Tải bản đầy đủ
Thứ bảy, căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng

Thứ bảy, căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng

Tải bản đầy đủ

14
Do trình độ phát triển kinh tế khác nhau, mục tiêu chiến lược kinh tế xã hội
khác nhau ở mỗi nước nên vai trò tín dụng được thể hiện và có định hướng khác
nhau. Ở Việt Nam hiện nay, tín dụng góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống nhân dân, song song
với nhiệm vụ hoàn thiện cải cách các thể chế để thu hút đầu tư nước ngoài đang có
xu hướng suy giảm trong thời gian gần đây.

1.1.3.1. Đối với ngân hàng thương mại.
Trong cơ chế thị trường hiện nay, các ngân hàng đang phải cạnh tranh gay gắt
để tồn tại và phát triển, kinh doanh có hiệu quả. Hoạt động tín dụng là hoạt động
quan trọng nhất quyết định thành bại của các ngân hàng. Trong điều kiện hiện nay ở
nước ta, nhu cầu mở rộng quy mô, trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, tiên tiến
thì nhu cầu nguồn vốn tín dụng trung – dài hạn là cấp thiết và quan trọng. Đây là
điều kiện để ngân hàng mở rộng phạm vi hoạt động của mình và ngày càng khẳng
định vai trò, vị trí của mình trong nền kinh tế thị trường.
Tín dụng còn là một hoạt động mang lại lợi ích chủ yếu cho các ngân hàng.
Quan hệ tín dụng cũng dẫn tới các hoạt động bảo lãnh do ngân hàng thực hiện. Ngân
hàng có thể thực hiện bảo lãnh cho các khách hàng vay các ngân hàng khác, bảo lãnh
thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tiền tạm ứng, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh bảo đảm chất
lượng sản phẩm và các hình thức bảo lãnh khác cho khách hàng. Qua việc thu phí từ
các hình thức bảo lãnh này đem lại thêm lợi nhuận cho Ngân hàng.
Chính vì vậy, nâng cao hiệu quả tín dụng đang là những vấn đề mà các ngân
hàng đều quan tâm nhằm đem lại lợi nhuận, hiệu quả cho ngân hàng cũng như phục
vụ sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước.

1.1.3.2. Đối với khách hàng vay.
Thiếu vốn là căn bệnh kinh niên của các đơn vị sản xuất kinh doanh (sau đây
gọi chung là doanh nghiệp), đặc biệt là các doanh nghiệp ở Việt Nam khi kinh tế
chưa phát triển và chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn doanh nghiệp lớn thì
chủ yếu tài sản cũng hình thành từ vốn vay. Càng lớn càng vay nhiều, bất kể là
doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân. Trong khi đó kinh tế không ngừng vận động,

15
hàng hoá sản xuất ngày càng nhiều và nhu cầu con người không ngừng tăng lên.
Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải nắm bắt nhu cầu và thoả mãn nhu
cầu đó.
Như vậy, doanh nghiệp phải liên tục đổi mới, mạnh dạn đầu tư để nâng cao
chất lượng sản phẩm, mở rộng sản xuất hay để xâm nhập vào thị trường mới, sản
phẩm mới. Tuy nhiên, để đạt được điều này, cần huy động một khối lượng vốn nhất
định đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh, hoặc doanh nghiệp cũng có thể tự
tích luỹ thông qua lợi nhuận để lại nhưng thời gian tích luỹ quá lâu, làm mất thời cơ
kinh doanh thậm chí tụt lại phía sau và phá sản. Đối với việc vay vốn từ ngân hàng
đôi khi đem lại nhiều thuận lợi hơn so với việc huy động vốn trên thị trường chứng
khoán và không phải doanh nghiệp nào cũng có thể huy động vốn hoặc đủ điều kiện
niêm yết trên thị trường chứng khoán. Còn về kỳ hạn, doanh nghiệp có thể vay vốn
ngân hàng theo kỳ hạn phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn. Thời gian và thủ tục
nhanh và ít phức tạp so với huy động trên thị trường chứng khoán.
Lãi vay cũng được hạch toán vào chi phí để giảm số thuế thu nhập phải nộp,
trong khi huy động vốn trên thị trường chứng khoán thì cổ tức chỉ được chia sau khi
đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ thuế. Đây là sự khác biệt rất lớn trong việc huy
động vốn của doanh nghiệp.
Ngoài ra đối với các khoản vay tại ngân hàng, doanh nghiệp thực hiện được
mục tiêu kinh doanh là tăng lợi nhuận mà không tăng sự kiểm soát của người bên
ngoài đối với hoạt động kinh doanh như trong trường hợp phát hành cổ phiếu. Tuy
nhiên, vay vốn ngân hàng chi phí khá cao so với huy động trên thị trường chứng
khoán với các doanh nghiệp đủ điều kiện. Do vậy, doanh nghiệp cũng cần tính toán
đến hiệu quả đầu tư, doanh thu đạt được không chỉ đủ trả vốn và lãi cho ngân hàng
mà phải đem lại lợi tức cho mình. Do đó, lãi suất cho vay là đòn bẩy thúc đẩy doanh
nghiệp khai thác triệt để đồng vốn để kinh doanh có lãi và thắng lợi trong cạnh tranh.

