Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CƠ KHÍ

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CƠ KHÍ

Tải bản đầy đủ

Chuyên đề tốt nghiệp

8

tế công nghiệp, tạo lập nền tảng vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế theo phương thức sản
xuất mới – sản xuất sản phẩm bằng máy móc. Trong khi đó, ngành cơ khí lại có chức
năng chủ yếu là chế tạo, sản xuất máy móc, thiết bị. Do vậy, một quốc gia sẽ không thể
hoàn thành quá trình công nghiệp hóa hay phát triển kinh tế theo hướng hiện đại, bền
vững nếu không có một nền công nghiệp cơ khí vững mạnh. Nhìn từ kinh nghiệm để
lại của các nước phát triển có thể thấy rằng, mỗi quốc gia có thể tiến hành công nghiệp
hóa theo nhiều cách khác nhau tùy vào lợi thế của từng nước song đều chú trọng phát
triển mạnh các ngành thuộc công nghiệp cơ khí.
Thứ hai, ngành cơ khí tạo động lực cho các ngành khác phát triển
Ngành cơ khí cung cấp máy móc, thiết bị có khả năng thay thế một phần lớn sức
lao động cho con người, tạo điều kiện nâng cao nâng suất lao động cho hầu hết các
ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế. Trước tiên, việc phát triển ngành cơ khí sẽ hỗ trợ các
ngành công nghiệp khác như: công nghiệp ô tô, công nghiệp tàu thủy, công nghiệp
điện, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng,…phát triển thông qua việc cung cấp linh
kiện, phụ tùng, máy móc, đổi mới thiết bị và công nghệ phục vụ cho quá trình sản xuất.
Bên cạnh đó, ngành cơ khí còn thúc đẩy nông nghiệp phát triển, nâng cao trình độ sản
xuất và năng suất lao động nhờ quá trình cơ giới hóa – đưa các loại máy móc như: mày
cày bừa, máy gặt, máy tuốt lúa, máy gieo hạt, máy bơm và tưới nước, máy sấy,… vào
sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra, ngành cơ khí còn cung cấp các thiết bị y tế, máy móc
công nghệ cao góp phần nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh.
Thứ ba, ngành cơ khí góp phần giải quyết việc làm cho xã hội
Trước hết, việc phát triển ngành cơ khí sẽ tạo việc làm cho hàng loạt lao động
trong ngành cơ khí. Tiếp đó, khi ngành cơ khí phát triển sẽ kéo theo các ngành, lĩnh
vực khác trong nền kinh tế phát triển. Vì vậy sẽ tạo ra một khối lượng việc làm lớn,
góp phần giảm thiểu tình trạng thất nghiệp và gia tăng thu nhập cho người lao động.
Thứ tư, ngành công nghiệp cơ khí giúp củng cố an ninh quốc phòng
Ngày nay, quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ ở tất cả mọi nơi, trên
mọi lĩnh vực. Các quốc gia ngoài việc chú trọng phát triển kinh tế còn cần phải quan
tâm đến vấn đề an ninh quốc phòng, để vừa có thể hòa nhập với sự phát triển chung
của kinh tế thế giới, vừa có thể giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia. Hiện nay,
hết*các*trang*thiết*quân*sự*và*vũ*khí*cho*lực*lượng*vũ*trang*đều*là*sản phẩm
SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B

Chuyên đề tốt nghiệp

9

của*ngành*cơ*khí – điện*tử (chiếm*khoảng*85%). Vì vậy, phát triển ngành công
nghiệp cơ khí cũng là góp phần bảo đảm an ninh quốc phòng.
1.2.

