Tải bản đầy đủ
Thứ bảy, các chỉ tiêu khác:

Thứ bảy, các chỉ tiêu khác:

Tải bản đầy đủ

24
+ Các khoản nợ phải thực hiện nghĩa vụ theo cam kết quá hạn dưới 30 ngày.
- Nhóm 4 (nợ nghi ngờ), bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày.
+ Các khoản nợ cơ cầu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo
thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thức 2.
+ Các khoản nợ phải thực hiện nghĩa vụ theo cam kết quá hạn từ 30-90 ngày.
- Nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn), bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày.
+ Các khoản nợ cơ cầu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên
theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 2 quá hạn theo thời hạn trả
nợ được cơ cấu lại lần thứ 2.
Ngoài ra, theo Điều 7 của quyết định này, TCTD có chính sách dự phòng rủi
ro được NHNN chấp thuận, thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng như sau:
+ Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được TCTD đánh giá
là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn.
+ Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ được TCTD đánh giá là có
khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm
khả năng trả nợ.
+ Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được TCTD đánh
giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được
TCTD đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi.
+ Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được TCTD đánh giá là khả
năng tổn thất cao.
+ Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được TCTD
đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn.
Việc phân loại nợ như Điều 7 trên căn cứ theo điểm số trên hệ thống chấm
điểm nội bộ của TCTD.

25
Ngoài các chỉ tiêu như trên, ngân hàng còn được đánh giá về chất lượng tín
dụng trên cơ sở nhiều tiêu chuẩn khác, phi chính thức như: thái độ tiếp đón, hướng
dẫn và phục vụ khách hàng một cách hoà nhã ân cần, thủ tục nhanh gọn, hợp lý, đơn
giản, phục vụ cho khách hàng nhanh nhất trong phạm vi thời gian quy định; đảm bảo
cung ứng đúng và đủ lượng tiền theo Hợp đồng tín dụng đã ký; đồng thời tuân thủ
các quy định trong lĩnh vực cho vay (các Luật và văn bản dưới Luật).

1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.
Chất lượng hoạt động tín dụng có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại, phát
triển của các ngân hàng và của toàn xã hội. Để quản lý chất lượng tín dụng đồng bộ,
đòi hỏi phải hiểu rõ tác động của các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng. Có
thể chia các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng làm hai loại: các nhân tố bên
ngoài (nhân tố khách quan) và các nhân tố bên trong (nhân tố chủ quan). Tuỳ thuộc
vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng nước, của từng ngân hàng mà hai loại nhân
tố này qua nghiên cứu cụ thể từng loại nhân tố ảnh hưởng.

1.2.3.1. Từ phía ngân hàng.
Đây là các nhân tố từ bên trong, bao gồm: Chính sách tín dụng; Khả năng
thẩm định dự án, thẩm định khách hàng; Năng lực giám sát và xử lý các tình huống
tín dụng; Thông tin tín dụng; Công nghệ phục vụ hoạt động tín dụng; Hoạt động
kiểm tra, kiểm soát nội bộ; Năng lực, trình độ của đội ngũ CBTD.
Các nhân tố bên trong trường thường liên quan tới sự phấn đấu của bản thân
ngân hàng trên tất cả các mặt có liên quan tới hoạt động tín dụng và ảnh hưởng trực
tiếp tới những khía cạnh khác nhau của chất lượng tín dụng. Các nhân tố bên trong
gồm 7 nhân tố (về chính sách; công tác tổ chức; trình độ lao động; quy trình nghiệp
vụ; thông tin; kiểm tra kiểm soát và trang thiết bị), cụ thể như sau:
- Chính sách tín dụng: Chính sách tín dụng bảo đảm cho hoạt động tín dụng
đi đúng quỹ đạo, có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của một ngân
hàng. Tùy từng thời kỳ, điều kiện cụ thể mà chính sách tín dụng được điều chỉnh cho
thích hợp. Chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút được nhiều khách hàng, đảm bảo
khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ luật

