Tải bản đầy đủ
Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm.

Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm.

Tải bản đầy đủ

Ở tuổi 16 - 18 hệ thống hô hấp đã phát triển gần đạt trình độ của người
trưởng thành. Tần số hô hấp giảm còn 18 - 19 lần phút do dung tích sống tăng và
VO2 max tăng. Chính nhờ sự tăng lớn của dung tích sống cũng như năng lực hấp
thụ oxy tối đa và năng lực chịu đựng nợ oxy của các em 16 - 18 tuổi được nâng
cao làm cho sức bền ưa khí tăng qua đó góp phần tăng sức mạnh tốc độ của
VĐV.
Do các hoóc môn giới tính phát triển làm cho sự phát triển cơ thể cũng có
nhiều khác biệt giữa nam và nữ, như chu kỳ kinh nguyệt làm ảnh hưởng nhất
định tới hiệu quả huấn luyện phát triển sức bền và các tố chất thể lực khác ...
1.2.2. Đặc điểm tâm lý lứa tuổi 16 - 18.
Về mặt tâm lý, xã hội: Đặc biệt trong xã hội thì cá nhân đó từ một đứa trẻ đã trở
thành một công dân trưởng thành, có đầy đủ mọi quyển hạn, nghĩa vụ và trách
nhiệm của một công dân; là đội ngũ trí thức, nhân lực có trình độ cao, họ sẽ có
những đóng góp lớn và phục vụ cho xã hội.
Đặc điểm phát triển nhâncách
– Tự ý thức: là khả năng cá nhân tự nhận thức về đặc điểm và phẩm chất của
mình trong xã hội. Đặc biệt trong đó là sự đánh giá hình ảnh cơ thể một cách tỉ
mỉ và nghiêm khắc theo những phẩm chất giới tính. à ý thức và mong mu ốn
khám phá về giới tính.
+ Đặc điểm phát triển nhâncách
– Tự đánh giá: biểu hiện ở việc cá nhân tự nhận những nhiệm vụ khó khăn và
cố gắng hoàn thành nó nhưng do hạn chế về kinh nghiệm s ống nên đôi lúc
dẫn đến sự bướng bỉnh, ngang tang đôi khi gây ra ngộ nhận. Mắt khác là vi ệc
cá nhân ngầm so sánh mình với những người xung quanh, đối chiếu ý ki ến
của mình với ý kiến của người khác, muốn biết đánh giá của ng ười khác về
mình.
– Tính tự trọng: yếu tố này phụ thuộc rất nhiều vào tính cách cá nhân, hoàn
cảnh sống cũng như sự đánh giá của những người xung quanh. Nhưng nhìn
chung là có long tự trọng cao song tính phê phán và sự phản tỉnh chưa cao.
– Nghề nghiệp và cuộc sống tương lai: là một mối bận tâm đối với lứa tuổi này.
Tuy nhiên do kinh nghiệm xã hội còn hạn chế, chưa có định hướng rõ ràng và
chịu sự chi phối của nền kinh tế nhiều thành phần, tâm lý đám đông, … khiến ý
thức về nghề nhiệp và cuộc sống tương lai không cố định, bất biến mà lại r ất
năng động phong phú.