Nội dung và tiêu chí đánh giá phát triển ngành công nghiệp cơ khí

1.2.1. Khái niệm phát triển ngành công nghiệp cơ khí

Theo triết học duy vật biện chứng, phát triển là một phạm trù triết học khái quát
quá trình vận động từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật.
Từ đó, theo logic biện chứng của quá trình phát triển, phát triển kinh tế được xem là
quá trình biến đổi cả về lượng và chất của nền kinh tế.
Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến, toàn diện và về mọi mặt kinh tế, chính
trị, xã hội của một quốc gia. (Theo giáo trình Kinh tế phát triển, Nhà xuất bản Đại học
Kinh tế quốc dân, 2012).
Như vậy, có thể đi đến khái niệm phát triển ngành công nghiệp cơ khí, đó là
quá trình tăng tiến toàn diện, biến đổi cả về mặt lượng và mặt chất của ngành công
nghiệp cơ khí. Mặt lượng của sự phát triển bao hàm sự gia tăng về quy mô giá trị sản
xuất và tiềm lực của ngành cơ khí, đó là quá trình tăng trưởng của ngành cơ khí, còn sự
biến đổi về chất bao gồm quá trình thay đổi cấu trúc bên trong của ngành (chuyển dịch
cơ cấu ngành cơ khí) và hiệu quả của ngành đối với nền kinh tế xã hội.
1.2.2. Nội dung phát triển ngành công nghiệp cơ khí
1.2.2.1.

Tăng trưởng ngành công nghiệp cơ khí

Tăng trưởng ngành công nghiệp cơ khí là tiêu thức thể hiện quá trình biến đổi về
lượng, được hiểu là sự gia tăng thu nhập của ngành cơ khí, xét trong một khoảng thời
gian nhất định (thường là một năm). Sự gia tăng này được biểu hiện qua quy mô và tốc
độ tăng trưởng. Quy mô tăng trưởng phản ánh sự tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng
trưởng mang ý nghĩa so sánh tương đối, phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các
thời kỳ.
1.2.2.2.

Chuyển dịch cơ cấu của ngành công nghiệp cơ khí

Cơ cấu trong nội bộ ngành cơ khí thể hiện mối quan hệ hữu cơ, sự tác động qua
lại cả về số và chất lượng giữa các ngành với nhau; đồng thời phản ánh bản chất, cấu
trúc và đánh dấu sự phát triển theo các giai đoạn của ngành cơ khí. Quá trình chuyển
SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B

Chuyên đề tốt nghiệp

10

đổi cơ cấu trong nội bộ ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác hoàn thiện hơn,
phù hợp hơn với môi trường và điều kiện phát triển gọi là sự chuyển dịch cơ cấu
trong nội bộ ngành cơ khí. Sự chuyển dịch này không chỉ là thay đổi về số lượng các
ngành, tỷ trọng mỗi ngành mà còn bao gồm sự thay đổi về vị trí, tính chất mối quan hệ
trong nội bộ cơ cấu ngành.
Ngành cơ khí có thể được chia thành: cơ khí chế tạo, cơ khí lắp ráp, cơ khí sửa
chữa. Ngoài ra, theo trình độ công nghệ, ngành cơ khí được chia thành: ngành cơ khí
có công nghệ cao, công nghệ trung bình và công nghệ thấp. Hiện nay, các nước có nền
công nghiệp phát triển, dẫn đầu thế giới về sản xuất cơ khí như: Mỹ, Nhật Bản, Đức
tập trung vào chế tạo sản phẩm cơ khí có hàm lượng công nghệ cao tại các cơ sở sản
xuất trong nước còn một số bộ phận lắp ráp thì được đưa sang các thị trường mới nổi,
các nước đang phát triển nhằm tận dụng nguồn lao động giá rẻ, giảm chi phí sản xuất,
gia tăng lợi nhuận để tạo điều kiện để đầu tư vào hoạt động nghiên cứu và phát triển.
Xu hướng chuyển dịch trên thế giới là tăng tỷ trọng ngành cơ khí chế tạo, công nghiệp
hỗ trợ ngành cơ khí, giảm tỷ trọng ngành cơ khí lắp ráp; tăng tỷ trọng ngành cơ khí
công nghệ cao, giảm tỷ trọng ngành cơ khí công nghệ thấp.
1.2.2.3.