26
pháp, đường lối chính sách của Nhà nước. Điều đó cũng có nghĩa là chất lượng tín
dụng tuỳ thuộc vào việc xây dựng chính sách tín dụng của ngân hàng có đúng đắn
hay không. Bất cứ ngân hàng nào muốn có chất lượng tín dụng tốt đều phải có chính
sách tín dụng rõ ràng, thích hợp cho ngân hàng mình.
- Công tác tổ chức của ngân hàng: Tổ chức của ngân hàng được sắp xếp khoa
học, hợp lý đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các phòng ban trong
ngân hàng, trong toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng như giữa ngân hàng với các cơ
quan khác có liên quan…, sẽ tạo điều kiện đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách hàng;
theo dõi, quản lý sát sao các khoản vốn huy động cũng như các khoản cho vay, đây
là cơ sở để tiến hành các nghiệp vụ tín dụng lành mạnh và quản lý có hiệu quả các
khoản vốn tín dụng. Tổ chức ngân hàng theo nguyên tắc tập trung có phân cấp chính
là một khâu trong quá trình quản lý chất lượng tín dụng đồng bộ, góp phần thực hiện
chính sách tiền tệ của Nhà nước trong từng thời kỳ.
- Chất lượng nhân sự: Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong
mọi lĩnh vực. Kinh tế ngày càng phát triển đòi hỏi chất lượng nhân sự ngày càng cao
để có thể đối phó kịp thời, có hiệu quả với các tình huống khác nhau của hoạt động
tín dụng. Việc tuyển chọn nhân sự có đạo đức nghề nghiệp tốt và giỏi về chuyên môn
(có năng lực phân tích và xử lý thông tin vay, đánh giá tài sản thế chấp cả về giá cả
và điều kiện, giám sát số tiền cho vay ngay từ khi cấp tiền vay cho tới khi thu hồi
được nợ hoặc xử lý xong món nợ theo chính sách cho vay của ngân hàng …) sẽ giúp
cho ngân hàng có thể phòng ngừa tối đa được những sai phạm có thể xảy ra khi thực
hiện chu kỳ khép kín của một khoản tín dụng.
- Quy trình tín dụng: Quy trình tín dụng bao gồm những quy định, trình tự,
thủ tục cần phải thực hiện trong quá trình cho vay, thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn
tín dụng, nó được bắt đầu từ khi chuẩn bị cho vay, phát tiền vay, kiểm tra quá trình
cho vay cho đến khi thu hồi được nợ. Chất lượng tín dụng tuỳ thuộc vào việc thực
hiện tốt các quy định ở từng khâu, từng bước và sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng
giữa các bước trong quy trình tín dụng.

27
Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bước trong quy trình tín dụng sẽ tạo điều
kiện cho vốn tín dụng được luân chuyển bình thường, theo đúng kế hoạch đã định,
nhờ đó đảm bảo chất lượng tín dụng.
- Thông tin tín dụng: Thông tin tín dụng có vai trò quan trọng trong quản lý
chất lượng tín dụng. Nhờ có thông tin tín dụng, người quản lý có thể đưa ra những
quyết định cần thiết có liên quan đến cho vay, theo dõi và quản lý tài khoản cho vay.
Thông tin tín dụng có thể thu được từ các nguồn sẵn có ở ngân hàng (Hồ sơ vay vốn,
thông tin giữa các TCTD, phân tích của CBTD …); từ khách hàng (theo chế độ báo
cáo định kỳ hoặc phản ánh trực tiếp); từ các cơ quan chuyên về thông tin tín dụng ở
trong và ngoài nước; từ các nguồn thông tin khác (các cơ quan thông tấn, báo chí, toà
án, từ các mối quan hệ có liên quan đến khách hàng). Số lượng, chất lượng của thông
tin thu nhận được có liên quan đến mức độ chính xác trong việc phân tích, nhận định
thị trường, khách hàng… để đưa ra những quyết định phù hợp. Thông tin càng đầy
đủ, nhanh nhạy, chính xác và toàn diện thì khả năng phòng ngừa rủi ro trong hoạt
động tín dụng càng lớn, chất lượng tín dụng càng cao.
- Kiểm soát nội bộ: Đây là biện pháp giúp cho Ban lãnh đạo ngân hàng có
được các thông tin về tình trạng kinh doanh nhằm duy trì có hiệu quả các hoạt động
kinh doanh đang được xúc tiến, phù hợp với các chính sách, thực hiện được các mục
tiêu đã định.
Trong lĩnh vực tín dụng, hoạt động kiểm soát bao gồm:
Kiểm soát chính sách tín dụng và các thủ tục có liên quan đến các khoản vay
(thẩm quyền về điều hành, quản lý, giám sát các khoản tiền cho vay, hồ sơ, thủ tục
cho vay…)
Kiểm tra định kỳ do kiểm toán viên nội bộ thực hiện, báo cáo các trường hợp
ngoại lệ, những vi phạm chính sách, thủ tục, kiểm soát kế toán và các nghiệp vụ có
liên quan đến cho vay.
Chất lượng tín dụng tuỳ thuộc vào mức độ phát hiện kịp thời nguyên nhân các
sai sót phát sinh trong quá trình thực hiện một khoản tín dụng của công tác kiểm soát
nội bộ để có biện pháp khắc phục kịp thời.

