Tải bản đầy đủ
Bảng 1.7 : Bảng các Http Connection API.

Bảng 1.7 : Bảng các Http Connection API.

Tải bản đầy đủ

định lập một trang web để bản thân và bạn bè có thể thưởng thức những sản
phẩm “cây nhà lá vườn”.Tên miền "YouTube.com" được kích hoạt vào ngày 15
tháng 2 năm 2005 và trang web được phát triển vài tháng sau đó. Ý nghĩa của
You Tube là “Truyền hình của bạn” (người Mỹ gọi tivi là Tube). Mới ra đời
hơn một năm, You Tube đã chiếm 46% thị phần nghe nhìn trên mạng.
Sau khi PayPal bị mua lại với giá 1,5 tỉ USD, cả ba người quyết định ra
riêng và tự thành lập một công ty mới. Đầu năm 2005, cả ba cùng rời PayPal và
bàn kế hoạch tại quán café Max's Opera gần trường Standford. Trụ sở đầu tiên
của YouTube là tại thung lũng Silicon. Những tác giả cung cấp bản xem thử của
trang web trước công chúng vào tháng 5 năm 2005, sáu tháng trước khi
YouTube chính thức ra mắt
Giống như nhiều công ty công nghệ mới thành lập, YouTube khởi đầu với
một công ty đầu tư mạo hiểm từ một văn phòng tạm thời ở một ga-ra. Vào
tháng 11 năm 2005, công ty đầu tư Sequoia Capital đầu tư một lượng tiền khởi
đầu là 3,5 triệu USD. Thêm vào đó, Roelof Botha, người cộng tác của công ty
và là cựu CFO của PayPal, đã gia nhập ban giám đốc của YouTube. Vào tháng
4 năm 2006, Sequoia đặt thêm 8 triệu USD vào công ty, và tiếp theo là thời kỳ
phổ biến cực nhanh trong vòng vài tháng đầu. Trong mùa hè năm 2006,
YouTube là một trong những trang web phát triển nhanh nhất trong cộng
đồng Web, và được xếp hạng thứ 5 trong những trang web phổ biến nhất
trên Alexa, với tốc độ tăng trưởng thậm chí còn nhanh hơn MySpace. Theo
cuộc điều tra vào ngày 16 tháng 7 năm 2006, 100 triệu video clip được xem
hàng ngày trên YouTube, cộng thêm 65.000 video mới được tải lên mỗi ngày.
Trang web có trung bình 20 triệu lượt truy cập mỗi tháng, theo như
Nielsen/NetRatings, trong đó khoảng 44% là nữ giới, 56% nam giới, và khoảng
tuổi từ 12 đến 17 tuổi chiếm ưu thế. Điểm ưu việt của YouTube trong thị
trường video online đó là sự thực tế. Vào ngày 9 tháng 10 năm 2006, đã có
thông báo rằng công ty Google sẽ mua lại công ty với giá là 1,65 tỷ USD bằng
cổ phiếu. Thỏa thuận giữa Google và YouTube đã đến sau khi YouTube đưa ra

31

ba bản thỏa thuận với những công ty truyền thông trong nỗ lực tránh nguy cơ
kiện tụng do vi phạm bản quyền. YouTube sẽ tiếp tục hoạt động độc lập, với
những đồng sáng lập và 67 nhân viên làm việc trong công ty. Sự giao kèo để
mua lại YouTube đã kết thúc vào ngày 13 tháng 11 năm 2006.
1.3.2 Lợi ích của Youtube
YouTube cung cấp diễn đàn cho mọi người kết nối, thông báo và truyền
cảm hứng cho những người khác trên toàn cầu và đóng vai trò là nên tảng phân
phối cho những người tạo nội dung gốc và các nhà quảng cáo lớn, nhỏ.
Trước khi YouTube xuất hiện vào năm 2005, có rất ít phương pháp dễ dàng
cho người dùng máy tính thông thường tải lên những đoạn video trực tuyến.
Bằng giao diện đơn giản, YouTube khiến cho bất cứ ai cũng có thể gửi lên một
đoạn video mà mọi người trên thế giới có thể xem được trong vòng vài phút, chỉ
với một kết nối Internet. Các chủ đề với lĩnh vực đa dạng mà YouTube bao
trùm đã khiến cho việc chia sẻ video trở thành một trong những phần quan
trọng nhất của việc trao đổi trên Internet.
• Tác động xã hội : Một ví dụ gần đây về tác động xã hội của YouTube là sự

