Tải bản đầy đủ
PHẦN II: NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ

PHẦN II: NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ

Tải bản đầy đủ

Nằm hoàn toàn trong vùng đồng bằng sông Hồng, nên địa hình Xã Yên
Thắng tương đối bằng phẳng, hầu hết diện tích đất trong toàn xã đều có độ
dốc nhỏ hơn 30 có xu hướng dốc từ bắc xuống nam, do đó khả năng thoát
nước của xã tương đối tốt.
Nhìn chung địa hình xã Yên Thắng thuận lợi cho việc phát triển giao
thông, xây dựng cơ sở hạ tầng , đặc biệt là hệ thống thủy lợi đáp ứng cho việc
tưới tiêu, chủ động cho các khu ruộng, tạo ra những vùng chuyên canh lúa,
chất lượng cao và phát triển cây rau mầu, cây công nghiệp, góp phàn tăng thu
nhập trên một đơn vị diện tích
* Đặc điểm khí hậu, thủy văn
Tỉnh Nam Định nói chung và xã Yên Thắng nói riêng nằm trong vùng
khí hậu nhiệt đới gió mùa, do vậy khí hậu được chia làm hai mùa rõ rệt.
- Mùa khô lạnh: Bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 4 năm sau,
với lượng mưa/ tháng biến động từ 2,5 đến 32,9mm. Nhiệt độ trung bình
tháng từ 170- 240C.
- Mùa mưa: Nắng nóng bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10. Nhiệt độ từ
26,20C- 30,70C, lượng mưa/tháng từ 106mm (tháng 10) đến 614,4mm (tháng
6) lượng mưa trong các tháng mùa mưa chiếm 93,18% tổng lượng mưa cả
năm.
- Độ ẩm không khí trung bình năm là 78% trong dó tháng có độ ẩm
không khí lớn nhất là 86% (tháng 3), tháng có độ ẩm không khí thấp nhất là
70% (tháng 12).
Nhìn chung Yên Thắng nằm trong vùng khí hậu thuận lợi cho phát triển
nền nông nghiệp đa dạng phong phú. Tuy nhiên vào cá tháng mùa hạ đôi khi
bị ảnh hưởng của gió bão, kèm theo mưa lớn kéo dài, gây ra tình trạng ngập

5

úng cục bộ cho một số khu vực trũng của xã, gây ảnh hưởng đến sản xuất
nông nghiệp.
Trên địa bàn xã có hệ thống sông Sắt chảy qua và hệ thống thủy nông,
kênh mương nội đồng, ao hồ phân bố tương đối thuận lợi cho việc tưới tiêu và
thoát nước thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và phục vụ đời sống sinh hoạt
của nhân dân.
Nguồn nước cung cấp cho sản xuât nông nghiệp và nước sinh hoạt của
xã chủ yếu được cung cấp bởi hệ thống sông tự nhiên và hệ thống kênh
mương thủy nông. Ngoài ra trên địa bàn xã còn có các ao, giếng khoan của
nhân dân cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân.
* Đặc điểm tài nguyên thiên nhiên
a. Tài nguyên đất
Theo kết quả điều tra xây dựng bản đồ thổ nhưỡng huyện Ý Yên tỷ lệ
1/10.000, tróng đó xã Yên Thắng có 2 nhóm đất và 4 đơn vị đất cấp III (Soil
sub units).
* Nhóm đất phù sa (Fluvisols -FL
Căn cứ vào chỉ tiêu phân loại đất cấp II và cấp II, nhóm đất phù sa
được phân thành đơn vị đất cấp II (Soil units) và đơn vị đất cấp II )Soil sulb
units).
Phân loại đất cấp II phù sa được vận dụng tiêu chuẩn V% và pH. Khi V
% cao hơn 50% và PH> 5 thì xếp vào đất phù sa trung tính ít chua, khi V%
dưới 50% vào pH< 5 thì sếp vào đất phù sa chua.
- Đất phù sa trung tính ít chua
+ Đất phù sa trung tính ít chua điển hình -ph: Diện tích 68,50ha chiếm
13,41% diện tích tự nhiên.
+ Đất phù sa trung tính ít chua có tầng đóm rỉ glaay nông P-rgl: Diện
tích 145,5ha, chiếm 28,49% diện tích tự nhiên.
+ Đất phù sa chua có tầng đốm rỉ glaay nông Pc -rgl: Diện tích 254,4