28
Để kiểm soát nội bộ có hiệu quả, ngân hàng cần có cơ cấu tổ chức hợp lý, cán
bộ kiểm tra phải giỏi nghiệp vụ, có kinh nghiệm thực tiễn, trung thực và có chính
sách thưởng phạt nghiêm minh.
- Trang thiết bị phục vụ cho hoạt động tín dụng: Để có thể quản và theo dõi
có hiệu quả hoạt động tín dụng, song song với việc nâng cao chất lượng công tác
hoạch định chính sách, công tác tổ chức quản lý ngân hàng, công tác nhân sự, quản
lý quá trình cho vay, công tác thông tin, kiểm soát nội bộ, cần phải chú ý tới các
phương tiện cần thiết phục vụ cho quá trình quản lý hoạt động tín dụng.
Như vậy, trang thiết bị cũng là một trong các nhân tố không thể thiếu được để
không ngừng cải tiến chất lượng tín dụng.

1.2.3.2. Từ phía khách hàng vay.
Năng lực quản lý kinh doanh của người vay; Triển vọng kinh doanh của
doanh nghiệp; Đạo đức, uy tín của người vay.
Đối tượng tín dụng của Ngân hàng gồm 2 nhóm chính là: Cá nhân và doanh
nghiệp. Tuỳ theo nhu cầu sử dụng vốn, mục đích khác nhau mà họ tiếp cận vay vốn.
Do đó, để nâng cao hiệu quả tín dụng họ cần phải đưa ra các chính sách, quy trình tín
dụng sao cho phù hợp vời từng nhóm khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời, hạn
chế tối đa được rủi ro tín dụng:
- Đối với nhóm khách hàng cá nhân cần phải chú ý đến: thu nhập cá nhân,
mục đích vay vốn của họ là tiêu dùng hay đầu tư, trình độ văn hoá, tuổi tác, số nhân
khẩu mà người đó phải nuôi dưỡng,...
- Đối với nhóm khách hàng doanh nghiệp cần chú ý: Mục đích vay vốn, tính
khả thi của các phương án/dự án khi doanh nghiệp vay vốn đầu tư, sản xuất kinh
doanh, đối thủ cạnh tranh, tài sản thế chấp, khả năng sinh lời và rủi ro tiềm năng của
khách hàng vì nó là nhân tố quyết định tính an toàn và sinh lợi của hoạt động tín
dụng...
Khách hàng là thượng đế mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Vì vậy, cần phải
thiết lập mối quan hệ thân thiết, lâu bền đưa ra các cơ chế, chính sách nhằm thu hút
khuyến khích, tạo niềm tin cho khách hàng. Quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng
là quan hệ đối tác, cùng có lợi.

