Tải bản đầy đủ
Bảng 2.8: Tổng hợp ý kiến đánh giá về công tác đăng ký và cấp GCN

Bảng 2.8: Tổng hợp ý kiến đánh giá về công tác đăng ký và cấp GCN

Tải bản đầy đủ

thu này có thể lên đến 50 - 70% tiền sử dụng đất và được chi tiêu khá tuỳ tiện.
* Công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo
a. Công tác thanh tra việc chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý, sử
dụng đất
Kể từ khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành đến nay, công tác
thanh tra việc chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý, sử dụng đất được thực
hiện thường xuyên và kịp thời góp phần tạo điều kiện thuận lợi để tăng cường
công tác quản lý đất đai.
Tình hình vi phạm pháp luật trong quản lý sử dụng đất của các hộ gia
đình, cá nhân, doanh nghiệp trên địa bàn xã Yên Thắng có số lượng giảm qua
3 năm gần đây, từ 21 vụ vi phạm năm 2010 giảm xuống 9 vụ vi phạm năm
2013. Điều đó cho thấy, xã đã tích cực kiểm tra, phát hiện các sai phạm để xử
lý.
b. Công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại tố cáo các vi phạm trong
quản lý và sử dụng đất đai
Do có một thời gian dài buông lỏng quản lý Nhà nước về đất đai, hệ
thống pháp luật đất đai chưa đồng bộ, các văn bản hướng dẫn thi hành luật
chưa kịp thời. Trong khi đó nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng nhanh nên đã
để lại cho xã một khối lượng lớn các đơn thư khiếu nại, tranh chấp, tố cáo vi
phạm trong quản lý và sử dụng đất đai. Tuy nhiên cho đến nay đã được các
cấp các ngành đã tích cực giải quyết, đảm bảo đúng pháp luật và được nhân
dân đồng tình chấp nhận.
Trong những năm gần đây, được sự chỉ đạo kịp thời của UBND các cấp
và sự tham mưu của các ngành chức năng nên Luật Đất đai thực sự đi vào cuộc
sống. Số lượng các vụ tranh chấp, khiếu nại kéo dài về đất đai đã giảm đi rõ rệt.
Tuy nhiên vẫn tồn tại một số vụ trong nhiều năm chưa được xử lý, trong thời
gian tới cần có sự phối kết hợp giữa các cấp, các ngành để giải quyết dứt điểm.

33

2.3.4 Đánh giá chung về công tác quản lý Nhà nước về đất đai ở xã Yên
Thắng
2.3.4.1 Những kết quả đạt được trong công tác QLNN về đất đai
Thứ nhất, cán bộ máy quản lý Nhà nước về đất đai hiện nay của xã không
ngừng được tăng cường và hoàn thiện, về chuyên môn phục vụ công tác quản lý
Nhà nước về đất đai đạt yêu cầu về QLNN.
Thứ hai, Các văn bản pháp quy phạm pháp luật được ban hành kịp thời
đó tháo gỡ được nhiều vướng mắc trong công tác giao đất, cho thuê đất, bồi
thường GPMB, xử lý cấp GCN QSDĐ.... Các hình thức tuyên truyền được sử
dụng đa dạng, dễ tiếp thu. Hàng năm, đó tổ chức phổ biến và giải đáp, tư vấn
pháp luật cho cán bộ thôn xóm và nhân dân trên địa bàn. Nhờ đẩy mạnh công
tác tuyên truyền nên các quy định của pháp luật dần được đưa vào cuộc sống,
ý thức chấp hành pháp luật được nâng lên, hạn chế các vi phạm trong quản lý,
sử dụng đất.
Thứ ba, Công tác thống kê đất được thực hiện đều đặn, đầy đủ hàng
năm theo luật định. Số liệu được cập nhật hàng năm, phản ánh tình hình sử
dụng đất và biến động quỹ đất, phục vụ hoạch định các chính sách phát triển
kinh tế xã hội trên địa bàn.
Thứ tư, xã Yên Thắng đã và đang không ngừng thực hiện các mục tiêu
đề ra trong quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất đầu kỳ
2011-2015 đã được UBND huyện phê duyệt.
Thứ năm, xã Yên Thắng đã sớm hoàn thành việc giao đất nông nghiệp
cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định theo nghị định 64 NĐ/CP của Chính
phủ. Tổ chức quản lý chặt chẽ quỹ đất công ích theo đúng quy định.
Thứ sáu, Hàng năm, Tỉnh đã ban hành bảng giá đất, là căn cứ cho xã thu
tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thu thuế chuyền quyền sử dụng đất, bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất. Việc quản lý các nguồn thu từ đất cũng được quan tâm,
các khoản thu được đưa vào ngân sách.
Thứ bảy, xã thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra nhằm chấn chỉnh