7

– Tính tích cực xã hội: l ứa tuổi này có s ự thay đổi và tang c ường vị th ế trong gia
đình, xã h ội. Thanh niên quan t ầm nhi ều h ơn đến tình hình kinh t ế, chính trị, xã
hội thể hiện s ự đánh giá, trao đổi v ới nhau và t ỏ thái độ c ủa mình v ề v ấn đề
đó. Họ sẵn sàng tham gia ho ạt động xã hôi (nh ững công vi ệc l ớn lão, th ử s ức
với khó khan, …) để ch ứng mình bản thân. Khẳng định mình đã tr ưởng thành.
– Hình thành thế giới quan của thanh niên: Sau một quá trình tích l ũy h ệ th ống tri
thức, kỹ năng, l ối s ống, hành vi, … trong nhi ều n ăm t ạo ra cách nhìn nh ận và
lý giải vấn đề của riêng m ỗi cá nhân. Song th ực t ế l ại có nhi ều câu h ỏi v ượt
qua khả năng của họ, gặp trường hợp này thanh niên thường hoang mang,
lúng túng, thất vọng, thậm chí là tuy ệt v ọng.
– Đời sống xúc cảm, tình cảm: của l ứa tuổi này r ất phong phú và đa d ạng đượ c
quy định b ởi các m ối quan h ệ giao ti ếp được m ở r ộng c ả v ề ph ạm vi và ch ất
lượng. Sự bình đẳng, độc l ập trong giao ti ếp v ới ng ười l ớn. Tình b ạn b ền v ững
hơn, có c ơ s ở và lý trí (n ổi b ật là tình b ạn cùng độ tu ổi và cùng gi ới, nhu c ầu
chọn được một người bạn thân). Tình cảm đạo đức như sự khâm phục, kính
trọng nh ững ng ười d ũng c ảm, kiên c ường, … th ần t ượng. M ột đặc tr ưng khác
ở độ tuổi này là tình yêu nam n ữ th ường th ấy nh ư s ự ph ải lòng hay xu ất hi ện
tình yêu đầu đời đầy lãng m ạn. Tuy nhiên đi ều này còn ph ụ thu ộc vào y ếu t ố
phát dục, tính cách, s ự giáo d ục c ủa gia đình khi ến bi ểu hi ện c ủa lo ại tình c ảm
nhìn chung rất phúc tạp và không đồng đều.
Ở độ tuổi này, cá nhân có r ất nhi ều m ối quan tâm d ẫn đến nh ững chuy ển bi ến
khác nhau trong tâm lý. Cá nhân đã có nh ững ph ẩm ch ất và n ăng l ực g ần nh ư
một ng ười tr ưởng thành, tuy nhiên kinh nghiệm xã hội l ại là y ếu t ố gây c ản ch ở
phát triển ở l ứa tu ổi này.

Do vậy, các bậc cha mẹ và người làm công tác giáo dục cần cung cấp hệ
thống kiến thức đúng đắn, một chiều suy nghĩ, tư duy khách quan để cá nhân
đối chiếu, so sánh.Tuynhiêncũng l ưu ý khôngnênbắt ép hay kiểm soát thái quá
xâmphạm vào sự phát triển cá nhângây ức chế hoặc phản ứng ngược.
Đặc điểm nổi bật về tâm lý của lứa tuổi 16 – 18 Về hoạt động TDTT
* Nhân tố bên trong gồm các yếu tố như sự khát vọng ham muốn hiểu biết,
khám phá thế giới trong đó có sự thử sức với các hoạt động TDTT. Vì vậy TDTT
đã có sức cuốn hút mạnh mẽ đối với các em.
Ở tuổi 16 - 18 về tình cảm do các em thích làm người lớn vì vậy mà các biểu
hiện nghĩa hiệp, sự vui buồn chia xẻ thường đan xen nhau. Chính vì vậy, trong
quá trình huấn luyện thể thao cho các em HLV phải kịp thời nắm bắt diễn biến

