Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CƠ KHÍ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2025

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CƠ KHÍ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2025

Tải bản đầy đủ

Chuyên đề tốt nghiệp

47

Chú trọng phát triển một số ngành công nghiệp lưỡng dụng phục vụ quốc
phòng, an ninh quốc gia.
Phát triển công nghiệp trên cơ sở tăng trưởng xanh, bền vững và bảo vệ môi
trường.
Các nhóm ngành công nghiệp được lựa chọn ưu tiên phát triển
Thứ nhất, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo gồm: nhóm ngành cơ khí và
luyện kim; nhóm ngành hóa chất; nhóm ngành chế biến nông, lâm, thủy sản; nhóm
ngành dệt may, da giầy
Nhóm ngành cơ khí và luyện kim: giai đoạn đến năm 2025, ưu tiên các nhóm
ngành , sản phẩm: máy móc, thiết bị phục vụ nông nghiệp, ô tô và phụ tùng cơ khí,
thép chế tạo. Sau năm 2025, ưu tiên các nhóm ngành, sản phẩm: đóng tàu, kim loại, vật
liệu mới.
Nhóm ngành hóa chất: giai đoạn đến năm 2025, ưu tiên hóa chất cơ bản, hóa
dầu và sản xuất linh kiện nhựa – cao su kỹ thuật. Giai đoạn sau 2025, ưu tiên phát triển
nhóm ngành hóa dược.
Nhóm ngành chế biến nông, lâm, thủy sản: giai đoạn đến năm 2025, ưu tiên
nâng cao tỷ lệ chế biến các sản phẩm nông sản, thủy hải sản chủ lực và chế biến gỗ phù
hợp với quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong
quá trình sản xuất , chế biến nông sản, xây dựng thương hiệu và sưc cạnh tranh của
nông sản Việt Nam.
Nhóm ngành dệt may, da giầy: giai đoạn đến năm 2025, ưu tiên sản xuất
nguyên, phụ liệu phục vụ sản xuất trong nước và xuất khẩu.
Thứ hai, ngành điện tử và viễn thông
Giai đoạn đến năm 2025, ưu tiên phát triển sản phẩm thiết bị máy tính, điện
thoại và linh kiện. Giai đoạn sau 2025, ưu tiên phát triển phần mềm, nội dung số, dịch
vụ công nghệ thông tin và điện tử y tế.
Mục tiêu tổng quát
Đến năm 2025, công nghiệp Việt Nam phát triển với cơ cấu hợp lý theo ngành
và lãnh thổ, có khả năng cạnh tranh để phát triển trong hội nhập, có công nghệ hiện đại
và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu ở một số ngành, lĩnh vực, có khả năng đáp ứng cơ
SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B

Chuyên đề tốt nghiệp

48

bản các yêu cầu của nền kinh tế và xuất khẩu; đội ngũ lao động có đủ trình độ đáp ứng
nhu cầu của nền sản xuất hiện đại.
Mục tiêu cụ thể
- Tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm công nghiệp giai đoạn đến năm 2020 đạt 6,5 -

7,0%, giai đoạn 2021 – 2025 đạt 7,0 – 7,5%.
- Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn đến năm 2020 đạt 12,5%-

13%/năm, giai đoạn 2021-2025 đạt 1,0-12,5%/năm và giai đoạn 2026-2035 đạt 10,511,0%/năm.
- Phấn đấu đến năm 2020 tỷ trọng công nghiệp và xây dựng chiếm 42-43%, năm 2025
chiến 43-44% và năm 2035 chiếm 40%-41% trong cơ cấu kinh tế cả nước.
- Tỷ trọng hàng công nghiệp xuất khẩu/tổng kim ngạch xuất khẩu đến năm 2025 đạt 8588%, sau năm 2025 đạt trên 90%.
- Giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đến
năm 2025 đạt khoảng 45% tổng GDP, sau năm 2025 đạt trên 50%.
- Chỉ số ICOR công nghiệp giai đoạn 2011-2025 đạt 3,5-4,0%; giai đoạn 2026-2035 đạt
3,0-3,5%; hệ số đàn hồi năng lượng/GDP năm 2015 đạt 1,5; năm 2020 đạt 1,0 và đến
năm 2035 duy trì ở mức 0,6-0,8, tiệm cận với các nước trong khu vực.
- Tỷ lệ phát thải khí nhà kính ngành công nghiệp gia tăng bình quân trong khoảng 44,5%/năm.
3.2.