16

1.1.3.3. Đối với nền kinh tế và xã hội.
Tín dụng ngân hàng kênh cung ứng vốn quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân, điều hoà lượng cung cầu về vốn trong nền kinh tế, chuyển vốn từ nơi thiếu vốn,
từ tiết kiệm sang nhà đầu tư, phục vụ phát triển kinh tế.
Do tập trung được vốn và điều hoà cung cầu vốn trong nền kinh tế, tín dụng
góp phần đầy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng đầu tư phát triển kinh tế, thực
hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ.
Các khoản cho vay cung cấp cho ngành được thực hiện theo cả chiều sâu và chiều
rộng, đầu tư có trọng điểm, hình thành các ngành sản xuất mũi nhọn, xây dựng cơ
cấu kinh tế hợp lý, khai thác triết để các nguồn lực, tập trung phục vụ sản xuất. Nắm
trong tay nguồn vốn lớn, lâu dài đã thúc đẩy tiến độ đầu tư xây dựng các công trình,
các dự án, tạo được hiệu quả kinh tế bên vững, lâu dài góp phần thúc để tốc độ
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Bên cạnh đó, các khoản cho vay có vai trò tạo nguồn vốn để thực hiện xây
dựng mới, hiện đại hoá từng bước nền sản xuất trong nước, thúc đẩy sản xuất, nâng
cao chất lượng, mẫu mã, đa dạng về tính năng của sản phẩm để tiêu thụ trong nước
và xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ cho quốc gia, cải thiện cán cân thương mại và cán cân
thanh toán quốc tế.
Tín dụng ngân hàng có vai trò trong việc thực hiện các chính sách kinh tế vĩ
mô thông qua các chính sách điều hành thị trường tiền tệ của Chính phủ. TCTD đóng
vai trò là người cho vay cuối cùng trong nền kinh tế, ổn định lưu thông tiền tệ. Thông
qua tín dụng ngân hàng, Chính phủ có thể quản lý và thực hiện các chương trình kinh
tế lớn một cách có hiệu quả. Thực tế cho thấy, các chương trình kinh tế lớn đều được
cấp vốn thông qua hệ thông các TCTD, hiệu quả được xét đến kỹ hơn và Chính phủ
cũng quản lý dễ dàng hơn các chương trình đầu tư này. Ngoài ra, Chính phủ còn có
thể hướng tín dụng ngân hàng vào các ngành kinh tế mũi nhọn, phục vụ quá trình
công nghiệp hoá - hiện đại hoá để các ngành này đi đầu, tạo cho sự phát triển kinh tế
-xã hội đến đất nước.

17
Hoạt động tín dụng ngân hàng tạo điều kiện phát triển các quốc gia luôn gắn
liền với thị trường thế giới. Tín dụng trở thành nhịp cầu nối liền quan hệ kinh tế giữa
các quốc gia với nhau bằng các hoạt động tín dụng quốc tế như: Các hình thức tín
dụng giữa các Chính phủ, giữa cá nhân, các hình thức tài trợ, cho vay không hoàn lại
của Chính phủ các nước.
Như vậy, tín dụng Ngân hàng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh
tế xã hội của một đất nước, nó thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển.
Để đánh giá hoạt động tín dụng của một Ngân hàng thương mại có tốt hay
không, cần xem xét chất lượng tín dụng.

1.2. Chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại: Quan niệm, tiêu
chí và sự cần thiết nâng cao chất lượng tín dụng.
1.2.1. Quan niệm về chất lượng tín dụng ngân hàng thương mại và
đặc trưng của chất lượng tín dụng.
Về chất lượng: Theo Tổ chức quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo
DIS 9000:2000, đã đưa ra định nghĩa về chất lượng như sau: “Chất lượng là khả
năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng
các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan".
Chất lượng tín dụng: Mặc dù hệ thống ngân hàng thương mại của các quốc
gia trên thế đã rất phát triển, nhiều ngân hàng lớn đã vươn tầm hoạt động tín dụng
của mình ra nhiều khu vực, nhiều nước trên thế giới, nhưng vẫn chưa có một định
nghĩa chính xác về chất lượng tín dụng của một ngân hàng thương mại. Chất lượng
tín dụng vẫn chỉ được bao hàm trong chất lượng tài sản có của ngân hàng. Mà chất
lượng tài sản có của ngân hàng là chỉ tiêu tổng hợp nhất nói lên khả năng bền vững
về mặt tài chính, khả năng sinh lời và năng lực quản lý của một ngân hàng.
Chất lượng tín dụng có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động tín dụng nói
chung cũng như tổng thể hoạt động của ngân hàng.
Chất lượng tín dụng của TCTD có thể hiểu: Chất lượng tín dụng của ngân
hàng thương mại là sự đáp ứng kịp thời, hợp lý những yêu cầu về vốn của khách
hàng phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành, với một mức chi phí hợp lý,