29

1.2.3.3. Từ môi trường kinh doanh.
Đây là nhóm các nhân tố bên ngoài, bao gồm: Môi trường kinh tế, chính trị,
xã hội; Môi trường pháp lý; Môi trường tự nhiên.
- Nhân tố kinh tế: Về phương diện tổng thể, nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều
kiện thuận lợi cho hoạt động tín dụng bền vững. Khi đó quá trình sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp tiến hành bình thường không bị ảnh hưởng bởi các yếu
tố lạm phát, khủng hoảng, khả năng trả nợ được đảm bảo. Trong trường hợp này chất
lượng tín dụng phụ thuộc chủ yếu vào khả năng quản lý chất lượng tín dụng của bản
thân các ngân hàng.
Tuy nhiên, xã hội luôn tồn tại và phát triển, đòi hỏi nền kinh tế phải có sự
tăng trưởng. Với mục tiêu tăng trưởng kinh tế, một số nước đã sử dụng mức lạm phát
vừa phải để tăng trưởng tín dụng, kích thích đầu tư. Giới hạn của mở rộng quy mô tín
dụng có ảnh hưởng lớn chất lượng tín dụng: nếu mở rộng quá giới hạn cho phép sẽ
làm cho giá cả tăng quá mức, xảy ra lạm phát, các ngân hàng sẽ chịu thiệt hại lớn do
đồng tiền mất giá, chất lượng tín dụng bị giảm thấp. Ngoài ra, chính sách điều tiết ưu
tiên hay hạn chế sự phát triển của một ngành, một lĩnh vực… để hạn chế tác động
tiêu cực như ô nhiễm môi trường, đảm bảo sự phát triển cân đối trong nền kinh tế
cũng ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động tín dụng.
Vốn nước ngoài cũng có ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng: do tình trạng
thiếu vốn để phát triển kinh tế, các nước đang phát triển phải tìm mọi cách huy động
vốn nước ngoài để đầu tư, phát triển sản xuất. Việc đầu tư sẽ làm tăng tổng cầu trong
nền kinh tế trong khi tổng cung chưa tăng theo kịp làm mất cân đối giữa tổng cung
và tổng cầu trong nền kinh tế gây nguy cơ lạm phát. Mặt khác, do hệ thống ngân
hàng chưa phát triển, tình trạng “đô la hoá” không kiểm soát được, luồng tiền từ
nước ngoài chảy vào trong nước cũng trở thành phương tiện thanh toán làm cho khối
lượng tiền trong nước tăng, gây sức ép lạm phát. Như vậy, vốn nước ngoài nếu
không có sự tính toán kỹ càng và không có sự quản lý chặt chẽ gây nguy cơ lạm phát
và tác động xấu tới hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay ở Việt
Nam, nguồn lực chưa có đủ thì vốn đầu tư nước ngoài là một kênh hết sức quan
trọng để phát triển kinh tế.

