Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CƠ KHÍ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2005 – 2014

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CƠ KHÍ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2005 – 2014

Tải bản đầy đủ

Chuyên đề tốt nghiệp

25

Trình độ công nghệ của các cơ sở cơ khí từ cấp trung ương đến cấp huyện không có sự
khác biệt nhiều, đều được trang bị máy công cụ vạn năng tương tự nhau.
Với mô hình trên thì ngành cơ khí đã phát huy tốt vai trò của mình, phục vụ đắc
lực cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất nước.
2.1.2. Giai đoạn 1975 – 1994

Từ sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng đến những năm đầu của công cuộc
đổi mới, ngành cơ khí có mục tiêu phát triển thật lớn lao nhưng thực tế thực hiện được
lại rất thấp.
Đất nước thống nhất, ngành cơ khí có thêm lực lượng cơ khí ở phía Nam, chủ
yếu tập trung ở thành phố Hồ chí Minh, đáng chú ý là Hải quân công xưởng (Ba Son),
Lục quân công xưởng, Nhà máy Caric cùng hai cơ sở lắp ráp động cơ diezen và máy
cày cỡ nho. Ở miền Bắc, mô hình của ngành cơ khí trong giai đoạn trước, mặc dù đã
thành công trong thời kỳ chiến tranh nhưng khi chuyển sang thời bình nó đã bộc lộc sự
hạn chế, không phù hợp. Mô hình đó đã làm trầm trọng thêm tính manh mún, phân tán
của ngành cơ khí, cơ khí tỉnh gặp khó khăn trong định hướng phát triển, sản xuất cầm
chừng và sa sút dần. Đặc biệt là từ khi xóa bo cơ chế bao cấp, ngành cơ khí không còn
tên trong danh mục đầu tư của nhà nước, khó khăn càng chồng chất khó khăn. Sản
phẩm lạc hậu, chất lượng thấp khó tiêu thụ, sản xuất bị thu hẹp, đội ngũ cán bộ kỹ thuật
và công nhân gioi mong dần. Đỉnh điểm của sự sa sút là vào những năm 1988-1989,
trong đó khó khăn nhất là sản xuất máy công cụ, sản lượng giảm tới hơn một nửa. Đây
là thời kỳ ngành cơ khí gặp khủng hoảng nhất và gần như bị lãng quên.
2.1.3. Giai đoạn 1995 – nay

Đây là giai đoạn phục hồi và phát triển của ngành cơ khí. Từ năm 1995, các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) bắt đầu xuất hiện trong lĩnh vực lắp ráp
ô tô, xe máy và sau đó tiếp tục phát triển thêm nhiều cơ sở sản xuất phụ tùng xe máy –
ô tô, xe đạp, dây điện, dây cáp, kỹ thuật điện, kết cấu kim loại và hàng phi tiêu chuẩn
cỡ lớn, bơm nước, sửa chữa tàu biển, khuôn mẫu chính xác…Lực lượng cơ khí FDI đã
góp phần làm phong phú sản phẩm cơ khí đồng thời cũng giúp cho doanh nghiệp trong
nước thay đổi nhận thức về tiềm năng cụ thể của thị trường, cách tiếp cận và chiếm
lĩnh thị trường. Doanh nghiệp trong nước đã tìm được con đường đi của mình, bắt đầu
đổi mới và đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng cho phù hợp với yêu cầu ngày
SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B