Hiệu quả của ngành công nghiệp cơ khí

Hiệu quả của ngành công nghiệp cơ khí được hiểu là sự đóng góp, tác động lan
toa của ngành cơ khí đối với nền kinh tế cũng như phương diện xã hội. Đây là bộ phận
phản ánh sự biến đổi về chất, sự phát triển về mặt xã hội của ngành cơ khí. Nội hàm
của hiệu quả ngành công nghiệp cơ khí bao gồm:
(i) Hiệu quả về mặt kinh tế bao gồm: khả năng cạnh tranh của sản phẩm,

khả năng đáp ứng nhu cầu trong nước, năng suất lao động của ngành, đóng góp
vào tăng trưởng và kim ngạch xuất khẩu.
(ii) Hiệu quả về mặt xã hội là sự đóng góp của ngành vào việc giảm tình
trạng thất nghiệp và nâng cao năng suất lao động cho xã hội. Sự phát triển của
ngành cơ khí không những giải quyết việc làm cho lao động trong ngành mà còn
tạo việc làm cho người lao động trong các ngành, lĩnh vực khác của nền kinh tế
bởi ngành cơ khí có vai trò là động lực thúc đẩy các ngành khác phát triển.
Ngành cơ khí cung cấp máy móc cho hoạt động sản xuất của nền kinh tế, giúp
tự động hóa một hay nhiều khâu của quá trình sản xuất, từ đó nâng cao năng
suất lao động xã hội.
SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B

Chuyên đề tốt nghiệp

11

1.2.3. Các tiêu chí đánh giá phát triển ngành công nghiệp cơ khí

Tiêu chí đánh giá tăng trưởng ngành công nghiệp cơ khí

1.2.3.1.

a. Giá trị sản xuất ngành công nghiệp cơ khí

Giá trị sản xuất (GTSX) ngành CNCK là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất của
các ngành trong nội bộ ngành CNCK thực hiện trong một thời kì nhất định (thường là
một năm). GTSX ngành CNCK bao gồm: (i) Giá trị nguyên vật liệu, năng lượng, phụ
tùng thay thế; (ii) Chi phí dịch vụ sản xuất và khấu hao tài sản cố định ; (iii) Chi phí
tiền lương, tiền công cho lao động; (iv) Thuế sản xuất và giá trị thặng dư tạo ra trong
cấu thành giá trị sản phẩm.
GTSX ngành CNCK là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh
của ngành CNCK trong một thời kỳ nhất định, thể hiện quy mô, độ rộng của ngành, là
cơ sở để đánh giá tình hình phát triển CNCK của một quốc gia cũng như từng vùng,
miền, địa phương; phục vụ cho việc đề ra các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát
triển công nghiệp trong từng thời kỳ.
GTSX ngành CNCK được tính theo hai loại giá (giá thực tế và giá so sánh) với
phương pháp tính như sau:
GTSX ngành CNCK theo giá thực tế là toàn bộ giá trị sản phẩm do hoạt động
sản xuất CNCK tạo ra tính theo giá tại thời kỳ tính GTSX. Công thức tính:
GTSX ngành
CNCK

= Doanh thu thuần + Các khoản
công nghiệp

theo giá thực tế

trợ cấp

+ Chênh lệch

+ Thuế tiêu thụ

cuối và đầu kỳ phát sinh

của Nhà nước hàng tồn kho

nộp NSNN

Giá trị sản xuất CNCK theo giá so sánh có nội dung tương tự như giá trị sản
xuất theo giá gốc nhưng được tính trên cơ sở cố định giá của người sản xuất để làm gốc
so sánh.
GTSX ngành CNCK theo giá so sánh = GTSX công nghiệp theo giá thực tế / Chỉ số
giá của người sản xuất
b. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành cơ khí qua các năm

Tốc độ tăng trưởng GTSX là tỷ lệ phần trăm giữa chênh lệch GTSX ngành
CNCK kỳ hiện tại và kỳ gốc với GTSX ngành CNCK kỳ gốc. Chỉ tiêu này phản ánh
SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B

Chuyên đề tốt nghiệp

12

sự gia tăng nhanh hay chậm, sự so sánh mang tính tương đối giữa các năm, các thời kỳ
khác nhau về tốc độ phát triển sản xuất CNCK. Chỉ tiêu này được tính bằng biểu thức:
t(i) = x 100 (đơn vị tính: %)
Trong đó:
-

t(i) là tốc độ tăng trưởng GTSX ngành cơ khí năm i
Yi là GTSX ngành cơ khí năm i
Yi-1 là GTSX ngành cơ khí năm (i-1)
c. Tỷ trọng ngành công nghiệp cơ khí trong cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp

Tỷ trọng ngành CNCK trong cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp là tỷ lệ giữa giá
trị sản xuất CNCK với giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp. Chỉ tiêu này phản
ánh vai trò, tầm quan trọng của ngành cơ khí đối với sự phát triển công nghiệp nói
riêng và kinh tế nói chung của các quốc gia, đặc biệt là với các nước đang thực hiện
quá trình công nghiệp hóa.
Tỷ trọng ngành CNCK được tính bằng biểu thức:
st = x100 (%)
Trong đó: st là tỷ trọng ngành công nghiệp cơ khí năm t ; Y CK(t) là giá trị sản xuất ngành
cơ khí năm t; YCN(t) là giá trị sản xuất công nghiệp năm t

1.2.3.2.

Tiêu chí đánh giá chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành cơ khí
Tỷ trọng của các ngành trong nội bộ ngành công nghiệp cơ khí

Cơ cấu ngành trong nội bộ ngành CNCK là tỷ trọng giá trị sản xuất của các
phân ngành trong ngành cơ khí với toàn bộ giá trị sản xuất CNCK.
Cơ cấu các phân ngành trong nội bộ ngành CNCK phản ánh vị trí, vai trò, đóng
góp của từng phân ngành đối với ngành cơ khí đồng thời phác họa cấu trúc của ngành.
Chỉ tiêu này là cơ sở đánh giá sự dịch chuyển cơ cấu trong nội bộ ngành cơ khí. Chỉ
tiêu này được tính bằng biểu thức:
Ti = x100 (%)
Trong đó: Ti là tỷ trọng ngành i trong ngành cơ khí; y i là giá trị sản xuất của ngành i;
YCK là giá trị sản xuất của ngành cơ khí.
SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B

Chuyên đề tốt nghiệp
1.2.3.3.

13

Tiêu chí đánh giá hiệu quả của ngành công nghiệp cơ khí
a. Khả năng cạnh tranh của sản phẩm

Khả năng cạnh tranh của sản phẩm là yếu tố quan trọng quyết định đến hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Khả năng cạnh tranh của sản phẩm có thể hiểu là
sự vượt trội so với các sản phẩm cùng loại trên thị trường về chất lượng và giá cả với
điều kiện các sản phẩm tham gia cạnh tranh đều đáp ứng được các yêu cầu của người
tiêu dùng. Sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao hơn là những sản phẩm mang lại giá
trị sử dụng cao hơn trên một đơn vị giá cả.
Đối với sản phẩm ngành cơ khí, khả năng cạnh tranh của sản phẩm được đánh
giá thông qua giá, tiêu chuẩn kỹ thuật và trình độ công nghệ của sản phẩm. Để đánh
giá chất lượng sản phẩm cơ khí, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều áp dụng tiêu
chuẩn chất lượng quốc tế. Tiêu chuẩn không những làm thước đo chất lượng sản phẩm
mà còn là yếu tố thúc đẩy sự phát triển sản xuất, hiện đại hoá các ngành công nghiệp
cơ khí, chế tạo thiết bị. “Tiêu chuẩn hoá” (TCH) là tập hợp các hoạt động về nghiên
cứu xây dựng tiêu chuẩn, phổ biến áp dụng tiêu chuẩn trong sản xuất và các tiêu chuẩn
về kỹ thuật, môi trường và quản lý kinh tế, kỹ thuật. TCH là tiền đề không thể thiếu
được cho sản xuất hàng loạt lớn nhằm tạo ra sản phẩm có giá thành rẻ và chất lượng
cạnh tranh. Nhiều tổ chức TCH quốc gia, các tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế như ISO,
IEC, ITU đã đưa vào tiêu chuẩn các thành tựu mới nhất về khoa học - công nghệ. Tiêu
chuẩn sản phẩm với yêu cầu chất lượng cao đã thúc đẩy sự đổi mới công nghệ sản
xuất.
b. Đóng góp của ngành công nghiệp cơ khí vào tăng trưởng kinh tế

