Tải bản đầy đủ
d. Tính thống nhất và mâu thuẫn của các thành phần kinh tế

d. Tính thống nhất và mâu thuẫn của các thành phần kinh tế

Tải bản đầy đủ

và có bản chất riêng, nhưng hoạt động sản xuất, kinh doanh trong môi trường
chung, cùng chịu tác động của các nhân tố, các quy luật thị trường. Đồng thời, các
thành phần kinh tế tác động lẫn nhau, cả tích cực và tiêu cực. Sự biến đổi của thành
phần kinh tế này sẽ làm ảnh hưởng đến các thành phần kinh tế khác. Hơn thế nữa,
các thành phần kinh tế có thể liên kết với nhau trong sản xuất, kinh doanh. Trong
nền kinh tế quốc dân thống nhất do nhà nước hướng dẫn, điều tiết, các chủ thể sản
xuất, kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế vừa hợp tác với nhau, bổ sung cho
nhau, bình đẳng trước pháp luật.
Nền kinh tế nhiều thành phần là cơ sở tồn tại các giai cấp hoặc tầng lớp xã
hội khác nhau mà tổng hợp toàn bộ các giai cấp hoặc tầng lớp xã hội đó tạo thành
cơ cấu xã hội - giai cấp. Trong cơ cấu xã hội - giai cấp ấy, mỗi giai cấp, mỗi tầng
lớp xã hội, các chủ thể sản xuất, kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế đều có
những lợi ích kinh tế riêng, vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau.
* Sự mâu thuẫn
Các thành phần kinh tế mâu thuẫn với nhau vì mỗi thành phần kinh tế có đặc
điểm riêng về quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất. Trên cơ sở đó, ở mỗi thành phần
kinh tế ngoài các quy luật kinh tế chung còn có các quy luật kinh tế đặc thù hoạt
động, chi phối mỗi thành phần. Như vậy, mỗi thành phần kinh tế mang bản chất
kinh tế khác nhau, có các lợi ích kinh tế khác nhau, thậm chí đối lập với nhau.
Mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế làm cho cạnh tranh trở thành tất yếu.
Cạnh tranh là động lực quan trọng để cải tiến kỹ thuật, phát triển lực lượng sản
xuất. Do đó, Nhà nước cần tạo môi trường thuận lợi cho cạnh tranh. Tuy nhiên,
mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế, đặc biệt là mâu thuẫn giữa một bên là kinh
tế nhà nước, kinh tế tập thể và kinh tế tư bản nhà nước với một bên là tính tự phát
của kinh tế tư nhân là mâu thuẫn nổi bật. Giải quyết mâu thuẫn theo hướng các
thành phần kinh tế dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất ngày càng chiếm
ưu thế là nhiệm vụ căn bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Tuy nhiên, giải quyết các mâu thuẫn đó không thể bằng biện pháp hành
chính đơn thuần, bằng ý chí chủ quan, bằng bạo lực... mà phải bằng cách tạo điều
kiện cho các thành phần kinh tế ấy phát triển mạnh mẽ có lợi cho quốc kế dân sinh,
hướng thành phần kinh tế tư nhân đi vào con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước
thông qua nhiều hình thức và mức độ khác nhau: hiệp tác, liên kết, liên doanh;
bằng việc nâng cao hiệu quả của kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể...
Tóm lại, trong nền kinh tế tồn tại nhiều thành phần, sự thống nhất và mâu
thuẫn giữa chúng là khách quan. Sự thống nhất và mâu thuẫn làm cho các thành
phần kinh tế vừa hợp tác, vừa cạnh tranh. Trong quá trình cạnh tranh và hợp tác,
từng thành phần kinh tế tồn tại với tư cách là đơn vị sản xuất hàng hoá đều đóng
góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế và cần có sự quản lý của Nhà nước
nhằm bảo đảm nền kinh tế phát triển nhanh, đem lại thắng lợi cho chủ nghĩa xã
hội. Các thành phần kinh tế cần được thừa nhận và tạo điều kiện để chúng tồn tại,
phát triển. Đồng thời, các thành phần kinh tế cần được bình đẳng trên mọi phương
diện.
17

Nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo định hướng xã hội chủ
nghĩa
Nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta vừa vận động theo cơ chế thị trường,
vừa theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Để bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, trong quá trình phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần cần quán triệt những quan điểm cơ bản sau:
- Phải coi các thành phần kinh tế đều là "bộ phận hợp thành quan trọng của
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật,
cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh"
- Lấy việc giải phóng lực lượng sản xuất, động viên tối đa mọi nguồn lực
bên trong và bên ngoài cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá; nâng cao hiệu quả kinh
tế và xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, làm mục tiêu hàng đầu trong việc khuyến
khích phát triển các thành phần kinh tế và hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh.
- Chủ động đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước, kinh
tế tập thể. Bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Kinh tế nhà nước cùng
với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc
dân. Tạo điều kiện để các nhà kinh doanh tư nhân yên tâm đầu tư kinh doanh lâu
dài, áp dụng linh hoạt và sáng tạo các hình thức kinh tế tư bản nhà nước.
- Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính
sách phát triển.
- Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, và hiệu quả
kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác vào kết quả
sản xuất, kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội. Thừa nhận sự tồn tại
các hình thức thuê mướn lao động nhưng không thể biến thành quan hệ thống trị.
Phân phối và phân phối lại hợp lý nhằm khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi
với xoá đói, giảm nghèo, không để diễn ra sự chênh lệch quá đáng về mức sống và
trình độ phát triển giữa các vùng, các tầng lớp dân cư, tránh sự phân hoá xã hội
thành hai cực đối lập. Tăng cường hiệu lực quản lý vĩ mô của Nhà nước, phát huy
mặt tích cực, đồng thời khắc phục, ngăn ngừa và hạn chế những tác động tiêu cực
của cơ chế thị trường. Bảo đảm sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trước pháp luật
của mọi doanh nghiệp và cá nhân, không phân biệt thành phần kinh tế.
- Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế,
tăng cường hội nhập với khu vực và quốc tế. Đây là những điều kiện quan trọng
cho sự phát triển của mỗi thành phần kinh tế cũng như của toàn bộ nền kinh t

III. KẾT LUẬN

18

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, việc phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần là một tất yếu khách quan. Trên cơ sở các chế độ sở hữu và xu hướng
đan liên kết giữa các chủ sở hữu thuộc các hình thức sở hữu khác nhau, chỉ nên
chia nền kinh tế thành ba thành phần là kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và kinh tế
hỗn hợp. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chưa có bộ phận nào đủ điều
kiện chi phối bộ phận khác, các thành phần kinh tế đều là những bộ phận quan
trọng của nền kinh tế quốc dân, tồn tại và phát triển trong môi trường hợp tác và
cạnh tranh bình đẳng. Với xu hướng phát triển liên kết giữa các chủ sở hữu và các
thành phần kinh tế, thành phần kinh tế hỗn hợp sẽ trở thành nền tảng của nền kinh
tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Loại hình tổ chức kinh doanh là hình thức pháp lý chứa đựng các quan hệ sở
hữu khác nhau. Thông qua các loại hình tổ chức kinh doanh, các hình thức sở hữu
và các thành phần kinh tế phát huy được vai trò trong nền kinh tế. Trong nền kinh
tế thị trường, các loại hình tổ chức kinh doanh được phát triển hết sức đa dạng.
Mỗi loại hình có những đặc trưng riêng và có sự vận động, chuyển hóa thích ứng
với điều kiện của môi trường, năng lực và ý nguyện của chủ sở hữu. Xu hướng chủ
đạo của sự vận động, chuyển hóa ấy là phát triển các loại hình tổ chức kinh doanh
đa sở hữu, đặc biệt là loại hình công ty cổ phần. Xu hướng này là biểu hiện sự liên
kết giữa các chủ thể sở hữu và trực tiếp thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung hóa sản
xuất, thúc đẩy xã hội hóa sở hữu tư liệu sản xuất./.

Tài liệu tham khảo:
19

1). Bàn về chế độ hợp tác xã”, V.I.Lênin: Toàn tập, t.45, Nxb. Tiến bộ,
M.,1978, tr.421-429
2). Lý luận về hợp tác hóa, kinh nghiệm lịch sử và sự vận dụng ở nước ta,
nxb Sự thật 1990.

20