thành công của video "The Bus Uncle" trong năm 2006. Đoạn video cho thấy
cuộc hội thoại sôi nổi giữa một thanh niên và người đàn ông lớn tuổi trên
chuyến xe buýt ở Hồng Kông. Năm 2008, YouTube được trao một giải
thưởng Peabody Award và được biểu dương vì đã trở thành "một góc dư luận,
góp phần cụ thể hóa và xúc tiến nền dân chủ". Tuần báo Entertainment xếp
YouTube đứng đầu danh sách trong số cuối thập kỉ.
• Sự thừa nhận của giới truyền thông : Vào tháng 2 năm 2006, NBC đã yêu cầu
loại bỏ một số nội dung có bản quyền của họ ra khỏi YouTube, trong đó có
đoạn phim Lazy Sunday và Thế vận hội 2006. Tháng sau đó, trong một nỗ lực
nhằm gia cố chính sách của mình để chống lại sự vi phạm bản quyền,
YouTube đã thiết lập giới hạn thời gian cho một đoạn video là 10 phút. Mặc
dù những người dùng trước đó được miễn chính sách này, những thành viên
mới không thể tải lên những đoạn video dài quá 10 phút. Những người tự sáng
32

tạo ra clip của mình có thể nộp đơn yêu cầu dỡ bỏ giới hạn này. Sự giới hạn
này có thể dễ dàng bị người dùng phá vỡ, vì họ chỉ cần tách video gốc thành
những phần nhỏ hơn, mỗi phần dưới lượng 10 phút tối đa.
Mặc dù YouTube đã thỏa mãn yêu cầu của NBC, tình tiết này đã tạo nên
một tin tức nóng hổi, khiến cho trang web càng trở nên phổ biến. Do sự phổ
biến của YouTube ngày càng tăng cao, NBC bắt đầu nhận ra khả năng của
trang web, và tuyên bố, vào tháng 6 năm 2006, một sự hợp tác chiến lược với
YouTube. Vào ngày 9 tháng 10 năm 2006, CBS, Universal Music Group,
và Sony BMG Music Entertainment đã công bố một thỏa thuận cung cấp nội
dung cho YouTube.
• Sự theo dõi của báo chí : Time đã đưa màn hình YouTube với một cái gương

được trang trí trong “ nhân vật của năm” của nó, ghi chú về truyền thông do
người dùng tự tạo như của YouTube, và in những người khởi thủy trang web
cùng với vài người sáng tạo nội dung. Wall Street Journal và New York
Times cũng bình luận các nội dung đã tải lên YouTube, và tác động của nó
đối với giao tiếp và tuyển dụng của công ty vào năm 2006. Tạp chí PC
World đưa YouTube vào hàng thứ 9 trong Top 10 sản phẩm tốt nhất năm
2006. Vào năm 2007, cả Sports Illustrated và Dime Magazine đã có những bài
bình luận xuất sắc về những đoạn phim hấp dẫn của bóng rổ có tựa đề, The
Ultimate Pistol Pete Maravich MIX. Do sự mua lại của Google, nó đôi khi
còn được nhắc đến với tên "GooTube".
• Tính kinh tế của YouTube : Trước khi được bán cho Google, YouTube đã công
khai mô hình kinh doanh là dựa trên quảng cáo, lợi nhuận 15 triệu dollar một
năm. Một vài nhà bình luận công nghiệp suy đoán rằng chi phí hoạt động của
YouTube đặc biệt là chi phí cho băng thông có thể lên tới 5 đến 6 triệu USD
mỗi tháng, do đó những đã có những lời chỉ trích rằng công ty, giống như
nhiều công ty Internet mới khởi nghiệp, không có một mô hình kinh doanh
được thực hiện hiệu quả. Trang web bắt đầu quảng cáo vào tháng 3 năm 2006.
1.3.3 Những điều thú vị về Youtube

33

- YouTube có nguồn gốc là một trang web hẹn hò : Bộ ba sáng lập đã không đưa

ra khái niệm YouTube ngay lập tức. YouTube bắt đầu như một trang web hẹn
hò được gọi là “Tune in hook up”.
- Video đầu tiên của YouTube quay cảnh chuồng voi: Video đầu tiên được đăng
tải lên YouTube được quay bởi Yakov Lapitsky ở vườn thú San Diego, Mỹ,
quay người sáng lập Jawea Karim đang đứng trước chuồng voi. Video này có
tên là ‘Me at the Zoo’ (‘Tôi tại sở thú’), được upload bởi Jawed Karim nó
được đăng tải vào ngày 23.4.2005, thu hút 4.282.497 lượt xem.
- YouTube gây ra vấn đề cho Utube: Tên miền YouTube được đăng ký vào ngày