Tỷ trọng đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của ngành cơ khí là tỷ lệ giữa giá trị
gia tăng ngành cơ khí so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Chỉ tiêu này phản ánh tỷ
trọng đóng góp của ngành cơ khí vào GDP, qua đó thể hiện vị trí, vai trò của ngành cơ
khí đối với tăng trưởng kinh tế. Phương pháp tính:
sCK =
Trong đó: sCK là tỷ trọng đóng góp của ngành công trong tổng sản phẩm quốc
nội; yCK là giá trị gia tăng ngành công nghiệp cơ khí; GDP là tổng sản phẩm quốc nội.
c. Đóng góp của ngành công nghiệp cơ khí vào kim ngạch xuất khẩu

SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B

Chuyên đề tốt nghiệp

14

Giá trị xuất khẩu của ngành công nghiệp cơ khí là tổng giá trị hàng hóa ngành
cơ khí của một quốc gia đưa ra nước ngoài, làm giảm nguồn của cải vật chất của đất
nước đó. Giá trị xuất khẩu hàng hóa cơ khí được tính theo giá FOB (Free on Board)
hoặc tương đương, là giá giao hàng tính tại biên giới quốc gia xuất khẩu, được tính cho
một thời kỳ nhất định và theo một loại tiền thống nhất là đô la Mỹ.
Đây là chỉ tiêu phản ánh lượng ngoại tệ mà đất nước thu được từ hàng hóa cơ
khí xuất khẩu do nền kinh tế tạo ra trong một thời kỳ nhất định. Chỉ tiêu này được sử
dụng để đánh giá sức cạnh tranh của nền sản xuất cơ khí trong một quốc gia với các
quốc gia khác, khả năng tiếp cận, thâm nhập thị trường hàng hóa thế giới có vai trò
quan trọng trong kim ngạch xuất khẩu của mỗi quốc gia. Tuy nhiên để xem xét trình độ
phát triển còn cần quan tâm đến cơ cấu mặt hàng xuất khẩu cũng như giá trị và các sản
phẩm nhập khẩu của ngành cơ khí. Vì vậy, có thể xét đến các chỉ tiêu như:
-

Giá trị xuất khẩu ngành cơ khí/ giá trị sản xuất ngành cơ khí
Giá trị xuất khẩu ngành cơ khí/ giá trị xuất khẩu ngành công nghiệp
Giá trị xuất khẩu ngành cơ khí/ kim ngạch xuất khẩu
Giá trị nhập khẩu ngành cơ khí/ giá trị nhập khẩu ngành công nghiệp
Giá trị nhập khẩu ngành cơ khí / kim ngạch nhập khẩu

d. Năng suất lao động của ngành cơ khí

Năng suất lao động ngành cơ khí là chỉ tiêu phản ánh hiệu suất làm việc của lao
động trong ngành, tổng hợp kết quả các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất hàng
hóa và dịch vụ tính cho một người lao động. Chỉ tiêu này không chỉ biểu hiện kết quả
sản xuất mà còn là động lực để cải thiện đời sống và tăng thu nhập cho người lao động.
Hơn thế, đây còn là chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành cơ khí với các
ngành khác trong nền kinh tế. Chỉ tiêu này được tính bằng biểu thức:
NSLĐ =
Trong đó: NSLĐ là năng suất lao động của ngành cơ khí; Y CK là giá trị sản xuất
ngành cơ khí; LCK là số lao động làm việc trong ngành cơ khí bình quân.
e. Tỷ lệ nội địa hóa

Tỷ lệ nội địa hóa của sản phẩm ngành cơ khí là tỷ lệ sử dụng các nguyên vật
liệu và phụ tùng công nghiệp cơ khí sản xuất trong nước so với nhập khẩu. Tỷ lệ nội
địa hóa càng tăng thì sẽ giúp tạo việc làm cho lao động trong nước, giảm phụ thuộc vào
SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B

Chuyên đề tốt nghiệp

15

nước ngoài và phát triển ngành công nghiệp phụ trợ. Tuy nhiên nâng cao tỷ lệ nội địa
hóa chưa chắc sẽ giảm giá thành và đảm bảo chất lượng của sản phẩm. Chỉ tiêu này
được tính như sau:
Tỷ lệ

=

nội địa hóa
f.