Chuyên đề tốt nghiệp

26

càng cao của thị trường. Từ năm 1996, các xí nghiệp của ba Bộ: Công nghiệp, Giao
thông vận tải, Xây dựng đã được tập hợp thành các Tổng công ty Nhà nước theo ngành
nghề.
Chính phủ đã quan tâm chỉ đạo đến ngành cơ khí bằng việc ban hành một số
chính sách ưu đãi về đầu tư, và quan trọng hơn là đã tạo cơ hội về thị trường cho ngành
cơ khí vươn lên. Bắt đầu từ việc lựa*chọn*25 danh mục đầu tư theo chiều sâu để cho
vay vốn ưu đãi, xác định sản phẩm trọng điểm quốc gia (tàu biển 11.000 tấn, động cơ
diezen cỡ nho), chính sách ưu đãi đặc*biệt cho đóng tàu cỡ lớn (người sản xuất và
người tiêu dùng đều hưởng lợi), chỉ định trong nước làm thầu chính công trình xi măng
1,4 triệu tấn, mở rộng nhiệt điện 0,3 triệu KW, bột giấy và giấy 60.000 tấn, chỉ định
thầu gần 1000 xe buýt và xe cở khách. Cuối năm 2002, Chính phủ đã phê duyệt Chiến
lược*phát*triển ngành cơ khí và 8 nhóm sản phẩm trọng điểm đến năm 2010, tầm nhìn
đến năm 2020 gồm 24 danh mục đầu tư để Chính phủ tập trung hỗ trợ bằng các chính
sách ưu đãi vốn đầu tư, mua thiết kế và công nghệ, tạo cơ hội về thị trường và đào tạo
nguồn nhân lực. Năm 2009, thủ tướng Chính phủ cũng đã ra Quyết định hỗ trợ phát
triển sản xuất sản phẩm cơ khí trọng điểm với 11 danh mục sản phẩm cơ khí trọng
điểm và 8 dự án đầu tư sản xuất sản phẩm cơ khí trọng điểm từ 2009 đến 2015.
Trong giai đoạn này, lực lượng cơ khí tư nhân cũng ngày một tăng nhanh, được
trang bị công nghệ tốt, không chỉ sản xuất hàng tiêu dùng mà còn làm nhiều loại thiết
bị, dây chuyền chế biến. Các Viện nghiên cứu cơ khí cũng đã tạo được sản phẩm có
hàm lượng kỹ thuật cao, gắn chặt kết quả nghiên cứu với sản xuất, chuyển giao công
nghệ.
2.2.

Thực trạng phát triển ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam giai đoạn 2005 –
2014

2.2.1.

Quy mô của ngành công nghiệp cơ khí

Trong giai đoạn 2005 – 2014, quy mô của ngành CNCK đã không ngừng được
mở rộng. GTSX ngành CNCK năm 2014 đạt 2.098.023,1 tỷ đồng (theo giá hiện hành),
tăng gấp gần 9 lần so với GTSX ngành cơ khí đạt được năm 2005 là 236.175,1 tỷ đồng.
Dựa vào hình 2.1 có thể thấy rằng, kể từ năm 2005 đến nay, GTSX ngành CNCK có xu
hướng tăng lên rõ rệt, năm sau luôn cao hơn năm trước, trung bình tăng 186.184,8 tỷ
đồng/năm. (Xem số liệu chi tiết trong phụ lục 2.1).
SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B

Chuyên đề tốt nghiệp

27

Hình 2.1. Giá trị sản xuất công nghiệp ngành cơ khí giai đoạn 2005-2014
(đơn vị: tỷ đồng)
Nguồn: Tổng cục thống kê
Nhìn vào Hình 2.2 có thể nhận thấy rằng, tốc độ tăng trưởng của ngành cơ khí
luôn dương trong giai đoạn 2005 – 2013, nhưng có xu hướng chậm lại và giảm dần qua
các năm. Năm 2005, tốc độ tăng trưởng đạt 25,32%; tuy nhiên chỉ sau một năm, tốc độ
tăng trưởng đã giảm 4,97% xuống còn 20,35% vào năm 2006. Trong 2 năm: 2007 và
2008, tốc độ tăng trưởng ngành cơ khí có sự tăng nhẹ nhưng giai đoạn sau đó 2008 –
2010 lại sụt giảm mạnh từ 21% năm 2008 xuống 8,6% năm 2010, trung bình mỗi năm
giảm 6,2%. Mặc dù năm 2011, ngành cơ khí đã có sự tăng lên rất nhanh về tốc độ tăng
trưởng đạt 17,4% (tăng 8,8%) nhưng các năm sau lại giảm dần, đến 2013 chỉ còn
12,67%. Mặc dù vậy, nhưng so với tốc độ tăng trưởng chung của toàn ngành công
nghiệp thì ngành cơ khí vẫn có tốc độ tăng trưởng cao hơn. Năm 2011, tốc độ tăng
trưởng của ngành công nghiệp là 9,1% thì của ngành cơ khí là 17,4% (cao hơn 8,3%);
năm 2012, tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp là 8,8% thấp hơn 2,8% so với
mức 11,6% của ngành cơ khí; năm 2013, tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp
tăng lên mức 9,2% song vẫn chưa thể đuổi kịp mức 12,67% của ngành cơ khí. Tuy
nhiên, nhìn chung, quy mô ngành CNCK Việt Nam vẫn còn khá nho.