34

các tồn tại về quản lý đất đai. Phân loại đơn thư khiếu nại về đất đai, trả lời
kịp thời cho người giải quyết theo thẩm quyền.
2.3.4.2 Những việc chưa làm được trong công tác QLNN về đất đai
Tuy đạt được một số thành tựu quan trọng thể hiện bước phát triển
vững mạnh, liên tục theo thời gian, nhưng QLNN về đất đai của xã trong thời
gian qua cũng có nhiều mặt yếu kém, công tác quản lý còn một số mặt hạn
chế:
Thứ nhất, Quản lý nhà nước về đất đai chưa theo chương trình, kế hoạch cụ
thể mà chủ yếu là chạy theo sự vụ và cán bộ địa chính phường còn phải kiêm nhiệm
nhiều việc nên đã tạo áp lực lớn về công việc, dẫn đến hiệu quả chưa cao. Thu nhập
của cán bộ công chức còn hạn chế, ít có cơ hội thăng tiến, khẳng định mình hơn nữa
trong công việc.
Thứ hai, các thủ tục hành chính hiện nay vẫn còn hết sức rườm rà, phức
tạp gây cản trở các quan hệ đất đai trong xã hội, cản trở người sử dụng đất
khai thác sử dụng đất có hiệu quả để phát triển kinh tế.
Thứ ba, ciệc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xây dựng hồ sơ
địa chính còn chậm, ảnh hưởng đến quyền của người sử dụng đất và công tác
quản lý đất đai.
Thứ tư, cơ chế quản lý tài chính về đất vẫn còn mang tính hành chính,
bao cấp, chưa tạo ra một khuôn khổ pháp lý cần thiết để các quan hệ về đất
đai vận hành theo cơ chế thị trường, chưa tạo động lực trong việc khai thác
tiềm năng đất đai cũng như chưa đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ thể sử
dụng đất thuộc các thành phần kinh tế.
Thứ năm, công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng và tái định
cư thời gian qua chưa phức tạp, tuy nhiên, cũng đó bộc lộ nhiều hạn chế như:
việc áp giá đền bù về đất còn tuỳ tiện; thời gian kéo dài, nhất là dự án có tái
định cư; vẫn còn tình trạng vi phạm pháp luật của cán bộ làm công tác
GPMB.

35

Thứ sáu, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, trong thời gian qua, các
cấp đó có nhiều cố gắng trong khâu giải quyết. Tuy nhiên, về số lượng có
giảm nhưng mức độ phức tạp lại có xu hướng tăng.
2.3.5 Nguyên nhân những tồn tại về QLNN về đất đai của xã Yên Thắng
Thứ nhất, chính sách đất đai thay đổi qua nhiều thời kỳ, việc quản lý
đất đai theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện đất
đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất
quản lý nhưng lại trao cho người sử dụng đất nhiều quyền, quyền sử dụng đất
là hàng hóa đặc biệt cũng đặt ra nhiều vấn đề mới, trong khi chúng ta còn
thiếu kinh nghiệm. Mặt khác, công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để làm rõ
cơ sở lý luận còn hạn chế, chưa kịp thời.
Thứ hai, Đối với cấp xã, chỉ có 1 công chức địa chính - xây dựng,
nhưng có đủ các nhiệm vụ thuộc lĩnh vực mới trên cùng với lĩnh vực xây
dựng, có xã còn kiêm luôn cả giao thông và thuỷ lợi. Việc bổ sung thêm nhiều
chức năng nhiệm vụ nhưng nhân lực, khối lượng công việc quá nhiều không
được bổ sung tương xứng do số lượng cán bộ bị khống chế bởi số lượng biên
chế, điều đó làm ảnh hưởng rất lớn đến thực hiện nhiệm vụ quản lý đất đai.
Bên cạnh đó, chế độ lương thưởng chưa thực sự là công cụ khuyến khích
công chức nhiệt tình làm việc
Thứ ba, pháp luật về đất đai còn một số nội dung chưa đủ rõ, chưa phù
hợp; các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai được ban hành nhiều nhưng
còn thiếu đồng bộ, có mặt còn chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu thống nhất giữa
pháp luật đất đai với các pháp luật khác. Trong những năm qua, Luật Đất đai
đã qua 3 lần ban hành mới và nhiều lần sửa đổi, đi theo đó là hàng ngàn văn
bản pháp quy được ban hành, đây là lĩnh vực đứng đầu về mức độ thay đổi
chính sách. Việc thay đổi liên tục về chính sách đã gây khó khăn trong thực
thi và gây bất ổn xã hội, thể hiện: một là, các văn bản ban hành liên tục với
khối lượng đồ sộ đó làm cho ngay cả cán bộ chuyên môn cũng không nắm bắt

