầu, tạo cho sự phát triển kinh tế
-xã hội đến đất nước.

17
Hoạt động tín dụng ngân hàng tạo điều kiện phát triển các quốc gia luôn gắn
liền với thị trường thế giới. Tín dụng trở thành nhịp cầu nối liền quan hệ kinh tế giữa
các quốc gia với nhau bằng các hoạt động tín dụng quốc tế như: Các hình thức tín
dụng giữa các Chính phủ, giữa cá nhân, các hình thức tài trợ, cho vay không hoàn lại
của Chính phủ các nước.
Như vậy, tín dụng Ngân hàng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh
tế xã hội của một đất nước, nó thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển.
Để đánh giá hoạt động tín dụng của một Ngân hàng thương mại có tốt hay
không, cần xem xét chất lượng tín dụng.

1.2. Chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại: Quan niệm, tiêu
chí và sự cần thiết nâng cao chất lượng tín dụng.
1.2.1. Quan niệm về chất lượng tín dụng ngân hàng thương mại và
đặc trưng của chất lượng tín dụng.
Về chất lượng: Theo Tổ chức quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo
DIS 9000:2000, đã đưa ra định nghĩa về chất lượng như sau: “Chất lượng là khả
năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng
các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan".
Chất lượng tín dụng: Mặc dù hệ thống ngân hàng thương mại của các quốc
gia trên thế đã rất phát triển, nhiều ngân hàng lớn đã vươn tầm hoạt động tín dụng
của mình ra nhiều khu vực, nhiều nước trên thế giới, nhưng vẫn chưa có một định
nghĩa chính xác về chất lượng tín dụng của một ngân hàng thương mại. Chất lượng
tín dụng vẫn chỉ được bao hàm trong chất lượng tài sản có của ngân hàng. Mà chất
lượng tài sản có của ngân hàng là chỉ tiêu tổng hợp nhất nói lên khả năng bền vững
về mặt tài chính, khả năng sinh lời và năng lực quản lý của một ngân hàng.
Chất lượng tín dụng có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động tín dụng nói
chung cũng như tổng thể hoạt động của ngân hàng.
Chất lượng tín dụng của TCTD có thể hiểu: Chất lượng tín dụng của ngân
hàng thương mại là sự đáp ứng kịp thời, hợp lý những yêu cầu về vốn của khách
hàng phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành, với một mức chi phí hợp lý,