Hình 2.2. Tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp cơ khí giai đoạn 2005-2013
Nguồn: Tác giả tổng hợp và tính toán từ số liệu của Tổng cục thống kê
Cùng với sự gia tăng về GTSX, tỷ trọng ngành CNCK ngày càng chiếm tỷ trọng
cao trong cơ cấu công nghiệp. Năm 2005, tỷ trọng GTSX ngành cơ khí trong tổng
GTSX công nghiệp mới chiếm 23,89% thì đến năm 2014 đã tăng lên mức 35,65%.

Hình 2.3. Tỷ trọng ngành công nghiệp cơ khí trong toàn ngành công nghiệp từ
2005 đến 2014 (đơn vị: %)
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B

Chuyên đề tốt nghiệp

28

Như vậy, GTSX công nghiệp ngành cơ khí năm 2014 chiếm hơn 1/3 GTSX của
toàn ngành công nghiệp. Điều này càng khẳng định vị thế và tầm quan trọng của ngành
cơ khí đối với ngành công nghiệp cũng như toàn nền kinh tế.
Trong giai đoạn 2005 -2014, tỷ trọng ngành cơ khí trong cơ cấu ngành công
nghiệp có lúc tăng, có lúc giảm nhưng nhìn chung là có xu hướng tăng lên. Tuy nhiên,
tốc độ tăng còn khá chậm, trung bình đạt gần 1,2% /năm .
2.2.2. Chuyển dịch cơ cấu trong ngành công nghiệp cơ khí

Ở Việt Nam, theo hệ thống ngành kinh tế, ngành cơ khí được chia ra thành các
ngành cấp 2 như sau: Sản xuất kim loại; Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ
máy móc, thiết bị); Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học;
Sản xuất thiết bị điện; Sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu; Sản xuất xe
có động cơ, rơ moóc và Sản xuất phương tiện vận tải khác.
Từ bảng 2.1. có thể thấy rằng, trong giai đoạn 2005 – 2014, nội bộ ngành cơ khí
đã có sự dịch chuyển mạnh mẽ từ ngành sản xuất phương tiện vận tải khác, ngành sản
xuất thiết bị điện và ngành sản xuất xe có động cơ rơ moóc sang ngành sản xuất sản
phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học. Ngoại trừ ngành sản xuất sản phẩm
điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học là tăng lên về tỷ trọng trong cơ cấu ngành
cơ khí, còn các ngành khác đều có xu hướng giảm về tỷ trọng, trong đó giảm mạnh
nhất là ngành sản xuất phương tiện vận tải khác (giảm 11,06%), tiếp đến là ngành sản
xuất xe có động cơ rơ moóc (giảm 5,78%). Trong 10 năm, từ năm 2005 đến năm 2014,
tỷ trọng ngành sản xuất sản phẩm điện tử , máy vi tính và sản phẩm quang học đã tăng
từ 14,73% lên 45,3%. Như vậy, trung bình mỗi năm ngành này tăng 3,06% về tỷ trọng.
Mức gia tăng này là khá nhanh và hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển mạnh mẽ
của nền kinh tế hiện đại, khi mà các thiết bị điện tử, máy vi tính đã trở thành “người
bạn đồng hành” không thể thiếu trong công việc cũng như trong đời sống hàng ngày
của mỗi người.

SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B

Chuyên đề tốt nghiệp

29

Bảng 2.1. Cơ cấu ngành cơ khí Việt Nam giai đoạn 2005-2014 (đơn vị:%)

m

Tổng Sản
số
xuất
kim
loại

Sản
phẩm từ
kim loại
đúc sẵn
(trừ máy
móc ,
thiết bị)