Quan điểm và định hướng phát triển ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam
đến năm 2025

3.2.1.

Quan điểm phát triển ngành cơ khí Việt Nam

Cơ khí là ngành công nghiệp đóng vai trò then chốt trong sự nghiệp CNH –
HĐH đất nước. Ngành cơ khí có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế đất
nước. Bởi đây là ngành cung cấp hầu hết máy móc, thiết bị cho mọi ngành công
nghiệp, sản phẩm của ngành cơ khí có mặt ở hầu hết các ngành , lĩnh vực kinh tế cũng
như tiêu dùng xã hội. Ngành cơ khí phải phát triển để thực sự tạo nền tảng cho quá
trình CNH – HĐH, đặc biệt là CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn. Nông nghiệp Việt
Nam vẫn chiếm khoảng 20%GDP, sản xuất còn manh mún, nho lẻ, lạc hậu. Việc đưa
các máy móc cơ khí vào quá trình sản xuất sẽ giúp cơ giới hóa nông nghiệp và góp
phần đẩy nhanh tiến trình CNH – HĐH đất nước.
Phát triển ngành cơ khí có chọn lựa, có trọng tâm trọng điểm. Hình thành một
số chuyên ngành và sản phẩm cơ khí trọng điểm có giá trị gia tăng lớn, có sức cạnh
SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B

Chuyên đề tốt nghiệp

49

tranh quốc tế cao. Lấy năng suất, chất lượng, hiệu quả làm thước đo hàng đầu đối
với phát triển ngành cơ khí.
Phát triển cơ khí kết hợp với phục vụ an ninh quốc phòng. Phát triển cơ khí
luôn gắn liền với việc tăng cường năng lực củng cố an ninh quốc phòng, gắn kết chặt
chẽ giữa sản xuất dân sinh với sản xuất quốc phòng và ngược lại. Là một nước có biên
giới tiếp giáp với nhiều nước, đường bờ biển dài nên Việt Nam luôn phải đối mặt với
những nguy cơ, xung đột chính trị tiềm ẩn. Vì vậy, nhiệm vụ củng cố, giữ vững an ninh
quốc phòng , ổn định chính trị luôn là nhiệm vụ hàng đầu của đất nước. Hơn thế, hầu
hết các trang thiết bị quân sự và vũ khí là sản phẩm của ngành cơ khí. Do đó, ngành cơ
khí đảm nhận nhiệm vụ vô cùng quan trọng trong việc củng cố và đảm bảo an ninh
quốc gia.
Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất
sản phẩm cơ khí để nâng cao chất lượng và tăng khả năng cạnh tranh. Phát triển
CNCK phải gắn liền với các thành tựu khoa học công nghệ, nâng cao năng suất và chất
chất lượng sản phẩm, đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế. Bên cạnh đó, ngành cơ khí
cũng cần tận dụng và phát huy các công nghệ thích hợp sử dụng nhiều lao động để giải
quyết việc làm.
Bảo vệ thị trường nội địa đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu, chủ động hội nhập
với khu vực và thế giới. Thị trường Việt Nam với quy mô dân số trên 90 triệu người là
một thị trường đầy tiềm năng đối với ngành cơ khí. Tuy nhiên, nếu không có chính
sách bảo hộ hợp lý đối với các sản phẩm cơ khí. chủ lực, cần phát triển thì ngành cơ
khí trong nước sẽ khó lòng cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài để giữ
thị trường nội địa, đặc biệt là khi Việt Nam ngày càng mở cửa và hội nhập sâu rộng với
thế giới.
3.2.2. Định hướng phát triển ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam đến năm 2025

Thứ nhất, ở giai đoạn 2016-2025, phải đẩy mạnh tăng trưởng ngành cơ khí,
tốc độ tăng trưởng GTSX của ngành CNCK dự kiến đạt bình quân 24%/năm và phải
đạt mức lớn gấp 2,8-3,0 lần tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế (chỉ số này của năm
2000 là 2,09 và của năm 2010 là 2,43) và gấp khoảng 2,3-2,5 lần tốc độ tăng của toàn
ngành công nghiệp.

SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B

Chuyên đề tốt nghiệp

50

Thứ hai, vào năm 2025, mục tiêu phát triển của ngành cơ khí nước ta đạt mức
có cơ khí chế tạo chiếm khoảng 45-47% trong sản lượng ngành công nghiệp. Xây dựng
một số trung tâm cơ khí lớn gồm các nhà máy đúc, tạo phôi có quy mô lớn để đáp ứng
yêu cầu chế tạo thiết bị chuyên dùng, thiết bị đồng bộ của các ngành kinh tế, nhất là
ngành giao thông vận tải, xây dựng, công nghiệp chế biến nông-lâm-thủy sản, công
nghiệp hóa dầu, các thiết bị điện cao áp…để đáp ứng khoảng 75% nhu cầu các sản
phẩm cơ khí nói chung vào năm 2025, riêng máy móc thiết bị phục vụ nông nghiệp đạt
trên 80%. Tập trung hoàn thiện công nghệ gia công , lắp ráp trong các ngành chủ lực
như ô tô, xe máy, đóng mới và sửa chữa tàu,…sau đó chuyển mạnh sang lĩnh vực cơ
khí chế tạo.
Thứ ba, đảm bảo đáp ứng nhu cầu sản phẩm cơ khí cho nền kinh tế khoảng 4550%, sản phẩm cơ khí xuất khẩu chiếm khoảng 30% tổng giá trị của ngành công
nghiệp này. Phát triển xuất khẩu sản phẩm cơ khí một cách có chọn lọc, hiệu quả và
bền vững, phấn đấu tăng dần tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm. Đa dạng hóa và mở rộng
thị trường xuất khẩu, tập trung khai thác thị trường tiềm năng là châu Á và châu Phi.
Dự kiến tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm cơ khí sẽ đạt 20% trong giai
đoạn 2016 – 2020 và 24% trong giai đoạn 2020 – 2025, kim ngạch xuất khẩu đạt
khoảng 25 tỷ vào năm 2020. (Đề án Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa 2011 – 2020,
2030).
Thứ tư, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động. Thực hiện chính sách
khuyến khích phát triển và thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp hỗ trợ cơ khí
nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước và tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Khuyến khích
phát triển các trung tâm cung ứng nguyên phụ liệu là đầu mối cung ứng cho các doanh
nghiệp sản xuất hàng hóa cơ khí, điện – điện tử; đồng thời có chính sách hỗ trợ doanh
nghiệp xử lý môi trường trong sản xuất phù hợp với cam kết quốc tế.
3.3.

Một số giải pháp và kiến nghị để phát triển ngành công nghiệp cơ khí Việt
Nam đến năm 2025

3.3.1. Một số giải pháp phát triển ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam đến năm

2025
3.3.1.1.

Giải pháp tạo vốn cho ngành cơ khí
Thứ nhất là tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào ngành cơ khí

SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B

Chuyên đề tốt nghiệp

51

Thu hút vốn FDI là yếu tố quan trọng để phát triển công nghiệp cơ khí trong
điều kiện kinh tế đất nước còn khó khăn. Nguồn vốn này trong những năm qua đã thực
sự đem lại nguồn sinh khí mới cho ngành cơ khí. Để tiếp tục thu hút các dự án FDI vào
ngành cơ khí cần cú trọng tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư, trong đó tập
trung:
(1) Tăng cường công tác quản lý nhà nước để cải thiện môi trường đầu tư. Đối với các biện

pháp như đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng , đầu tư đổi mới công nghệ và các hỗ trợ từ
ngân sách khác… để cải thiện môi trường đầu tư cần phải có nguồn kinh phí lớn, sau
thời gian dài mới phát huy hiệu quả. Do vậy, cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành
chính, công khai, cụ thể, minh bạch các chính sách, rút gọn các thủ tục hành chính để
hạn chế nhũng nhiễu, tiết kiệm thời gian , chi phí cho nhà đầu tư.
(2) Đổi mới công tác vận động, xúc tiến đầu tư vào ngành CNCK. Đối với ngành cơ khí,
việc tổ chức xúc tiến đầu tư phải được xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể các
danh mục dự án cần tập trung xúc tiến kêu gọi đầu tư. Ngoài việc kêu gọi thu hút đầu
tư các dự án có công nghệ hiện đại, cần tập trung vào các dự án sản xuất linh kiện, phụ
tùng…
Thứ hai là huy động mọi nguồn vốn trong nước để đầu tư, phát triển sản xuất
Mặc dù nguồn vốn đầu tư trong nước còn khó khăn và hạn hẹp nhưng đóng một
vai trò hết sức quan trọng để từng bước phát triển ngành CNCK trong nước. Ngoài
nguồn vốn từ ngân sách, nguồn vốn trong nước hiện nay tập trung cho ngành cơ khí
dựa chủ yếu vào:
(1) Nguồn tích lũy (vốn tự có): Vốn của các doanh nghiệp cơ khí trong nước chiếm tỷ lệ rất