6

ha, chiếm 49,81% diện tích tự nhiên.
* Nhóm đất Glay
- Đất Glay chua: Diện tích 42,31 ha chiếm 8,28% diện tích tự nhiên
b. Tài nguyên nước
- Nguồn nước mặt: do hệ thống sông, mương máng và nguồn nước mưa
cung cấp.
+ Nguồn nước sông: Do các sông lớn như sông Sắt và mạng lưới sôn
nội đồng cung cấp do vậy nguồn nước tưới cho cây trồng và sinh hoạt rất
phong phú.
+ Nước mưa: Lượng mưa bình quân hàng năm lớn từ 1400 - 1500 mm,
nhưng phân bố không đều trong năm, tập trung vào các tháng 7,8,9 lượng
mưa chiếm gần 80% lượng mưa cả năm.
- Nguồn nước ngầm: Khai thác phổ biến ở độ sâu 40 -120m, ngoiaf ra
còn phát hiện một số tầng nước ngầm ở độ sâu từ 250 - 350 m, nước có trữ
lượng lớn có thể khai thác phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp.
c. Tài nguyên nhân văn
Theo thống kê dân số xã Yên Thắng năm 2014 dân số của xã là hơn 13
nghìn dân, mật độ 1265 người/1Km 2. Dân số của xã phân bố tương đối đồng
đều trên địa bàn toàn xã, tập trung tại các thôn, xóm và dọc các tuyến đường
giao thông.
Với nguồn lực nhân văn con người, với bản chất cần cù chịu khó, thông
minh sáng tạo tạo nên một xã phát triển về mọi mặt, góp phần đáng kể cho
kinh tế, văn hóa của huyện.
* Môi trường sinh thái:
Yên Thắng những năm gần đây đã có nhiều chuyển biến, đổi mới tích
cực do nền kinh tế thị trường phát triển, vì thế hệ thống cơ sở hạ tầng được
đầu tư xây dựng kiên cố. Hệ thống giao thông nông htoon đã cơ bản hoàn
thiện (bê tông hóa đường làng, ngõ, xóm) >70%, cơ bản kiên cố Điện Đường -Trường -Trạm. Song tình hình môi trường sinh thái ảnh hưởng có xu
hướng gia tăng nhất là ô nhiễm đất, ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí. Hiện

7

trạng môi trường đã và đang ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Do đó việc
quy hoạch sử dụng đất cũng cần chú ý tới bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn
nước cho các khu dân cư trong toàn xã.
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Phát triển kinh tế
Thực hiện chính sách đổi mới trong cơ chế quản lý kinh tế, trong những
năm qua Đảng bộ và chính quyền xã đã có chỉ đạo nhân dân thực hiện tốt việc
chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường.
Nhờ đó mà tốc độ tăng trưởng kinh tế đã có chuyển biến mạnh mẽ. Tốc độ
tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 11% năm. Tổng giá trị sản phẩm trên địa
bàn xã ước đạt 55 tỷ đồng. Bình quân thu nhập đầu người 7 triệu đồng. Cơ
cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tỷ lệ nông nghiệp, tăng tỷ
trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, cụ thể:
Năm 2014 cơ cấu kinh tế xã là:
- Nông nghiệp chăn nuôi 64 %.
- Tiểu thủ công nghiệp 18%
- Thương mại dịch vụ 18%.
a. Sản xuất nông nghiệp:
- Về trồng trọt:
+ Vụ chiêm xuân: Tổng diện tích gieo trồng 580 ha, diện tích lúa 396
ha, sản lượng 21400 tấn, cây lạc diện tích 184 ha sản lượng 6414 tấn. Cây
màu khác 84 ha với sự cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất nhân dân trong
xã tích cực áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, bố trí giống cây trồng hợp
lý.
+ Vụ mùa: Diện tích gieo trồng 577 ha, diện tích lúa 528 ha sản lượng
21433 tấn, cây lạc mùa 44 ha, sản lượng 836 tấn.