Sản
xuất
thiết bị
điện

19,35

Sản xuất
sản phẩm
điện tử,
máy vi
tính và
sản phẩm
quang
học
14,73

Xe có
động
cơ, rơ
móc

Phươn
g tiện
vận tải
khác

14,39

Sản xuất
máy
móc,
thiết bị
chưa
được
phân vào
đâu
4,85

200
5
200
6
200
7
200
8
200
9
201
0
201
1
201
2
201
3
201
4

100

15,84

12,05

18,79

100

15,93

20,78

14,41

15,39

4,43

10,62

18,44

100

16,36

19,57

14,94

15,55

4,21

10,36

19,01

100

17,71

20,89

14,14

14,38

4,39

11,34

17,15

100

15,48

21,84

15,10

14,15

4,91

10,74

17,78

100

17,78

23,72

15,17

12,42

4,43

11,50

14,98

100

15,45

21,66

21,20

12,48

3,87

10,78

14,56

100

15,18

18,42

31,71

11,59

3,71

8,07

11,32

100

14,41

16,07

39,85

10,87

3,44

6,18

9,18

100

13,07

15,09

45,30

9,13

3,41

6,27

7,73

Nguồn: Tác giả tính toán từ số liệu của Tổng cục thống kê và Bộ Công thương
Tuy nhiên, cho đến nay, ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính ở nước ta
hầu hết mới chỉ dừng lại ở công đoạn gia công, lắp ráp chứ chưa có khả năng nghiên
cứu chế tạo, gần như toàn bộ các linh kiện điện tử, linh kiện máy vi tính đều phải nhập
khẩu hoặc do các doanh nghiệp FDI cung cấp. Vì vậy giá trị gia tăng mà ngành nhận
được là rất thấp. Bên cạnh đó, ngành sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào
đâu (gồm các ngành: sản xuất máy thông dụng như sản xuất động cơ, tua bin, sản xuất
máy bơm, máy nén, vòi, van, sản xuất lò nướng, lò nung, sản xuất bi, bánh răng…; và
sản xuất máy chuyên dụng như: sản xuất máy nông nghiệp và lâm nghiệp, sản xuất
SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B

Chuyên đề tốt nghiệp

30

máy công cụ và máy tạo hình kim loại, sản xuất máy luyện kim, sản xuất máy chế biến
thực phẩm, đồ uống, sản xuất máy cho ngành dệt, may và da…) lại chiếm tỷ trọng rất
nho, chưa đến 5% và ngày càng giảm dần. Đây là ngành cơ khí chế tạo cần phải được
phát triển mạnh vì nó thuộc ngành công nghiệp cơ khí hỗ trợ, tạo điều kiện để các
ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, luyện kim, công nghiệp chế biến thực phẩm, công
nghiệp dệt may…phát triển. Song, trong giai đoạn 2005 – 2014, ngành sản xuất máy
móc thiết bị vẫn chưa được “đặt” vào đúng vị trí cần thiết, vẫn chưa thể hiện được vai
trò là ngành hỗ trợ cho các ngành, lĩnh vực khác phát triển.
2.2.3. Hiệu quả của ngành công nghiệp cơ khí

Đóng góp vào tăng trưởng
Trong giai đoạn 2005-2014, ngành cơ khí đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của
cả nước đạt khoảng 17,8%, chiếm gần một nửa so với mức đóng góp 38,5% vào tăng
trưởng GDP của ngành công nghiệp. Tuy nhiên, so với các quốc gia trên thế giới, tỷ lệ
này còn quá thấp. Năm 2004, tỷ lệ giá trị tăng thêm của ngành CNCK trên GDP của
Ấn Độ đã đạt 27,1%, của Trung Quốc là 52%, của Mỹ là 20,7%, của Nhật Bản là
25,6%.
Đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu
Ngành cơ khí đang ngày càng thể hiện được vai trò của mình trong nền kinh tế
khi trở thành một trong những ngành xuất khẩu quan trọng của nước ta. Giá trị xuất
khẩu ngành cơ khí liên tục tăng qua các năm: năm 2006, giá trị xuất khẩu ngành cơ khí
chỉ đạt 1,88 tỷ USD thì đến năm 2013 đã tăng lên mức 13,23 tỷ USD và đạt con số
15,51 tỷ USD vào năm 2014 (tăng gấp hơn 8 lần so với năm 2006). Tuy nhiên cơ cấu
sản phẩm xuất khẩu không bền vững, chủ yếu là sản phẩm lắp ráp. Tỷ trọng sản phẩm
máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng và phương tiện vận tải, phụ tùng chiếm tới hơn
80% giá trị xuất khẩu của ngành cơ khí; song hầu hết các linh kiện đều được nhập
khẩu, Việt Nam chỉ thực hiện lắp ráp theo hợp đồng gia công sau đó tái xuất khẩu. Vì
vậy giá trị gia tăng từ xuất khẩu sản phẩm cơ khí đem lại cho Việt Nam là thấp.