Valentine năm 2005. Điều này gây ra sự hiểu lầm rất lớn cho Universal Tube
& Rollform có trụ sở tại Perrysburg, Ohio có tên miền “Utube.com”, và để
tránh nhầm lẫn họ phải đổi tên miền của mình thành “Utubeonline.com”.
- Tháng 11 năm 2006, Google mua lại quyền sở hữu Youtube với giá 1.65 tỉ
USD, tương đương với giá của 5 chiếc máy bay chở khách lớn nhất hiện nay,
A380 của Airbus.
- Tính đến thời điểm hiện tại, theo thống kê của Alexa, dịch vụ đánh giá website
dựa theo lượng truy cập, Youtube là website đứng thứ 3 toàn cầu, chỉ sau
Google và Facebook.
- Nữ ca sĩ Lady Gaga là người đầu tiên được 1 tỷ lượt xem cho tất cả những
video của mình.
- Mỹ, Nhật Bản, Đức, Ấn Độ và Anh là 5 quốc gia có lượng người truy cập
Youtube lớn nhất. 22.6% lượt truy cập Youtube đến từ Mỹ, 6.7% đến từ Nhật
Bản, 4.9% đến từ Đức và 4.8% đến từ Ấn Độ và 3.9% lượt truy cập đến từ
Anh.
- Ngày nay, các hãng công nghệ, truyền thông… đều có kênh riêng trên Youtube
để quảng cáo cho sản phẩm của mình, trong đó bao gồm cả Google,
Microsoft, Yahoo, Disney…
- Trung bình, mỗi ngày Youtube có đến 2 tỉ lượt xem. Gần gấp đôi lượng người

xem của các toàn bộ các kênh truyền hình tại Mỹ cộng lại.
- Youtube chiếm đến 10% lưu lượng truyền tài qua Internet của toàn thế giới,
nghĩa là cứ 10 người sử dụng Internet trên toàn thế giới thì có 1 người truy
cập Youtube.
- Thời gian trung bình mà mỗi người dùng Internet bỏ ra để truy cập Youtube
mỗi ngày là 900 giây (15 phút).
34

- Độ dài trung bình của mỗi đoạn video trên Youtube là 2 phút 43.17 giây.
- Trên toàn thế giới mỗi phút trung bình có 72 giờ video được upload lên trang

YouTube.
- Mỗi phút, tổng độ dài của toàn bộ các video được upload là 24 giờ.
- Để xem toàn bộ video được upload lên Youtube, ta sẽ phải mất… 1 ngàn 700

năm.
- Số liệu về YouTube: Tính đến tháng 2 năm 2011, YouTube có 490 triệu người

sử dụng mỗi tháng trên thế giới, và khoảng 92 tỷ lượt xem mỗi tháng. Một
tháng chúng ta sử dụng 2,9 tỷ giờ trên Youtube - tính ra là hơn 325.000 năm.
Và những con số đó là chỉ tính trên trang chủ YouTube, chưa tính những
video được nhúng vào các trang khác hay những video xem trên điện thoại.
- Số liệu xã hội về YouTube: Số liệu xã hội của Youtube thực sự ấn tượng. Có

khoảng 400 tweet mỗi phút chứa 1 link YouTube. Còn trên Facebook, mỗi
ngày tổng độ dài thời gian các video YouTube được xem là hơn 150 năm.
- Video được xem nhiều nhất, được ưa thích nhất và có số Like nhiều nhất:

Không tính các video nhạc (vì liên quan đến vi phạm bản quyền), video được
xem nhiều nhất là "Charlie bit my finger", với lượt xem đáng kinh ngạc là
282,151,886. Nếu tính cả video nhạc thì video được xem nhiều nhất là "Baby"
của Justin Beiber với 466 triệu lượt xem.