8

- Về chăn nuôi: Nghề chăn nuôi gia sác, gia cầm và nuôi trồng thủy sản
trong nhân dân phát triển, nhiều hộ gia đình đã áp dụng chăn nuôi theo
phương pháp công nghiệp. Tổng số đàn gia súc, gia cầm trong xã gồm: 457
con trân bò, 15321 con lợn, công tác thú y được tiêm phòng 2 đợt trong năm.
Như vậy tổng giá trị thu từ sản xuất nông nghiệp ước đạt 35 tỷ đồng
chiếm 64% tổng giá trị sản phẩm.
b. Sản xuất tiểu thủ công nghiệp: Cùng với sự phát triển của nền kinh tế
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa sản xuất tiểu thủ công nghiệp của
đại phương cũng tiếp tục phát triển do một số hộ gia đình đã mạnh dạn đầu tư
máy móc cho sản xuất, dịch vụ nông nghiệp. Ngành nghề truyền thống của
đại phương như thợ xây, thợ mộc, nứa chắp, đan len được duy trì phát triển
đáp ứng được nhu cầu của thị trường.
Tổng giá trị thu được từ tiểu thủ công nghiệp đạt 10 tỷ đồng chiếm 18%
tổng giá trị sản phẩm.
c. Ngành thương mại - dịch vụ:
Trong những năm qua ngành nghề thương mại -dịch vụ đã phát triển
mạnh mẽ khai thác được lợi thế của cơ chế thị trường, đme lại thu nhập đáng
kể cho kinh tế hộ gia đình. Một số hộ kinh doanh thương mại đáp ứng nhu
cầu phục vụ sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân trong xã, trong
huyện và cá vùng lân cận trong huyện.
Tổng giá trị thu được từ thương mại dịch vụ đạt 10 tỷ đồng.
2.1.2.2 Tình hình dân số, lao động, việc làm và thu nhập
Toàn xã có 10.958 nhân khẩu thường trú, trong đó khẩu nông nghiệp là
8500 người, khẩu phi nông nghiệp là 2458 người. Toàn xã có 3128 hộ gia
đình với 100% các hộ xây nhà mái ngói và nhà kiên cố.
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của xã giảm xuống còn 1,2%.
Mật độ dân số là 1265 người/Km2.

9

Tổng số lao động trong độ tuổi là 6500 người. Chiếm 59,32% tổng số
dân, đây chủ yếu là lao động nông nghiệp, lao động phổ thông và công nhân
viên chức Nhà nước. Do đó trong những năm tới cần có giải pháp đào tạo
nâng cao trình độ lao động nhằm đáp ứng nhu cầu lao động của địa phương
trong những lúc nông nhàn, đồng thời đáp ứng lao động cho thị trường bên
ngoài.
Thu nhập: Tổng thu nhập toàn xã 65 tỷ, thu nhập bình quân đầu người
6,5 đến 7 triệu đồng.
2.1.2.3 Thực trạng phát triển dân cư
Hiện tại dân cư của xã là dân cư nông thôn, được tập trung tại 17 khu
dân cư và được trải đều trên toàn xã.
Trong 5 năm qua với sự phát triển kinh tế gia đình và nhu cầu nhà ở
của các hộ dân ở các khu dân cư, các thôn ngày càng được mở rộng. Xã đã
thực hiện quy hoạch và tổ chức đấu thầu nhiều điểm dân cư sống tập trung
nhằm đáp ứng nhu cầu về nhà ở.
Trong kế hoạch những năm tới, xã dự kiến quy hoạch và thực hiện 11
điểm dân cư tập trung và các điểm dân cư nhỏ lẻ trong khu dân cư.
2.1.2.4 Thực trạng phát triển hạ tầng cơ sở
Cùng với sự phát triển các điểm dân cư tập trung, các điểm đất dịch vụ
sản xuất kinh doanh thì xã cũng rất chú trọng đến phát triển hạ tầng cơ sở như
đường, trường, trạm, văn hoá, giáo dục....Cụ thể như sau:
Hệ thống giao thông nội thị của xã đã được nâng cấp, mở rộng và bê
tông hoá 100%. Đường giao thông liên thôn, liên khu, liên xã, liên huyện,
đường tỉnh lộ đã được nâng cấp và mở rộng.
Về trụ sở là việc của UBND xã đã được đầu tư xây dựng nhà 2 tầng
khang trang, đáp ứng được điều kiện làm việc của Đảng, chính quyền, đoàn
thể....