Bảng 2.2. Giá trị xuất khẩu ngành cơ khí giai đoạn 2006-2014 (đơn vị: triệu USD)

SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B

Chuyên đề tốt nghiệp

31

Các
sản
phẩm
chính

Nhóm sản
phẩm chế
tạo từ sắt
thép

Máy móc,
thiết bị,
dụng cụ,
phụ tùng

Phương
tiện vận
tải và phụ
tùng

Dây điện
và dây
cáp điện

Tổng
cộng

Tỷ đồng

2006

385,81

627,93

160,00

704.80

1.878,54

35.692

2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014

505,55
690,00
603,89
827,84
1.130,8
1.376,44
1.566,79
1.733,77

660,34
834,00
2.059,30
3.066,29
4.365,62
5.535,71
6.024,20
7.315,19

336,65
565,60
953,98
1.577,65
3.463,00
4.579,52
4.961,16
5.678,35

883,00
1009,00
885,06
1.311,10
442,48
618,79
678,46
783,42

2.385,4
3.098,6
4.502,23
6.782,88
9.401,9
12.110,46
13.230,61
15.510,73

43.415
60.422,7
80.139,69
128.874,72
197.439,9
242.814,72
277.842,81
325.725,33

Nguồn : Tổng cục thống kê và Tổng cục Hải quan
Tỷ trọng giá trị xuất khẩu của CNCK trong tổng kim ngạch xuất khẩu cũng tăng
khá nhanh: từ 4,72% năm 2006 lên 10,33% năm 2014; trong đó tăng mạnh nhất là giai
đoạn 2008 – 2010, trung bình mỗi năm tăng 2,2%. Có thể thấy rằng, ngành cơ khí đang
đóng góp ngày càng nhiều vào kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, nhiều sản phẩm
của ngành cơ khí nằm trong top 10 nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất như:
máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác; phương tiện vận tải và phụ tùng. Như
vậy, ngành CNCK đang dần khẳng định được vị trí của mình trong nhóm hàng xuất
khẩu của Việt Nam, đóng góp tích cực vào việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu.

Hình 2.4. Tỷ trọng giá trị xuất khẩu ngành cơ khí trong tổng kim ngạch xuất
khẩu (đơn vị: %)
Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu Tổng cục thống kê và Tổng cục Hải quan
Cùng với sự gia tăng giá trị xuất khẩu thì nhập khẩu của ngành cơ khí cũng tăng
khá nhanh trong giai đoạn 2006 – 2013. Năm 2006, giá trị nhập khẩu ngành cơ khí chỉ
là 8,7 tỷ USD thì đến năm 2014, con số này đã tăng lên là 28,2 tỷ USD. Như vậy, trong
9 năm, giá trị nhập khẩu cơ khí đã tăng gấp 3 lần. Ngành cơ khí chiếm tỷ trọng cao về
giá trị nhập khẩu trong tổng kim ngạch nhập khẩu của nền kinh tế, nhưng đang có xu
hướng giảm dần. Năm 2009, tỷ trọng nhập khẩu của ngành CNCK là 25%, năm 2010
giảm xuống còn 22,1% và năm 2014 tiếp tục giảm còn 19,09%. Mặt hàng nhập khẩu
SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B

Chuyên đề tốt nghiệp

32

chủ yếu của ngành cơ khí là máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng (chưa kể đến nguyên
vật liệu sắt thép) chiếm từ 70% – 80% tổng giá trị nhập khẩu của ngành. Điều này, thể
hiện năng lực thiết kế, chế tạo, trình độ công nghệ trong nước còn hạn chế, sản xuất
phụ thuộc nhiều vào nước ngoài.

Bảng 2.3. Giá trị nhập khẩu ngành cơ khí giai đoạn 2006 – 2013
(đơn vị: triệu USD)
Các
sản
phẩm
chính
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014

Máy
móc,
thiết bị,
dụng cụ,
phụ
tùng
6.628
11.213
13.103
12.673,2
13.577,9
15.533,4
16.036,5
18.684,9
22.424,1

Ô tô
nguyên
chiếc
các loại

Linh
kiện,
phụ
tùng ô


212
592
1.039
1.268,6
978,5
1.028,6
615,5
722,6
1.581,7

758
922
1.832
1.802,2
1.929,0
2.037,9
1.461,3
1.679,0
2.182,9

Xe máy Linh
nguyên kiện,
chiếc
phụ
tùng
xe
máy
77
481
145
580
142
618
132,8
621,3
123,4
766,8
93,3
739,5
70,8
550,0
39
416
391,3