18
đảm bảo sự phát triển an toàn, và lợi nhuận trong hoạt động tín dụng của ngân hàng
và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
Chất lượng tín dụng là khái niệm vừa mang tính cụ thể, vừa mang tính trừu
tượng. Tính cụ thể được thể hiện qua các chỉ tiêu đánh giá chất lượng có thể lượng
hoá được (nợ quá hạn, nợ xấu, tốc độ tăng trưởng tín dụng…).
Tính trừu tượng thể hiện qua khả năng lôi cuốn, hấp dẫn khách hàng, uy tín
của ngân hàng và mức độ tác động đối với nền kinh tế.
Về đặc trưng của chất lượng tín dụng:
- Đối với khách hàng: Tín dụng phát ra phải phù hợp với mục đích sử dụng
của khách hàng với lãi suất, kỳ hạn nợ hợp lý. Thủ tục giản đơn thu hút được khách
hàng nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng.
- Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: Tín dụng phục vụ sản xuất và lưu thông
hàng hoá, góp phần giải quyết việc làm, thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung sản xuất.
- Đối với TCTD: Phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với thực
lực của bản thân ngân hàng, đảm bảo được nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi
của tín dụng, hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro trong quá trình hoạt động, mang lại
lợi nhuận và đảm bảo thanh khoản cho ngân hàng.
Chất lượng tín dụng tỷ lệ thuận với hiệu quả, độ tin cậy trong hoạt động tín dụng.

1.2.2. Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng tín dụng ngân hàng.
Hiện nay, việc đánh giá chất lượng tín dụng ở Việt Nam được dựa trên một số
tiêu chuẩn do các ngân hàng trung ương, cơ quan quản lý cao nhất trong hệ thống
ngân hàng của một quốc gia ban hành.
Tại Việt Nam, những chỉ tiêu phản ánh quy mô, chất lượng hoạt động tín
dụng của ngân hàng có thể khái quát như sau:
Thứ nhất, chỉ tiêu tổng dư nợ và kết cấu nợ:
Tổng dư nợ phản ánh khối lượng vốn mà ngân hàng đã cho vay và chưa thu
được nợ hoặc nợ chưa đến hạn, được tính bằng số dư nợ năm trước và doanh số cho
vay năm nay trừ đi doanh số thu nợ năm nay.

19
Tổng dư nợ thấp phản ánh quy mô hoạt động của ngân hàng và các yếu tố
khác như về lãi suất cho vay cao, trình độ marketing tiếp cận với khách hàng và thị
trường còn thiếu nhạy bén, khả năng thẩm định nhìn nhận khách hàng khắt khe...
Tổng dư nợ cao có thể kỳ vọng thu nhập từ hoạt động tín dụng cao nhưng cũng đồng
nghĩa với rủi ro sẽ tăng lên do không thu được nợ đúng hạn... Tuy nhiên, nâng cao
chất lượng tín dụng không phải là việc hạn chế rủi ro bằng cách thắt chặt tín dụng mà
phải mở rộng tín dụng với hiệu quả hoạt động cao nhất, nghĩa là có khả năng sinh lời
cao nhất và an toàn nhất.
Chỉ tiêu này được sử dụng để phản ánh quy mô tín dụng của ngân hàng, có
thể thể hiện ở dạng số tuyệt đối hoặc số tương đối (dư nợ so với nguồn vốn, cơ cấu
dư nợ theo thời gian, theo thành phần kinh tế, dư nợ có tài sản đảm bảo - không có
tài sản đảm bảo...). Bên cạnh đó chỉ tiêu này cũng phản ánh chất lượng tín dụng của
ngân hàng song không phải là chỉ tiêu duy nhất, người ta phải kết hợp chỉ tiêu tổng
dư nợ tín dụng và một số chỉ tiêu khác như doanh số cho vay, thu nợ …..để đánh giá
chính xác chất lượng tín dụng của TCTD.
Kết cấu dư nợ phản ánh tỷ trọng của các loại dư nợ trong tổng dư nợ. Phân
tích kết cấu dư nợ sẽ giúp ngân hàng biết được gân hàng cần đẩy mạnh cho vay
theo loại hình nào để cân đối với thực lực của ngân hàng. Kết cấu dư nợ khi so với
kết cấu nguồn huy động sẽ cho biết rủi ro của loại hình cho vay nào là nhiều nhất.
Thứ hai, chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn:
Tỷ lệ nợ quá hạn được xem là một chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá
chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Nợ quá hạn phát sinh từ mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo khi người đi
vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình cho ngân hàng đúng hạn.
Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn và tổng dư nợ của ngân
hàng thương mại ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, quý, năm.
Tỷ lệ nợ quá hạn =

Nợ quá hạn
Tổng dư nợ

x 100%