Khả năng đáp ứng nhu cầu trong nước của ngành công nghiệp cơ khí

Khả năng đáp ứng nhu cầu trong nước của ngành cơ khí là khả năng sản xuất
sản phẩm cơ khí trong nước so với tổng nhu cầu tiêu dùng trong nước. Chỉ tiêu này
phản ánh năng lực sản xuất trong nước cũng như trình độ phát triển của ngành. và
được tính bằng biểu thức:
Khả năng đáp ứng nhu cầu trong nước = Giá trị sản xuất CNCK trong nước / Tổng giá
trị ngành cơ khí (gồm giá trị sản xuất trong nước + giá trị nhập khẩu)
g. Đóng góp vào giải quyết việc làm

Khả năng giải quyết việc làm của ngành cơ khí là số việc làm mà ngành cơ khí
tạo ra cho lực lượng lao động trong nền kinh tế. Chỉ tiêu này phản ánh sự đóng góp vào
việc giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao thu nhập cho người lao động của ngành cơ khí và
được tính thông qua số lượng lao động đang làm việc trong ngành cơ khí.
1.3.

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành công nghiệp cơ khí

1.3.1. Nhân tố nguồn lực
1.3.1.1.

Yếu tố vốn

Vốn là một yếu tố vật chất đầu vào quan trọng có tác động trực tiếp đến tăng
trưởng của ngành CNCK. Vốn là toàn bộ tư liệu vật chất được tích lũy lại của ngành cơ
khí, bao gồm: nhà xưởng, thiết bị, máy móc và các trang bị được sử dụng như những
yếu tố đầu vào trong sản xuất. Tùy theo mức độ vốn mà người lao động được sử dụng
những máy móc, thiết bị nhiều hay ít (tỷ lệ vốn trên lao động) và tạo ra sản lượng cao
hay thấp. Đây là nhân tố không thể thiếu nếu muốn mở rộng và phát triển bất cứ ngành
công nghiệp nào, nhất là đối với ngành CNCK. Việc gia tăng vốn sản xuất có vai trò
quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ và nâng
cao khả năng tự động hóa của ngành cơ khí. Tuy nhiên nguồn lực đầu vào ngành cơ khí
đòi hoi sự đầu tư với giá trị lớn, thời gian đầu tư dài, độ rủi ro trong quá trình đầu tư
SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B

Chuyên đề tốt nghiệp

16

cao, bất lợi hơn so với đầu tư vào sản xuất nhiều ngành công nghiệp khác. Do vậy, việc
cân đối nguồn lực đầu tư, chính sách thu hút, huy động vốn đầu tư vào ngành cơ khí là
hết sức cần thiết đối với sự tăng trưởng và phát triển bền vững của ngành.
1.3.1.2.