30
Chu kỳ phát triển kinh tế có tác động không nhỏ tới hoạt động tín dụng.
Trong thời kỳ kinh tế đình trệ sản xuất – kinh doanh bị thu hẹp, hoạt động tín dụng
gặp khó khăn. Nhu cầu vốn tín dụng giảm trong thời kỳ này và nếu vốn tín dụng đã
được giải ngân cũng khó có thể sử dụng có hiệu quả hoặc trả nợ đúng hạn cho ngân
hàng. Ngược lại, thời kỳ kinh tế khởi sắc phát triển nhanh, nhu cầu vốn tín dụng
tăng, rủi ro tín dụng giảm, nhưng nhiều khi do chạy đua trong sản xuất kinh doanh,
nạn đầu cơ tích trữ, làm cho nhu cầu vốn tín dụng lên quá cao và có quá nhiều khoản
tín dụng được giải ngân. Đây chính là mầm mồng khi suy thoái kinh tế xảy ra và
chắc chắn sẽ xảy ra bởi tính chu kỳ của suy thoái và khủng khoảng kinh tế.
Mức độ phù hợp giữa lãi suất ngân hàng với lợi nhuận của các doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh hàng hoá và dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân cũng ảnh hưởng
tới chất lượng tín dụng. Theo Mác thì lợi tức chỉ là một phần của lợi nhuận mà nhà
tư bản công nghiệp phải trả cho nhà tư bản kinh doanh tiền tệ mà giới hạn tối đa của
lợi tức là bản thân lợi nhuận. Như vậy, lợi tức của ngân hàng thu được từ hoạt động
tín dụng bị giới hạn bởi lợi nhuận của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sử dụng vốn
vay ngân hàng. Vì vậy, với mức lãi suất cao hơn mức lợi nhuận các doanh nghiệp
vay vốn thu được từ hoạt động sản xuất - kinh doanh, các doanh nghiệp sẽ không có
khả năng trả nợ ngân hàng, ảnh hưởng tới quá trình tái sản xuất giản đơn và tái sản
xuất mở rộng của doanh nghiệp nói riêng và tình hình phát triển của toàn bộ nền kinh
tế nói chung (trừ các doanh nghiệp có lợi nhuận siêu ngach hoặc lợi nhuận độc
quyền). Hoạt động tín dụng lúc này không còn là đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất phát
triển và theo đó chất lượng tín dụng cũng bị ảnh hưởng.
- Nhân tố xã hội: Nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng tín dụng là các
tác nhân trực tiếp tham gia quan hệ tín dụng, đó là người gửi tiền, ngân hàng và
người vay tiền.
Tín dụng là sự vay mượn trên cơ sở sự tín nhiệm, lòng tin, có nghĩa là quan
hệ tín dụng là sự kết hợp giữa 3 yếu tố: nhu cầu của khách hàng, khả năng của ngân
hàng và sự tin tưởng lẫn nhau giữa ngân hàng và khách hàng. Vì vậy, chất lượng tín
dụng phụ thuộc vào cả 3 yếu tố: khách hàng, ngân hàng và sự tín nhiệm, trong đó sự
tín nhiệm là cầu nối mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng: sự tín nhiệm của

31
ngân hàng càng cao, thu hút khách hàng càng lớn; khách hàng có tín nhiệm đối với
ngân hàng thường được vay vốn dễ dàng và có thể được vay với lãi suất thấp hơn so
với các đối tượng khác. Tín nhiệm là tiền đề, điều kiện để không ngừng cải tiến chất
lượng tín dụng.
Ngoài ra, các nhân tố xã hội khác ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng như: đạo
đức xã hội có liên quan tới rủi ro trong tín dụng trong trường hợp lợi dụng lòng tin
để lừa đảo; hoặc do trình độ dân trí chưa cao, kém hiểu biết dẫn tới hiểu chưa đúng
bản chất hoạt động ngân hàng nói chung cũng như hoạt động tín dụng nói riêng, làm
ăn kém hiệu quả…
Sự biến động của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội các nước khác có liên
quan cũng có ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng... Ngoài ra, chất lượng hoạt động tín
dụng còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố môi trường như tình hình thời tiết, dịch
bệnh… cũng như các biện pháp tích cực trong việc bảo vệ và cải thiện môi trường
sinh thái.
- Nhân tố pháp lý: Nhân tố pháp lý bao gồm tính đồng bộ của hệ thống pháp
luật, tính đầy đủ, thống nhất của các văn bản dưới luật, độ trễ của văn bản pháp luật,
đồng thời gắn liền với quá trình chấp hành pháp luật và trình độ dân trí.
Với vai trò đảm bảo cho việc chuyển nền kinh tế thị trường từ tự phát, kém tổ
chức sang một nền kinh tế thị trường văn minh, pháp luật, có nhiệm vụ tạo lập một
môi trường pháp lý cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh tiến hành thuận tiện và
đạt hiệu quả kinh tế cao; là cơ sở để quan trọng đối với hoạt động ngân hàng nói
chung và chất lượng hoạt động tín dụng nói riêng. Chỉ có trong điều kiện các chủ thể
tham gia quan hệ tín dụng tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh thì quan hệ tín
dụng mới đem lại lợi ích cho cả hai phía và chất lượng tín dụng mới được đảm bảo.
Qua nghiên cứu nội dung các loại nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng
có thể thấy: Tuỳ theo sự phát triển, điều kiện kinh tế xã hội và sự hoàn thiện môi
trường pháp lý của từng nước cũng như khả năng quản lý, cơ sở vật chất kỹ thuật,
quản trị rủi ro và trình độ cán bộ mà các nhân tố này có ảnh hưởng khác nhau tới
chất lượng tín dụng. Nắm vững các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng và