36

kịp chứ chưa nói đến hiểu biết pháp luật của người dân; hai là, việc thực thi
Luật ở cơ sở bao giờ cũng có độ trễ, do việc chậm ban hành các văn bản dưới
luật, thêm vào đó là tâm lý cấp dưới chờ văn bản của cấp trên (kể cả trong
trường hợp Luật đó quy định cụ thể, có thể áp dụng ngay), vì vậy Luật sửa đổi
nhiều thì thời gian lãng phí cũng lớn; ba là, việc thay đổi chính sách dễ tạo ra
sự bất công bằng trong xã hội (xử lý các tồn tại về đất đai trong thời gian qua
có xu hướng là người không chấp hành pháp luật thì thường có lợi hơn), là
nguyên nhân dẫn đến khiếu kiện và tạo ra hiệu ứng “nhờn” luật pháp.
Thủ tục hành chính còn rườm rà, QLNN về đất đai luôn đi kèm là các
quyết định cấp GCN QSDĐ, quyết định thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cho
phép chuyển mục đích SDĐ, gia hạn SDĐ, quyết định xử phạt hành chính,
giải quyết tranh chấp, thừa kế, thế chấp..., cơ chế giám sát nhằm bảo đảm các
quyết định này phải đúng thẩm quyền, phù hợp quy hoạch, đúng mục đích sử
dụng, đúng đối tượng SDĐ, các quy định về môi trường, về giá cả còn thiếu
chặt chẽ dễ tạo điều kiện cho tham nhũng hoặc lãng phí. Hậu quả là quyền lợi
từ đất đai được phân chia trái pháp luật, gây thất thoát cho Nhà nước, tạo lợi
ích cho người ra quyết định và những người thân quen được hưởng lợi từ các
quyết định hành chính này.
Thứ tư, việc tổ chức thực thi luật tại địa phương chưa tốt. Các quy định
của nhà nước về thủ tục hành chính đã phức tạp, rườm rà, nhưng khi về thực
hiện tại địa phương lại còn rườm rà hơn nữa. Tại phòng TN&MT, các phòng
chuyên môn vẫn đang thực hiện quy trình hồ sơ theo Luật Đất đai 2003 trong
việc giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các
cấp, các ngành còn kém, chưa thực hiện theo quy trình luân chuyển hồ sơ khi
giải quyết các thủ tục hành chính về đất đai. Vẫn còn nhiều ý kiến và con dấu
của các cấp, các ngành trong hồ sơ xin giao đất.
Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật chưa thực sự tốt, chưa phát huy
hết tinh thần làm chủ cũng như sức mạnh khối đại đoàn kết của các tổ chức