nho so với tổng số vốn của ngành, chỉ chiếm khoảng 10% so với tổng đầu tư toàn
ngành và hiệu quả đầu tư cũng không cao. Với số vốn và hiệu quả như vậy thì khả
năng tich lũy của các doanh nghiệp trong nước tương đối thấp, thiếu vốn vẫn xảy ra
thường xuyên với đa số các doanh nghiệp. Tuy nhiên, nguồn vốn tự có là nguồn vốn
chủ động của doanh nghiệp và đảm bảo mang lại hiệu quả cao hơn các nguồn khác. Vì
vậy, doanh nghiệp cần áp dụng các biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất để có nguồn
tích lũy phục vụ tái đầu tư.
(2) Nguồn vốn tự huy động: Đây là một nguồn huy động của các tổ chức, cá nhân mang
tính tạm thời, chỉ giải quyết được phần nào vốn lưu động hoặc đầu tư nho. Tuy vậy,
đây cũng là nguồn để doanh nghiệp giải quyết những khó khăn trước mắt về vốn.
SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B

Chuyên đề tốt nghiệp

52

(3) Nguồn cổ phần hóa, thị trường chứng khoán. Hiện nay, khả năng huy động vốn từ cổ

phần hóa các doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành cơ khí hoặc thành lập những công
ty cổ phần mới, phát hành cổ phiếu, trái phiếu cũng chỉ có thể giải quyết vốn cho các
dự án loại vừa, song hiện tại cũng chưa hấp dẫn các nhà đầu tư chứng khoán. Tuy
nhiên , đây là một kênh vốn đầy tiềm năng, có quy mô lớn mà các nước có nền cơ khí
phát triển đã áp dụng và rất thành công. Xu hướng trong những năm tới, nguồn vốn này
là một nguồn chủ lực để các doanh nghiệp tiếp cận và phát triển sản xuất trong nền
kinh tế hội nhập. Để tham gia được thị trường này, bản thân các doanh nghiệp cần phải
lựa chọn cho mình một chiến lược phát triển (từ quy mô đầu tư, sản phẩm,…) mới có
thể thu hút mạnh mẽ nguồn vốn này.
(4) Nguồn vốn tín dụng ngân hàng: Khả năng cung ứng của nguồn vốn này cho các doanh
nghiệp cũng rất lớn và là một trong những nguồn chính hiện nay. Trong thời gian qua,
nguồn vốn tín dụng vẫn đóng vai trò quan trọng nhất trong tấ cả các nguồn vốn trong
nước. Do đó, các doanh nghiệp cần nghiên cứu, xây dựng các dự án có tính khả thi cao
để đảm bảo hiệu quả đầu tư và thu hồi vốn mới có thể tiếp cận được nguồn vốn này.
3.3.1.2.

Giải pháp về nguồn nhân lực

Dù trong thời đại nào, nhân tố con người vẫn luôn đóng vai trò quyết định đối
với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và các ngành, lĩnh vực và doanh nghiệp nói
riêng. Do đó, để ngành cơ khí có thể phát triển mạnh, hướng tới công nghệ hiện đại
trong thời gian tới thì chính sách đào tạo nguồn nhân lực cần được ưu tiên hàng đầu.
Thứ nhất là tập trung đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đầu
ngành, đủ khả năng chỉ đạo thực hiện các công trình nghiên cứu, thiết kế, chế tạo quy
mô lớn trong ngành cơ khí. Đây là yếu tố vô cùng quan trọng đảm bảo sự phát triển
độc lập, bền vững và ổn định của ngành CNCK.
Thứ hai, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước chuyên
ngành có liên quan, giữa các cơ quan quản lý nhà nước với doanh nghiệp sản xuất cơ
khí theo các Bộ ngành Trung ương và từng vùng kinh tế trọng điểm trong lĩnh vực đào
tạo, huấn luyện như: đổi mới chương trình đào tạo, nâng cấp máy móc trang thiết bị
huấn luyện nghề, chia sẻ thông tin,….
Thứ ba, đẩy mạnh đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, nhân lực cho các trường công
nhân kỹ thuật, trung tâm dạy nghề đi đôi với việc đổi mới chương trình và nội dung
đào tạo cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của ngành cơ khí, cần chú trọng đào
SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B