35

Chương 2 : KHẢO SÁT, PHÂN TÍCH VÀ THIẾT KẾ CHO CHƯƠNG
TRÌNH YOUTUBE DOWNLOAD
2.1

Phân tích thiết kế cho ứng dụng

2.1.1 Mô tả yêu cầu hệ thống
Yêu cầu xây dựng một ứng dụng cho phép tìm kiếm video, xem thông tin
liên quan đến video đó và thực hiện download video đó về điện thoại.
Người sử dụng dùng điên thoại di động, sử dụng ứng dụng và dùng mạng
internet để truy cập vào trang web youtube.com và lấy các thông tin cần thiết.
Quá trình được thực hiện như sau:
Người sử dụng dùng phần mềm tìm kiếm video bằng từ khóa. Chương trình
trả về cho người sử dụng các kết quả liên quan đến từ khóa mà người dùng vừa
nhập. Sau đó người dùng có thể xem trước thông tin của video đó xem có phù
hợp với video mà mình cần download hay không. Trước khi download người
dùng cần xác định nơi lưu trữ cho video cần tải. Sau đó hệ thống sẽ yêu cầu
người dùng chọn định dạng cho video (.mp4, .avi,.flv…) để thực hiện quá trình
download. Ngoài ra chương trình còn có thể cho phép người dùng download
nhiều video khác nhau. Video nào có độ ưu tiên thấp hơn sẽ phải chờ cho video
trước hoàn thành quá trình download.
2.1.2 Các biểu đồ
a)

Biểu đồ use case
Khái niệm Use case được Ivar Jacobson đề xuất vào năm 1994 khi làm

việc cho hãng Eriction. Use case mô tả ai đó sử dụng hệ thống như thế nào, mô
tả tương tác giữa người sử dụng với hệ thống phần mềm để thực hiện các thao
tác giải quyết công việc cụ thể nào đó. Use case không cho biết hệ thống làm
việc bên trong như thế nào. Nó không phải là thiết kế, cũng không phải là kế
hoạch cài đặt, nó là một phần của vấn đề cần giải quyết. tiến trình của hệ thống

36

được chia nhỏ thành các Use case để có thể nhận ra từng bộ phận của nó một
cách rõ ràng và để nhiều người có thể cùng xử lý. Use case là nền tảng của phân
tích hệ thống. Việc tìm ra đầy đủ các Use case đảm bảo rằng hệ thống sẽ xây
dựng đáp ứng mọi nhu cầu của người sử dụng. Mỗi Use case là tập hành động,
mỗi hành động là cái gì đó mà hệ thống làm, nó là hạt nhân được hệ thống thực
hiện hoàn toàn hay không được thực hiện phần nào.
Mục tiêu xây dựng UC trong tiến trình phát triển hệ thống phần mềm được
tóm tắt như sau:
 Hình thành quyết định và mô tả yêu cầu chức năng hệ thống. Là kết quả

của thỏa thuận giữa khách hàng và người phát triển hệ thống phần mềm.
 Cho phép mô tả rõ ràng và nhất quán cái hệ thống sẽ làm, sao cho mô

hình có khả năng được sử dụng xuyên suốt quá trình phát triển.
 Cung cấp cơ sở để kiểm tra, thử nghiệm hệ thống.
 Cho khả năng dễ thay đổi hay mở rộng yêu cầu hệ thống.
Thông thuờng thì việc xác định và hiểu rõ các yêu cầu hệ thống là rất khó
vì khối lượng thông tin liên quan khổng lồ. Do vậy, các yêu cầu sẽ được mô tả
một cách lộn xộn không cấu trúc , mâu thuẫn với nhau, thiếu nhiều vấn đề quan
trọng, không chính xác… Kết quả của nó có được là tập yêu cầu mờ, rất khó
thay đổi. khái niệm Use case đưa ra để tập trung vào biểu thị các yêu cầu từ
phía người ứng dụng, xuất phát từ quan điểm đơn giản là hệ thống được xây
dựng trước hết là cho người sử dụng chúng.
b)

Biểu đồ tương tác (interaction diagram):
Được sử dụng trong UML để mô hình hóa khía cạnh động của hệ thống

(hệ thống đang chạy). Biểu đồ tương tác chỉ ra một tương tác, bao gồm tập đối
tượng, quan hệ và các thông điệp trao đổi giữa chúng. Biểu đồ này chỉ ra từng
bước của một luồng điều khiển cụ thể trong Use case. UML có hai loại biểu đồ
tuơng tác, đó là biểu đồ trình tự và biểu đồ cộng tác. Biểu đồ trình tự theo trật tự
thời gian, biểu đồ cộng tác chỉ ra cùng loại thông tin nhưng có cách tổ chức
khác. Trong khi biểu đồ trình tự tập trung vào điều khiển thì biểu đồ cộng tác
37