8

tình cảm của các em để có thể điều chỉnh uốn nắn kịp thời. Chỉ có như vậy mới
có thể đạt được hiệu quả tốt trong giảng dạy huấn luyện.
* Về nhân tố bên ngoài bao gồm các yếu tố từ ngoại cảnh tác động đến tâm
lý của các em 16 - 18 tuổi.
Tóm lại để nắm vững được đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của các em để sử
dụng các đối sách giảng dạy huấn luyện hợp lý là tiền đề của sự nâng cao
hiệu quả giảng dạy huấn luyện của các giáo viên và huấn luyện viên thể thao.
1.2.3. Đặc điểm huấn luyện của môn Vovinam.
Cũng như các môn thể thao khác huấn luyện quyền Vovinam là một quá
trình sư phạm nhằm tác động một cách có hệ thống vào khả năng chức phận của
cơ thể vận động viên để hướng tới thành tích thể thao cao nhất. Đặc trưng cơ bản
của quá trình này là sự tác động của lượng vận động thông qua các bài tập với
các hình thức và phương tiện khác nhau để nâng cao hiệu quả của quá trình huấn
luyện. Bên cạnh đó việc sử dụng các các phương pháp, phương tiện huấn luyện
để tạo nên những tác động quan trọng góp phần thúc đẩy, rút ngắn thời gian huấn
luyện và nâng cao thành tích thể thao. Nhiệm vụ của huấn luyện Vovinam dựa
trên đặc điểm và cấu trúc đặc thù các yêu cầu cơ bản cua quá trình huấn
luyện phải đảo bảo được sự phát triển toàn diện của VĐV. Phải được thực hiện
có mục đích rõ ràng dựa trên kế hoạch đã được đề ra. Đây là nhiệm vụ đặc biệt
quan trọng là nhân tố cơ bản quyết định kết quả huấn luyện. Huấn luyện
Vovinam cũng là một quá trình sư phạm nên cần quán triệt và tuân thủ nghiêm
ngặt các nguyên tắc giảng dạy cơ bản.
1.2.4. Đặc trưng của phương phương pháp huấn luyện quyền Vovinam.
Trong môn phái Vovinam Việt Võ Đạo, hầu hết các bài quyền tay không và vũ khí
đều theo nguyên tắc chung “Một phát triển thành ba” (Học các đòn căn bản lẽ, được
ghép lại thành bài quyền, sau đó phối hợp lại thành bài đối luyện, song luyện, song
đấu) nhằm giúp cho người môn sinh có nhiều hình thức ôn tập thuần thục và dễ nhớ,
phát triển các kỷ năng nhanh, mạnh, bền, khéo léo đồng thời tạo sự gắn bó, xuyên suốt,
có tính logic, khoa học trong tập luyện và giảng dạy.
Hiện nay, ngoài việc tập luyện các bài đơn luyện để tăng cường thể lực, nâng cao sức
khỏe, thi lên cấp đai theo chương trình, các bài quyền còn được đưa vào thi đấu, tranh
giải tại các địa phương; do đó việc tập luyện và huấn luyện các bài quyền (đơn luyện)
đều phải đạt được mục đích, tiêu chuẩn chung như : phải thuộc đòn cơ bản, nắm vững
động tác lẻ rồi mới ghép vào bài. Thực hiện bài tập đúng trình tự, chính xác từng động
tác, dứt khoát trước khi bắt đầu động tác kế tiếp.

9

2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
2.1. Thực trạng và những khó khăn, thuận lợi trước khi thực hiện huấn luyện
tâm lý cho đội tuyển Vovinam.
2.1.1. Những điểm khó khăn:
+ Về phía giáo viên:
- Thời gian huấn luyện ít
- Kinh nghiệm giảng dạy và huấn luyện Vovinam cho học sinh THPT của
giáo viên là chưa nhiều.
- Các tài liệu, tư liệu về giảng dạy Vovinam có ít đặc biệt các phương pháp
huấn luyện Vovinam cho học sinh THPT hầu như là không có.
- Có ít giáo viên tham gia huấn luyện đội tuyển.
+ Vế phía học sinh
- Các nội dung luyện tập Vovinam để đi thi đấu là rất khó và cao so với
trình độ của học sinh mới học vì các nội dung thi Vovinam trong đại hội toàn là
những nội dung trong chương trình học Vovinam phong trào của người đã tập từ
hơn 1 năm, thậm chí cho đến từ 2 năm trở lên mới có thể thực hiện được như :
Bài song luyện 1, Quyền kiếm, …
- Học sinh ở trường THPT triệu sơn 2 đa số là con nhà thuần nông ngoài
công việc học tập các em còn phải phụ giúp gia đình công việc nhà và hầu như
các em ít có điều kiện và thời gian để chơi các môn thể thao nhất là các môn võ
thuật thì còn mới lạ đối với các em. Việc học sinh học tập văn hóa cả ngày nên
không có thời gian nhiều và thích hợp cho việc luyện tập, thể lực cơ bản của các
em còn yếu.
+ Về phía nhà trường và gia đình phụ huynh học sinh
- Chưa được sự quan tâm, tin tưởng sâu sắc của ban giam hiệu nhà trường
cũng như tổ chuyên môn.
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị dụng cụ phục vụ cho quá trình học tập và huấn
luyện của nhà trường chưa có hoặc đáp ứng được cho quá trình huấn luyện.
- Nhận thức và ủng hộ của cha, me học sinh về việc luyện tập võ để đi thi đấu
đội tuyển cho con em họ là chưa cao đôi khi còn gây ra sự cản trở lớn.
2.1.2.Những điểm thuận lợi:
10