Chuyên đề tốt nghiệp

53

tạo lý thuyết gắn với thực tiễn. Công tác đào tạo nghề luôn là vấn đề cấp thiết và quan
trọng giúp cân đối giữa các trình độ đào tạo: kỹ sư, trung cấp, công nhân, giúp đảm
bảo cung cấp đủ số lượng và chất lượng, đủ “thầy”, đủ “thợ” cho ngành cơ khí.
Thứ tư, có chính sách đãi ngộ, ưu tiên để thu hút nhân tài. Đây cũng là một giải
pháp quan trọng mang lại hiệu quả tương đối tốt cho ngành cơ khí. Ngoài ra cần tăng
cường cử cán bộ và công nhân kỹ thuật ra nước ngoài học tập trực tiếp tại các công ty
cơ khí để học hoi, tiếp thu các công nghệ kỹ thuật cao, phương pháp quản lý tiên tiến,
tác phong công nghiệp hiện đại và nâng cao tay nghề, phục vụ cho đổi mới công nghệ
và trình độ sản xuất ngành cơ khí. Đẩy mạnh thu hút chuyên gia nước ngoài và Việt
kiều trong lĩnh vực cơ khí về nước để đào tạo nhân lực chất lượng quốc tế.
3.3.1.3.

Giải pháp về công nghệ

Nhà nước cần đầu tư hơn nữa cho hoạt động R&D để tạo ra được những sản
phẩm cơ khí có chất lượng và khả năng cạnh tranh cao. Nhằm tạo nguồn kinh phí để
thực hiện R&D, nhà nước cần cho doanh nghiệp trích từ 1-2% doanh số bán ra cho
R&D. Ngoài ra, Việt Nam cần đánh giá đúng vai trò của hoạt động này trong từng giai
đoạn cụ thể, nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho đổi mới công nghệ và ứng dụng
công nghệ mới, hiện đại ở Việt Nam.
Thứ nhất, đẩy mạnh đầu tư, chuyển giao công nghệ hiện đại, tiến tiến nhằm thực
hiện mục tiêu phát triển CNCK. Các công nghệ được chuyển giao phải là các công
nghệ nguồn từ các nước công nghiệp cơ khí phát triển, các tập đoàn sản xuất cơ khí nổi
tiếng thế giới như: công nghệ Mỹ, Nhật Bản, EU. Có như vậy, ngành cơ khí Việt Nam
mới có thể rút ngắn khoảng cách về công nghệ với nền CNCK thế giới.
Thứ hai, các doanh nghiệp cơ khí trong nước nhất là doanh nghiệp Nhà nước
thuộc ngành cơ khí xây dựng, cơ khí nông nghiệp,…đã có sản phẩm chiến lược, sản
phẩm xuất khẩu thì cần thực hiện chuyên môn hóa sản xuất, hình thành phân xưởng và
xí nghiệp chuyên môn hoá cho từng loại sản phẩm.
Thứ ba, đẩy mạnh đổi mới công nghệ và thiết bị theo hướng tự động hóa, kết
hợp giữa cơ khí với điện tử và tin học. Giai đoạn đầu là áp dụng đối với các công đoạn
có tính quyết định đến sản phẩm, sau đó là toàn bộ quá trình sản xuất. Mức độ tự động
hóa đạt từ 90% đến 100% , đảm bảo thay thế tất cả các thao tác phức tạp trên thiết bị
cho người lao động.
SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B