32
cách thức vận dụng sự ảnh hưởng của các nhân tố này trong thực tế tạo điều kiện để
nâng cao chất lượng tín dụng nói riêng và hiệu quả toàn hệ thống ngân hàng.

1.2.4. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng.
1.2.4.1. Quyết định sự tồn tại và phát triển của các tổ chức tín dụng.
Thứ nhất, nâng cao chất lượng tín dụng góp phần mở rộng quy mô tín dụng
và tăng thị phần cho ngân hàng. tăng khả năng cung cấp dịch vụ của các TCTD. Thu
hút được nhiều khách hàng bởi các hình thức của sản phẩm, dịch vụ, tạo ra một hình
ảnh tốt về biểu tượng và uy tín của ngân hàng và sự trung thành của khách hàng;
Thứ hai, việc nâng cao chất lượng tín dụng có thể hạn chế được những rủi ro
đồng thời tăng thêm thu nhập cho ngân hàng. Gia tăng khả năng sinh lợi của các sản
phẩm, dịch vụ ngân hàng do giảm được sự chậm chễ, giảm chi phí nghiệp vụ, chi phí
quản lý, các chi phí thiệt hại do không thu hồi được vốn đã cho vay và yêu cầu kiểm
tra tối thiểu;
Thứ ba, chất lượng tín dụng được nâng cao sẽ giúp ngân hàng thực hiện và
duy trì được tình hình tài chính lành mạnh, tạo thế mạnh cho ngân hàng trong quá
trình cạnh tranh;
Thứ tư, chất lượng tín dụng được chú trọng sẽ là cơ sở để ngân hàng tạo cho
mình những khách hàng trung thành, cho sự tồn tại lâu dài của ngân hàng.
Như vậy, việc củng cố và tăng cường chất lượng tín dụng của các TCTD là sự
cần thiết khách quan vì sự tồn tại và phát triển lâu dài của các TCTD; do đó, chất
lượng tín dụng luôn luôn cần được quan tâm và không ngừng được nâng cao.

1.2.4.2. Đối với khách hàng vay.
Thông qua việc nâng cao chất lượng tín dụng của mình, ngân hàng sẽ đánh
giá một cách chính xác hơn tiềm lực kinh doanh, tài chính của khách hàng, chỉ những
doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh, hoạt động hiệu quả, có uy tín trên
thương trường mới có thể đáp ứng được yêu cầu về thẩm định dự án, phương án cho
vay của ngân hàng. Ngoài ra, cũng giúp cho khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục
đích, kiểm soát tốt việc giải ngân vốn vay. Góp phần nâng cao thương hiệu, uy tín
của khách hàng trên thị trường.