10

Để chăm sóc sức khoẻ của nhân dân, được sự quan tâm của cấp trên và
sự ủng hộ của những người con xã quê đã xây dựng được trạm xá khang trang
sạch, đẹp, đáp ứng được mục tiêu chăm sóc sức khoẻ của nhân dân.
Để không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân trên mọi
lĩnh vực nhất là về giáo dục, văn hoá, thể dục thể thao, UBND xã đã đầu tư
mở rộng các trường học, các nhà văn hoá, bưu điện, đáp ứng nhu cầu học tập,
sinh hoạt văn hoá, thể thao vui chơi giải trí của nhân dân.
2.1.3 Đánh giá chung về tình hình đặc điểm tự nhiên, phát triển kinh
tế - xã hội và môi trường
Xã Yên Thắng có nguồn quỹ đất tương đối lớn, có một vị trí thuận lợi
cho phát triển kinh tế trong khu vực, tuy nhiên cơ cấu thành phần sử dụng đất
hiện nay chưa phù hợp với tốc độ phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông thôn hiện nay và cho tương lai. Những áp lực của tiến trình phát triển
kinh tế của huyện có tác động đến việc khai thác sử dụng và quản lý đất đai
được thể hiện trên các mặt sau đây:
Là một xã có tốc độ đô thị hoá cao, khu trung tâm thương mại, khu dân
cư đô thị được thành lập và phát triển làm cho quỹ đất nông nghiệp ngày một
giảm. Vì vậy nhu cầu sử dụng đất cho phát triển nông nghiệp cần được điều
tiết cho phù hợp, có quy hoạch chi tiết cho các vùng chuyên canh cho sản
lượng cao, chất lượng cao.
Là một xã trung tâm phía nam của huyện có mật độ dân cư khá cao, đất
sản xuất nông nghiệp bình quân đầu người thấp, tốc độ tăng dân số nhanh đòi
hỏi quỹ đất dành cho quy hoạch các điểm dân cư, nhà ở, đất công trình phục
vụ dân sinh cần được mở rộng.
Với tất cả nhu cầu trên đã có tác động gây áp lực lớn đến quản lý, sử
dụng quỹ đất của xã nhất là quỹ đất nông nghiệp, vì tất cả các loại đất cần sử
dụng quy hoạch để sử dụng quỹ đất nông nghiệp là chính.

11

2.1.4 Tình hình quản lý và sử dụng đất
2.1.4.1 Tình hình quản lý
Thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Pháp luật của Nhà
nước về công tác quản lý đất đai, UBND xã đã quan tâm chỉ đạo công tác
quản lý và sử dụng đất một cách hợp pháp, hợp lý và hiệu quả nhất đem lại
kinh tế cao nhất trên diện tích được nhà nước giao.
Trong những năm qua công tác quản lý đất đai có nhiều cố gắng và dần
đi vào nề nếp, trong đó đã đạt được một số kết quả đáng kích lệ.
Về địa giới hành chính đã được xác định và hoạch định mốc lộ giới
theo Chỉ thị 364/CP của Chính phủ, với các xã giáp ranh không có sự tranh
chấp hay biến động.
Công tác xử lý những vướng mắc tồn tại về đất đai theo quyết định của
UBND huyện từng bước ổn định ở địa phương, tạo điều kiện phát triển kinh
tế xã hội.
Công tác đo đạc bản đồ địa chính: Đói với bản đồ địa chính xã đã được
đo đạc lại theo hệ bản đồ số, đến nay đang trong thời gian kiểm tra nghiệm
thu, chưa được bàn giao do vậy ảnh hưởng rất lớn về mặt quản lý và xử lý đất
đai tại địa phương.
Công tác cấp GCN QSD đất những năm qua đã làm thủ tục cấp giấy
chứng nhận cho các hộ đấu giá, chuyển nhượng, chia tách đảm bảo đúng kế
hoạch.
Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện thường xuyên và
được tập trung giải quyết các vụ việc tranh chấp đất đai theo đúng thẩm quyền
đảm bảo tính công bằng, dân chủ và đúng pháp luật.
Thực hiện tốt các quyền của người sử dụng đất như chuyển đổi, chuyển
nhượng, thừa kế, cho tặng và thế chấp theo quy định, luật định của Nhà nước
và đóng góp nghĩa vụ tài chính với nhà nước đầy đủ.

12