Chuyên đề tốt nghiệp

54

Thứ tư, khuyến khích chuyển giao công nghệ, đầu tư công nghệ hiện đại cho
doanh nghiệp sản xuất ô tô và linh kiện, phụ tùng ô tô, đặc biệt là động cơ, hộp số, hệ
thống truyền chuyển động, các loại phụ tùng có độ phức tạp cao trong ô tô. Nhà nước
cần có hỗ trợ đối với các dự án sản xuất động cơ, hộp số, cụm truyền chuyển động và
các loại phụ tùng có độ phức tạp cao trong ô tô nếu công nghệ được chuyển giao từ các
hãng ô tô nổi tiếng thế giới.
3.3.1.4 Giải pháp về thị trường
Thứ nhất là bảo vệ thị trường. Đây là việc ngăn chặn không cho hàng hóa kém
chất lượng, không an toàn, hàng giả, hàng nhái, hàng lậu vào thị trường để lấn át hàng
sản xuất trong nước. Như vậy, Nhà nước phải có biện pháp để kiểm soát hàng hóa lưu
thông trên thị trường. Những sản phẩm nào không có chứng chỉ kiểm định của các
trung tâm kiểm định chất lượng thì không được lưu hành trên thị trường. Việc làm này
rất cần thiết đối với các sản phẩm quan trọng như: ô tô, xe máy, máy công cụ, máy
lạnh,…Kiểm định chất lượng của các trung tâm này cũng giúp các nhà sản xuất định ra
các phương hướng cải tiến sản phẩm của mình. Về vấn đề này, Nhà nước cũng cần ban
hành tiêu chuẩn kỹ thuật đối với những sản phẩm quan trọng để ngăn chặn việc lưu
thông hàng hóa không mong muốn trên thị trường, đồng thời cung cấp thông tin cho
khách hàng để hướng dẫn họ mua sản phẩm đảm bảo chất lượng.
Thứ hai là tạo dựng và mở rộng thị trường
(1) Đối với thị trường trong nước
Trước tiên, Nhà nước phải là khách hàng chính của ngành CNCK Việt Nam.
Nhà nước phải khuyến khích việc tiêu dùng sản phẩm nội địa bằng cách không cho
vay vốn để mua các máy móc thiết bị nước ngoài nếu trong nước có thể sản xuất được
các máy móc, thiết bị đó. Ngoài ra, các nhà đầu tư cũng phải hình thành những gói
thầu trong nước hoặc đấu thầu hạn chế . Bên cạnh đó, nhà nước cần có các chính
scahs kích cầu thích hợp đặc biệt là đối với sản phẩm máy nông nghiệp. Bởi thị
trường nông thôn được đánh giá là có nhu cầu lớn song sức mua hạn hẹp. Do vậy,
nông dân cần vay vốn để mua sắm thiết bị theo hình thức trả chậm, hỗ trợ lãi vay, hỗ
trợ giá bán. Người sản xuất cũng được hỗ trợ để đưa sản phẩm đến tận tay người nông
dân, hướng dẫn sử dung, vận hành, bảo dưỡng và thành lạp mạng lưới sửa chữa. Vì
vậy, nhà nước nên dành một nguồn ngân sách thích đáng để hỗ trợ cho các nhà đầu tư
SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B

Chuyên đề tốt nghiệp

55

và nông dân mua sắm thiết bị, máy móc nội địa thông qua vay tín dụng với lãi suất
thấp.
(2) Đối với thị trường nước ngoài: Nhà nước hỗ trợ trong việc cung cấp thông tin về thị
trường và công khai các chương trình xúc tiến thương mại hàng năm. Ngoài ra, các
doanh nghiệp cơ khí cũng phải chủ động nghiên cứu các phương án để tích cực tham
gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.