Phươn
g tiện
vận tải
khác và
phụ
tùng
538
619
518
616,2
884,0
1.341,0
1682,0
1.603,2
738,7

Dây
điện
và
dây
cáp
điện
_
_
293
399,7
504,0
553,2
789,6
889,4
909,3

Tổng
cộng

8.694
14.071
17.545
17.514,0
18.763,6
21.426,9
21.205,7
24.034,1
28.228,
3

Nguồn: Tổng cục Hải quan
Nhìn vào bảng 2.4, có thể thấy rằng, nhập siêu ngành cơ khí tương đối lớn, trên
10 tỷ USD mỗi năm. Đây sẽ là một trong những thách thức lớn đối với hoạt động sản
xuất cũng như sự phát triển của ngành cơ khí trong tương lai khi nền kinh tế thế giới có
nhiều biến động. Nếu như thị trường nguyên liệu đầu vào của ngành cơ khí trên thế
giới bị khan hiếm hàng hóa, hay các nhà cung cấp linh kiện, phụ tùng cho ngành cơ khí
Việt Nam gặp sự cố hoặc cố tình gây khó khăn ,…thì hoạt động sản xuất cơ khí trong
nước sẽ bị chậm lại, đình trệ và giảm sút dần.
SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B

Chuyên đề tốt nghiệp

33

Bảng 2.4. Cán cân thương mại ngành cơ khí giai đoạn 2006-2014
(đơn vị: triệu USD)
Năm
Cán
cân
XNK

2006
-6816

2007
-11686

2008
-14446

2009
13012

2010
11981

2011
12385

2012
-9095

2013
10804

2014
12718

Nguồn: Tác giả tính toán theo số liệu của Tổng Cục hải quan
Năng suất lao động
Trong giai đoạn 2002 - 2013, năng suất lao động ngành cơ khí tăng giảm không
nhiều, song xu hướng chung là tăng lên, 12 năm tăng với tốc độ trung bình khoảng
4,5%/ năm ( cao hơn mức trung bình của nền kinh tế nói chung là 4,25% và cao hơn
mức 4,3% của toàn ngành công nghiệp). Nhìn chung, năng suất lao động ngành cơ khí
nước ta còn thấp hơn nhiều so với cả nhiều nước trong khu vực: chỉ bằng khoảng 0,8
của Thái Lan, 0,77 của Malaysia, 0,56 của Singapore.
Giải quyết việc làm
Theo số liệu từ Niên giám thống kê năm 2013, tính đến hết năm 2012 cả nước
có 14.085 doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong ngành CNCK, tăng gấp
3,1 lần so với năm 2005 (năm 2005 chỉ có 4.515 doanh nghiệp). Nhìn vào hình 2.5 ta
thấy, số lượng doanh nghiệp cơ khí không ngừng tăng lên nhưng tỷ trọng so với tổng
số doanh nghiệp thì lại giảm đi nhưng sự biến động không nhiều. Năm 2005, tỷ trọng
doanh nghiệp hoạt động sản xuất trong ngành cơ khí chiếm 4,23% thì năm 2012 giảm
còn 4,06%. Như vậy, tốc độ tăng cúa số lượng doanh nghiệp cơ khí chậm hơn so với
các ngành khác và tổng số doanh nghiệp cả nước nói chung. (Xem phụ lục 2.2)

Hình 2.5. Số lượng doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh trong
ngành cơ khí tính đến 31/12 hàng năm giai đoạn 2005 – 2012
SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B

Chuyên đề tốt nghiệp

34
Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thống kê 2013

Trong giai đoạn 2005 – 2012, số lượng lao động của ngành cơ khí liên tục tăng
nhanh. Năm 2005, ngành cơ khí mới giải quyết được việc làm cho 458.464 lao động thì
đến hết năm 2012, số lao động làm việc trong ngành cơ khí đã tăng lên mức 1.019.526
( cao gấp 2,2 lần so với năm 2005). Trung bình mỗi năm trong giai đoạn 2005-2012,
ngành cơ khí tăng 70,1 nghìn người lao động. Lao động làm việc trong ngành cơ khí
chiếm tỷ trọng cao trong ngành công nghiệp chế biến từ 15-20%. Tỷ trọng lao động là
việc trong ngành cơ khí trong lực lượng lao động cũng tăng lên qua các năm nhưng
khá chậm: 2005, tỷ trọng này là 7,4% thì đến năm 2012 tăng lên là 9,2%; như vậy,
trong giai đoạn 2005-2012, trung bình mỗi năm, tỷ trọng lao động ngành CNCK trong
lực lượng lao động tăng 0,2% /năm.