Yếu tố nhân lực

Nhân lực ở đây không chỉ bao gồm khía cạnh vật chất là số lượng lao động mà
còn nhấn mạnh đến khía cạnh phi vật chất của lao động là vốn nhân lực. Đó là các lao
động có kỹ năng sản xuất, vận hành máy móc, thiết bị phức tạp, có trình độ chuyên
môn cao, khả năng sáng tạo,…Yếu tố này có tác động tích cực và mạnh mẽ đến sự phát
triển của ngành cơ khí. Theo quan điểm từ phía doanh nghiệp, nguồn nhân lực có vai
trò quan trọng hơn nhiều so với máy móc thiết bị. Hầu hết các yếu tố khác như máy
móc thiết bị, nguyên vật liệu hay công nghệ sản xuất đều có thể mua hoặc vay mượn
được nhưng nguồn nhân lực thì khó có thể làm điều tương tự. Các yếu tố như máy
móc, nguyên vật liệu, công nghệ sản xuất chỉ có thể phát huy hiệu quả tối đa nếu được
vận hành bởi đội ngũ lao động có trình độ, chuyên môn, sức khoe và kỷ luật tốt. Những
kỹ sư quản lý dây chuyền sản xuất, phải là người có khả năng quản lý và cải tiến toàn
bộ quy trình sản xuất của một nhà máy chứ không phải chỉ có một kỹ năng cụ thể,
riêng biệt. Những kỹ sư khuôn mẫu giàu kinh nghiệm, có trình độ chuyên môn cao, là
những người có thể thiết kế, sản xuất và điều chỉnh những sản phẩm khuôn mẫu đạt
đến độ chính xác hoàn hảo và có thể nhận thấy sự khác biệt đến từng chi tiết, từng
milimet đối với sản phẩm. Như vậy, việc đảm bảo đủ về số lượng kỹ sư, công nhân
cùng với trình độ chuyên môn, tay nghề cao, khả năng vận hành máy móc hiện đại sẽ
giúp ngành cơ khí nhanh chóng phát triển, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển,
đang trong quá trình công nghiệp hóa sẽ có thể bắt kịp với các nước có nền công
nghiệp cơ khí phát triển và sớm trở thành nước công nghiệp. Trên thế giới, không ít
quốc gia đã có các chính sách phát triển nguồn nhân lực trong nước kết hợp với thu hút
nhân lực chất lượng cao từ các nước khác. Tiêu biểu như tại Mỹ, để phát triển nguồn
nhân lực cho ngành công nghiệp, nước này đã tập trung xây dựng môi trường làm việc
sáng tạo, khuyến khích phát triển và quan tâm, coi trọng bồi dưỡng, thu hút nhân tài.
1.3.1.3.

Trình độ công nghệ

Trong điều kiện của nền sản xuất hiện đại, công nghệ kỹ thuật ngày càng trở
thành nhân tố có tác động mạnh mẽ đến sự tăng trưởng của ngành cơ khí. Theo giáo
trình Kinh tế phát triển – xuất bản năm 2012, yếu tố công nghệ kỹ thuật cần được hiểu
SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B

Chuyên đề tốt nghiệp

17

đầy đủ theo hai dạng: thứ nhất, đó là những thành tựu kiến thức , tức là nắm bắt kiến
thức khoa học, nghiên cứu đưa ra những nguyên lý, thử nghiệm về cải tiến sản phẩm,
quy trình công nghệ hay thiết bị kỹ thuật; thứ hai, là sự áp dụng phổ biến các kết quả
nghiên cứu, thử nghiệm vào thực tế nhằm nâng cao trình độ phát triển chung của sản
xuất. Các yếu tố kỹ thuật công nghệ thường biểu hiện qua các phương pháp sản xuất
mới, kỹ thuật mới, vật liệu mới, thiết bị, dây chuyền, công nghệ sản xuất, các bí quyết,
phát minh…
Khi công nghệ phát triển, các doanh nghiệp có điều kiện ứng dụng các thành tựu
của công nghệ để tạo ra sản phẩm chất lượng cao hơn nhằm phát triển sản xuất, nâng
cao năng lực cạnh tranh. Đối với ngành CNCK, việc áp dụng các tiến bộ, thành tựu
khoa học công nghệ có ảnh hưởng tích cực, nâng cao trình độ sản xuất, chất lượng sản
phẩm và năng suất lao động không chỉ cho riêng ngành cơ khí mà còn cho cả các
ngành , lĩnh vực khác trong nền kinh tế nhờ việc tạo ra các các chi tiết, phụ tùng có tính
chính xác, các máy móc, thiết bị sản xuất hiện đại. Quá trình áp dụng tiến bộ khoa học
công nghệ sẽ giúp cho các doanh nghiệp trong ngành cơ khí nâng cao năng lực sản
xuất, tiết kiệm được thời gian, chi phí sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm,
tăng tỷ lệ nội địa hóa, có đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của nước ngoài.
Ngược lại, nếu trình độ khoa học kỹ thuật của ngành cơ khí chỉ ở mức thấp, lạc hậu thì
sẽ làm giảm năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh của sản phẩm cơ khí, khiến
ngành cơ khí gặp nhiều khó khăn trong quá trình phát triển.
1.3.2. Cơ chế chính sách của nhà nước.