3.3.2. Kiến nghị phát triển công nghiệp cơ khí Việt Nam

Về phía Chính phủ
Để có điều kiện thực hiện giải pháp mạnh và hữu hiệu phát triển 8 chuyên ngành
cơ khí trọng điểm, Chính phủ cần ban hành chính sách kích cầu đã quy định tại Quyết
định số 10/2009/QĐ-TTg ngày 16/01/2009 của Thủ tướng Chính phủ (hình thức chỉ
định thầu, giao thầu đối với doanh nghiệp sản xuất hoặc mua sản phẩm cơ khí trọng
điểm).
Đề xuất Chính phủ ban hành nghị định khi hướng dẫn chi tiết thi hành luật đấu
thầu hoặc một văn bản khác nhằm đảm bảo thị trường trong nước do Việt Nam sản
xuất. Hoàn thiện cơ chế đấu thầu bằng cách quy định tỷ lệ bắt buộc sử dụng vật tư,
thiết bị công nghiệp cơ khí do Việt Nam sản xuất.
Đưa ra nguồn gốc xuất xứ hàng hóa và tỷ lệ nội địa hóa cùng các tiêu chí đánh
giá.
Về phía Bộ Công thương
Hoàn thiện cơ chế, chính sách nhắm hạn chế nhập khẩu các sản phẩm kém chất
lượng dựa trên cơ sở nội dung Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại của
WTO.
Ban hành các tiêu chí hỗ trợ đối với các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh cao
thuộc chương trình xúc tiến đầu tư trên thị trường nước ngoài.
Về phía Bộ Khoa học và Công nghệ

SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B

Chuyên đề tốt nghiệp

56

Chủ trì, phối hợp với Bộ Công thương và các Bộ, ngành liên quan đẩy mạnh
việc đầu tư cho công tác nghiên cứu và phát triển của ngành cơ khí, ưu tiên nguồn vốn
khoa học công nghệ cho công tác này.
Xây dựng, ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng đối với các
sản phẩm trong nước và nhập khẩu.
Về phía Bộ Tài chính
Tiếp tục cho vay với lãi suất ưu đãi đối với các dự án cơ khí trọng điểm đã được
Chính phủ phê duyệt, với điều kiện tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, doanh nghiệp có thể
dễ dàng tiếp cận được nguồn vốn hỗ trợ.
Tạo điều kiện thuận lợi để mọi thành phần kinh tế được vay vốn phát triển
ngành. Hoàn thiện cơ chế cho vay để vốn nhanh chóng đến tay nhà đầu tư đặc biệt là
đối với DNVVN.
Áp dụng mức thuế nhập khẩu phù hợp (trong khuôn khổ lộ trình hội nhập cho
phép) đối với các loại máy móc cơ khí trong nước đã sản xuất được và có đủ năng lực
sản xuất để đáp ứng nhu cầu thị trường.
Về phía Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Hỗ trợ xác minh thông tin về đối tác nước ngoài cho doanh nghiệp
Áp dụng mức ưu đãi cao nhất hiện hành của Nhà nước đối với các dự án sản
xuất sản phẩm mũi nhọn, trọng điểm của ngành.
Ban hành chính sách khuyến khích đặc biệt đối với các dự án FDI thuộc danh
mục dự án được kêu gọi đầu tư.
Kiểm tra, giúp đỡ các doanh nghiệp nước ngoài sản xuất sản phẩm cơ khí theo
giấy phép kinh doanh và quy định hiện hành của pháp luật.

SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B

Chuyên đề tốt nghiệp

57

KẾT LUẬN
Với đề tài: “Một số giải pháp phát triển ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam
đến năm 2025”, chuyên đề đã tập trung nghiên cứu được những vấn đề lý luận và thực
tiễn trong phát triển ngành CNCK, đồng thời phân tích thực trạng phát triển ngành
CNCK Việt Nam trong giai đoạn 2005-2014 và đưa ra giải pháp phát triển đến năm
2025. Những nội dung cụ thể mà chuyên đề đã đạt được là:
Thứ nhất, hệ thống hóa lý thuyết cơ bản về ngành CNCK và đưa ra nội dung
phát triển CNCK bao gồm: tăng trưởng ngành cơ khí, chuyển dịch cơ cấu trong ngành
cơ khí và hiệu quả của ngành cơ khí. Từ đó tác giả đã đưa ra các tiêu chí đánh giá sự
phát triển của ngành cơ khí dựa trên nội dung phát triển.
Thứ hai là đưa ra và phân tích các nhân tố tác động đến sự phát triển ngành cơ
khí gồm: yếu tố nguồn vốn, con người, khoa học công nghệ, cơ chế chính sách của nhà
nước và thị trường. Đồng thời, dựa trên nghiên cứu kinh nghiệm phát triển CNCK của
Hàn Quốc và Singapore, chuyên đề đã đưa ra một số bài học về phát triển ngành
CNCK cho Việt Nam.

SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B