37

như: Mặt trận tổ quốc, công đoàn, phụ nữ, đoàn thanh niên... cũng như đông
đảo quần chúng nhân dân, DN tham gia vào quá trình xây dựng quy hoạch, kế
hoạch QLĐĐ và giám sát thực hiện QLNN về đất đai. Công tác thông tin
tuyên truyền, giáo dục pháp luật còn hình thức, công khai quy hoạch, lấy ý
kiến đóng góp của người dân, DN còn mang tính hình thức đối phó.
Thứ năm, các điều kiện vật chất kỹ thuật cần thiết phục vụ cho công tác
quản lý đất đai chưa đảm bảo, các điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật có ảnh
hưởng quyết định đến hiệu quả quản lý. Các điều kiện đó bao gồm: các loại tài
liệu bản đồ như bản đồ địa chính, bản đồ đất, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản
đồ quy hoạch sử dụng đất; các loại hồ sơ địa chính; hồ sơ pháp lý; các thiết bị
công nghệ như máy tính, thiết bị đo đạc, các phần mềm chuyên dụng...
Việc áp dụng công nghệ tin học trong quản lý còn rất thấp. Nếu có sự
trợ giúp của công nghệ tin học sẽ làm cho khối lượng công việc của cán bộ
chuyên môn giảm đi đáng kể.
2.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn
xã Yên Thắng
2.4.1 Mục tiêu quản lý nhà nước về đất đai đối với xã Yên Thắng
Đất đai là tiền đề cho mọi hoạt động phát triển kinh tế - xã hội và đời
sống nhân dân, đảm bảo quốc phòng, an ninh… Vì vậy việc khai thác sử dụng
đất phải luôn phù hợp và gắn liền với định hướng phát triển kinh tế - xã hội
của thành phố. Phải phát huy được nguồn lực, lợi thế của các địa phương trên
cơ sở, điều kiện cụ thể của đất đai, đồng thời phải phù hợp với chiến lược
phát triển chung của tỉnh và vùng. Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của
UBND xã được quy định theo Luật tổ chức HĐND và UBND các cấp; Luật
đất đai năm 2003; các chỉ tiêu phát triển KT- XH của xã. Chuyên đề đề xuất
các mục tiêu chủ yếu cho QLNN về đất đai trong thời gian tới như sau:
- Khai thác triệt để và phát huy nguồn lực đất đai hiện có của xã, xây

38

dựng xã nông thôn mới đảm bảo nguyên tắc sử dụng đất đúng mục đích, phù
hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội, đảm bảo phát triển bền vững.
- Dành quỹ đất thoả đáng, đúng vị trí cần thiết để xây dựng và phát triển
các khu công nghiệp, thương mại dịch vụ… để sử dụng có hiệu quả cơ sở hạ
tầng kỹ thuật như giao thông, điện, nước, và các công trình phúc lợi xã hội.
- Đưa pháp luật đất đai vào cuộc sống, phát huy nguồn lực đất đai trong
tiến trình đô thị hoá, hiện đại hoá; khắc phục có hiệu quả những yếu kém
trong công tác QLĐĐ; tăng cường thanh tra kiểm tra, xử lý nhằm đưa công
tác QLĐĐ ngày càng đi vào trật tự, kỷ cương, nền nếp, tiến tới xây dựng hình
ảnh mới về chính quyền thân thiện.
- Giải quyết các vướng mắc, bất cập trong quản lý, sử dụng đất đai,
giảm các khiếu kiện về đất đai.
- Nâng cao năng lực, phẩm chất đội ngũ cán bộ làm công tác QLĐĐ;
đổi mới QLNN về đất đai theo kế hoạch, mục tiêu cụ thể.
- Mỗi thửa đất đều có chủ và đều được quản lý chặt chẽ. Đảm bảo các
quyền cho người sử dụng đất, tạo điều kiện tối đa cho việc thực hiện các
quyền đó. Từng bước thiết lập và vận hành có hiệu quả thị trường quyền sử
dụng đất.
2.4.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai ở xã Yên
Thắng
Trên cơ sở các đánh giá về kết quả QLNN về đất đai của xã, các mục
tiêu QLĐĐ đã đề xuất. Chuyên đề đưa ra một số giải pháp hoàn thiện QLNN
về đất đai của xã như sau:
2.4.2.1 Các giải pháp về tổ chức, hành chính
a. Tăng cường quản lý cán bộ và kiện toàn bộ máy nhà nước
Xã cần có những biện pháp làm thay đổi nhận thức của công chức
thực hiện QLNN về đất đai. Thực hiện khen thưởng kịp thời, kỷ luật nghiêm
minh, xử lý những trường hợp cán bộ có vi phạm và kiên quyết đưa ra khỏi hệ
thống quản lý những cán bộ, đảng viên không đủ tư cách, phẩm chất, trình độ.
Và công bố rộng rãi cho mọi người biết để phấn đấu, đánh giá, kiểm tra.

39