Bảng 2.5. Số lượng lao động làm việc trong ngành cơ khí tính đến 31/12 hàng năm
giai đoạn 2005 – 2012 (đơn vị tính: người)
Sản xuất kim loại
Sản xuất sản
phẩm từ kim loại
đúc sẵn
Sản xuất sản
phẩm điện tử,
máy vi tính và sản
phẩm quang học
Sản xuất thiết bị
điện
Sản xuất máy
móc, thiết bị chưa
được phân vào
đâu
Sản xuất xe có
động cơ, rơ moóc
Sản xuất phương
tiện vận tải khác
Tổng
Tỷ trọng trong
tổng số lao động
của nền kinh tế
SV: Ngô Thu Trang

2005
42550
130667

2009
65883
214338

2010
71779
229268

2011
74289
250024

2012
72711
253978

45685

125641

167562

238661

289757

85782

124358

132303

139326

145573

34150

52403

54661

61324

60759

38461

60282

70063

78906

88115

81169

127315

115647

110929

108633

458464
7,54

770220
8,83

841283
8,56

953459
8,75

1019526
9,20

Lớp: Kinh tế phát triển 53B

Chuyên đề tốt nghiệp

35
Nguồn: Niên giám thống kê 2013

Tỷ lệ nội địa hóa
Trong những năm qua, ngành cơ khí đã không ngừng cố gắng để thực hiện mục
tiêu Chiến lược phát triển ngành cơ khí đến năm 2010 và nâng cao tỷ lệ nội địa hóa.
Nhờ vậy, mà nhiều ngành trong ngành cơ khí đã nâng cao được năng lực sản xuất và
hoàn thành mục tiêu nội địa hóa.
Ngành sản xuất xe gắn máy: đã có những tiến bộ vượt bậc, không những thoa
mãn nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu khoảng 150.000 xe/năm (chủ yếu là doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài). Tỷ lệ nội địa hóa các loại xe gắn máy sản xuất trong
nước đạt khoảng 85 – 95%. Ngành sản xuất xe gắn máy là ngành thành công nhất trong
thực hiện mục tiêu nội địa hóa của ngành cơ khí.
Ngành sản xuất máy móc, thiết bị cho ngành xi măng, vật liệu xây dựng: cơ khí
trong nước đã thiết kế và chế tạo thành công toàn bộ dây chuyền thiết bị đồng bộcho
nhà máy xi măng công suất đến 800.000 tấn/năm. Tổng công ty Lắp máy Việt Nam đã
tham gia chế tạo thiết bị cho Nhà máy xi măng Sông Thao với tỷ lệ nội địa hóa đạt
70% về khối lượng và 40% về giá trị. Tổng công ty cơ khí xây dựng đã chế tạo thành
công thiết bị phi tiêu chuẩn và hệ thống băng tải cho Nhà máy xi măng Sông Gianh về
chế tạo, lắp đặt thiết bị cơ điện cho Nhà máy xi măng Đồng Bành. Viện máy và dụng
cụ công nghiệp đã chế tạo các trạm trộn bê tông xi măng công suất từ 120 đến 150
m3/giờ. Tổng công ty Cổ phần xây dựng công nghiệp Việt Nam đã chế tạo được thiết bị
cho Nhà máy xi măng Thái Nguyên với tỷ lệ nội địa hóa đạt 74% về khối lượng. Đối
với ngành vật liệu xây dựng, ngành cơ khí trong nước cũng đã thiết kế, chế tạo dây
chuyền thiết bị cán thép xây dựng công suất lên đến 30.000 tấn/năm, dây chuyền sản
xuất gạch AAC đồng bộ công suất 100.000 m3/năm.
Ngành thiết bị y tế: Viện máy và dụng cụ công nghiệp đã nghiên cứu, thiết kế và
chế tạo thành công máy chụp X quang cao tần thường quy với tỷ lệ nội địa hóa lên tới
40%.
Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều ngành trong ngành cơ khí chưa thành công trên
chặng đường nâng cao tỷ lệ nội địa hóa.
SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B