- Bản thân thường xuyên đi dạy và huấn luyện võ phong trào trong
nhiều năm. Có trình độ chuyên môn về võ thuật cao như đạt được nhiều đai
đẳng trong các môn võ. TAEKWONDO; KARATE-DO; VOVINAM.
- Học sinh nhiệt tình và siêng năng chăm chỉ luyện tập.
- Là một giáo viên trẻ, luôn nhiệt tình, năng động trong công việc chịu khó
tìm tòi, học hỏi và tâm huyết với nghề.
Chính từ những thực trạng của những khó khăn và thuận lợi đó đã làm tôi
luôn băn khoăn, trăn trở, suy nghĩ làm thế nào đó để tìm ra các phương pháp
huấn luyện và khắc phục được những khó khăn đó để trên cơ sở đó tìm ra
đuợc phương pháp huấn luyện..
2.2. Thực trạng về chương trình và các phương pháp huấn luyện tâm lý thi
đấu Vovinam cho học sinh THPT.
Việc huấn luyện tâm lý thi đấu Vovinam cho học sinh có thể được xem là một
nghệ thuật sư phạm mang tính kỷ thuật. Người HLV phải biết vận dụng kiến
thức về võ học, võ thuật, tâm lý giới tính…để truyền thụ cho môn sinh về lý
thuyết, kỹ thuật đòn thế.
Việc huấn luyện môn sinh chịu tác động từ nhiều phía:Từ HLV, từ chương
trình, sân bãi, điều kiện thể lực của các em ... Ở độ tuổi cuối cấp 17-18 là lứa
tuổi hầu như phát triển hoàn thiện về sinh lý. Thực tế trong huấn luyện trong
nhiều năm qua, ở đối tượng này mọi người huấn luyện viên, võ sư đều cho rằng:
- Rất khó huấn luyện độ mềm dẻo ở cơ khớp cho các em, trong khoảng thời
gian ngắn việc này nó ảnh hưởng không nhỏ đến kỹ thuật và biên độ động tác.
- Những nội dung huấn luyện đội tuyển thi hội khỏe phù đổng môn Vovinam
cho học sinh THPT mới học là quá khó. Ví dụ như: Trong bài quyền ngũ môn ở
trình độ người mới học 3-4 tháng chưa đủ kỹ thuật để có thể đá đạp lái 180 độ…
- Chưa có một chương trình nào hay phương pháp huấn luyện Vovinam nào
được soạn thảo riêng để huấn luyện cho Học sinh THPT.
-Năm học 2011-2012 Vovinam mới được đưa chính vào trường học phổ
thông nên tấp cả đang còn mới lạ và nghèo nàn về phương pháp và cơ sở vật chất
Chính vì vậy xuất phát từ những yếu tố trên mà HLV phải tự chọn ra cho
mình một phương pháp tốt nhất, hiệu quả và phù hợp nhất để huấn luyện.
11