33

1.2.4.3. Đối với phát triển của nền kinh tế và xã hội.
Tín dụng ngân hàng là sản phẩm của nền sản xuất hàng hoá, đã có những
đóng góp đáng kể trong việc thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn để thúc đẩy
tiến trình phát triển của xã hội.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá, tín dụng
cũng ngày càng phát triển nhằm cung cấp thêm các phương tiện giao dịch để đáp ứng
nhu cầu ngày càng tăng trong xã hội. Trong điều kiện đó, chất lượng tín dụng ngày
càng được quan tâm, bởi lẽ:
- Đảm bảo chất lượng tín dụng là điều kiện để ngân hàng làm tốt vai trò
trung tâm thanh toán. Khi chất lượng tín dụng được đảm bảo sẽ tăng vòng quay vốn
tín dụng, với một khối lượng tiền như cũ, có thể thực hiện số lần giao dịch lớn hơn,
tạo điều kiện tiết kiệm tiền trong lưu thông, củng cố sức mua của đồng tiền.
- Chất lượng tín dụng tạo điều kiện cho ngân hàng làm tốt chức năng trung
gian tài chính trong nền kinh tế quốc dân. Tín dụng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu
tư, góp phần điều hoà vốn trong nền kinh tế. Tăng cường chất lượng tín dụng sẽ giảm
thiểu lượng tiền thừa trong lưu thông. Điều đó không chỉ giải quyết mối quan hệ
cung cầu về vốn trong nền kinh tế mà còn tạo điều kiện để mở rộng phạm vi thanh
toán không dùng tiền mặt, từ đó tiết kiệm chi phí lưu thông cho xã hội, góp phần vào
việc điều hoà và ổn định lưu thông tiền tệ.
- Chất lượng tín dụng góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng
trưởng kinh tế, tăng uy tín quốc gia. Đảm bảo chất lượng tín dụng sẽ tạo điều kiện
cho các TCTD cung cấp tổng phương tiện thanh toán phù hợp với yêu cầu của nền
kinh tế, tạo khả năng giảm bớt lượng tiền thừa trong lưu thông, góp phần hạn chế
lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng uy tín của quốc gia bằng việc phát huy tác dụng của
các sản phẩm, dịch vụ trong tương lai của các công trình đầu tư.
- Tín dụng là công cụ để thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước về
phát triển kinh tế xã hội theo từng ngành, từng lĩnh vực. Mặt khác, thông qua sự
phân tích, đánh giá khả năng phát triển của các đối tượng định đầu tư để có những
quyết định đầu tư đúng đắn nhằm khai thác tiềm năng về tài nguyên, lao động, tiền

34
vốn… để tăng cường năng lực sản xuất, cung cấp ngày càng nhiều sản phẩm cho xã
hội, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động… Chất lượng tín
dụng được nâng cao sẽ góp phần tăng hiệu quả sản xuất xã hội, đảm bảo sự phát triển
cân đối giữa các ngành các vùng trong cả nước, ổn định và phát triển nền kinh tế.
- Chất lượng tín dụng góp phần lành mạnh hoá quan hệ tín dụng: Đơn giản
hoá thủ tục, thuận tiện, mở rộng cho vay nhưng vẫn tuân thủ các nguyên tắc tín dụng
góp phần cho vay đúng các đối tượng cần thiết, giảm thiểu nạn cho vay nặng lãi chủ
yếu hiện nay đang hoành hành ở nông thôn và các vùng xa xôi, hẻo lánh và thậm chí
cũng khá phổ biến ở địa bàn các thành phố lớn.
Để nâng cao chất lượng tín dụng, ngoài sự nỗ lực của bản thân các TCTD thì
nền kinh tế phải cần có sự ổn định nhất định và cơ chế chính sách phù hợp, có sự hỗ
trợ hiệu quả của chính quyền các cấp,… tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động
tín dụng.
Thiết lập cơ chế chính sách tín dụng đồng bộ, có hiệu quả có tác dụng tích
cực đến mọi mặt của nền kinh tế, xã hội. Điều đó cũng thể hiện chất lượng hoạt động
tín dụng trong nền kinh tế thị trường.

1.3. Kinh nghiệm nâng cao chất lượng tín dụng từ các ngân hàng
thương mại.
1.3.1. Kinh nghiệm nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng thương
mại của một số quốc gia.
Cùng với những thời cơ và thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là
diễn biến phức tạp và nguy cơ khủng hoảng tín dụng và kinh tế thế giới đang tăng
cao, vấn đề nâng cao chất lượng và khả năng quản lý rủi ro tín dụng, hạn chế đến
mức thấp nhất những nguy cơ tiềm ẩn rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại
đang và ngày càng trở nên cấp thiết.
Trong cuộc khủng hoảng tài chính ngân hàng khu vực châu Á thời kỳ 19971998, và cuộc khủng hoảng tài chính-ngân hàng toàn cầu khởi đầu từ Mỹ những năm