Dù trong thời kỳ nào, giai đoạn nào cũng không thể phủ nhận vai trò của nhà
nước đối với nền kinh tế nói chung và ngành công nghiệp cơ khí nói riêng. Một nền
chính trị ổn định cùng với sự đồng bộ, nhất quán về quan điểm, chính sách luôn hấp
dẫn các nhà đầu tư. Cơ chế chính sách là yếu tố tạo tiền đề, dẫn dắt ngành công nghiệp
cơ khí phát triển. Các chính sách miễn giảm thuế thu nhập, giảm thuế mua sắm thiết bị,
máy móc, hỗ trợ tài chính, kỹ thuật, nguồn nhân lực có tác động khuyến khích các
doanh nghiệp cơ khí phát triển. Đây là một trong những nhân tố quan trọng, có tác
động rất lớn đến quyết định của các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài vào
ngành công nghiệp cơ khí. Các chính sách định hướng về ngành mũi nhọn, trọng điểm,
ngành có lợi thế cùng chính sách bảo hộ có điều kiện và có thời hạn của Nhà nước đối

SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B

Chuyên đề tốt nghiệp

18

với các sản phẩm cơ khí theo từng giai đoạn sẽ tạo điều kiện nâng cao năng lực cạnh
tranh, đạt được tăng trưởng và phát triển bền vững của ngành CNCK.
Tuy nhiên, nếu các chính sách của Nhà nước đưa ra không phù hợp với thực tiễn
của ngành, nhu cầu của doanh nghiệp, điều kiện kinh tế trong từng giai đoạn phát triển
và xu thế của thế giới thì đây sẽ là yếu tố cản trở, kìm hãm sự phát triển của ngành cơ
khí.
1.3.3. Dung lượng và tiềm năng thị trường

Thị trường là nơi gặp gỡ của tổng cung và tổng cầu. Nó gắn liền với quá trình
sản xuất và lưu thông, ở đâu có sản xuất thì ở đó có thị trường. Để tham gia vào thị
trường, ngành cơ khí cần phải có một lượng đơn hàng đủ lớn, đảm bảo duy trì hoạt
động sản xuất kinh doanh; do đó, dung lượng thị trường lớn đóng vai trò quan trọng
đối với ngành cơ khí và cũng là cơ sở cho quyết định gia nhập ngành của các nhà đầu
tư. Dung lượng thị trường có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của ngành. Khi
dung lượng thị trường còn nho, việc áp dụng chính sách khuyến khích ưu đãi trực tiếp
cho các doanh nghiệp ngành cơ khí khó thực hiện được. Trong trường hợp dung lượng
thị trường trong nước hạn hẹp nhưng lại tìm kiếm được thị trường xuất khẩu thì công
nghiệp cơ khí vẫn có thể phát triển được. Doanh nghiệp trong ngành cơ khí cũng như
trong các ngành khác đều chịu sự chi phối của thị trường hay thị trường đã tác động và
có ảnh hưởng quyết định tới mọi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh trong doanh
nghiệp. Thị trường càng mở rộng và phát triển thì lượng hàng tiêu thụ được càng nhiều
và khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.
Bởi thế, còn thị trường thì còn sản xuất kinh doanh, thị trường bị thu hẹp hay mất đi thì
sản xuất sẽ bị đình trệ, doanh nghiệp gặp khó khăn thậm chí có nguy cơ phá sản. Do
vậy, thị trường là một yếu tố động lực thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của ngành
cơ khí.
1.4.

Kinh nghiệm phát triển ngành công nghiệp cơ khí của một số nước

1.4.1. Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Là một trong những nước phát triển trên thế giới, Hàn Quốc được xem như là
một kỳ tích trong tăng trưởng và phát triển kinh tế: chỉ trong khoảng 30 năm (từ giữa
những năm 1960 đến giữa những năm 1990) từ một nước nghèo Hàn Quốc đã vươn lên
trở thành một nước công nghiệp hóa(CNH); Hàn Quốc đã gia nhập tổ chức hợp tác và
SV: Ngô Thu Trang

Lớp: Kinh tế phát triển 53B