2.3. Cơ sở để đưa ra các phương pháp huấn luyện .
Trước tiên theo tôi quan niệm cũng như lý luận trong dạy học và huấn luyện
thể dục thể thao là phải dựa trên các nguyên tắc luyện tập. Như nguyên tắc vừa
sức, hệ thống…Vì theo lý luận TDTT thì luyện tập TDTT muốn đạt được hiệu
quả cao thì các phương pháp đưa ra phải phù hợp với lứa tuổi, tâm lý và trình độ
vận động ... Đây là một trong những cơ sở quan trọng để tôi đưa ra phương pháp
huấn luyện phù hợp với học sinh, chính vì thế sáng kiến của tôi đã lần lượt trải
qua hai giai đoạn như sau
Giai đoạn 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn để lựa chọn một số phương pháp
huấn luyện tâm lý thi đấu Vovinam đội tuyển võ VOVINAM cho học sinh
trường THPT Triệu sơn 2.
Giai đoạn 2: Từng bước tiến hành áp dụng các phương pháp và đánh giá
hiệu quả của nó trong quá trình huấn huấn luyện đội tuyển Vovinam học sinh
trường THPT triệu sơn 2, Huyện triệu sơn, Tỉnh thanh hoá.
3. Các phương pháp sử dụng và đối tượng của sáng kiến.
3.1. Các phương pháp sử dụng trong quá trình viết sáng kiến.
3.1.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu.
3.1.2. Phương pháp phỏng vấn trực tiếp các võ Sư, các HLV võ
3.1.3. Phương pháp quan sát sư phạm.
3.1.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm.
3.1.5. Phương pháp toán học thống kê.
3.1.6. Phương pháp tổ chức viết sáng kiến kinh nghiệm.
3.2. Đối tượng của sáng kiến.
Đối tượng áp dụng chính: Là 08 em học sinh bao gồm (04 nam + 04 nữ) là
học sinh học lớp 11 và lớp 12 trong trường THPT Triệu sơn 2.

4. Giải pháp và tổ chức thực hiện.
4.1. Các bước tiến hành huấn luyện huấn luyện
4.1.1. Huấn luyện kỹ thuật tốt là yếu tố giúp học sinh có trạng thái tâm lý tốt
trong thi đấu
Để biểu diễn được một bài quyền thành công thì người luyện tập phải đạt
được mục đích, tiêu chuẩn chung như : phải thuộc đòn cơ bản, nắm vững động
12

tác lẻ rồi mới ghép vào bài. Thực hiện bài tập đúng trình tự, chính xác từng động
tác, dứt khoát trước khi bắt đầu động tác kế tiếp.
Trước khi huấn luyện bài quyền cần giới thiệu qua :
Tên gọi bài quyền, xuất xứ, ý nghĩa, nội dung chính trong bài quyền (ghép các
thế chiến lược, các động tác lẻ, đòn cơ bản của từng trình độ trong chương trình).
Số động tác của toàn bài, đồ hình, phương hướng và 1 số đặc điểm chung
trong bài quyền.
Yêu cầu phải đạt : Đánh nhanh, mạnh, dứt khoát, chính xác từng động tác,
thời gian thực hiện, khả năng chịu đựng, giữ thăng bằng, tấn bộ pháp vững chắc,
thân thái tốt (biểu hiện nét mặt, nhãn thần ).
4.1.2. Huấn luyện các thế võ.
Trước tiên phải nói tên thế võ hoặc giới thiệu, định nghĩa, lọai đòn thế sẽ học
như Khóa gỡ là gì. Chiến lược là gì. Các thế phản đòn tay, đòn chân, học để làm
gì….
Biểu diễn cho võ sinh xem 1 thế võ để có khái niệm bao quát về thế võ đó.
Bước 1: Giới thiệu, nói tên thế võ, đòn mới :
Trước tiên phải nói tên thế võ hoặc giới thiệu, định nghĩa, lọai đòn thế sẽ học
như: Khóa gỡ là gì. Chiến lược là gì, các thế phản đòn tay, đòn chân, học để làm
gì….
Biểu diễn cho võ sinh xem 1 thế võ để có khái niệm bao quát về thế võ đó.

Bước 2: Giải thích thế võ gồm có mấy động tác :
Việc này tiến hành từng bước :
- Giới thiệu toàn bộ động tác.
- Yêu cầu làm động tác.
13