Tải bản đầy đủ
2 Thực trạng công tác kế toán NVL để sản xuất bồn chứa nước inox tại công ty TNHH Tân Mỹ

2 Thực trạng công tác kế toán NVL để sản xuất bồn chứa nước inox tại công ty TNHH Tân Mỹ

Tải bản đầy đủ

- Biên bản kiểm nghiệm vật tư (Mẫu 08- VT)
- Phiếu nhập kho (Mẫu 01- VT)
- Phiếu xuất kho (Mẫu 02- VT)
- Giấy đề nghị xuất vật tư ((Mẫu 03- VT)
- Bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn vật liệu
- Thẻ kho (Mẫu số S12 - DN)
- Sổ chi tiết nguyên vật liệu (Mẫu số S10 - DN)
2.2.2 Kế toán tổng hợp NVL
Hạch toán tổng hợp NVL là một phần quan trọng trong công tác hạch toán NVL bởi
nó có vai trò trong việc cung cấp những số liệu cần thiết phục vụ cho công tác quản lý
điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh.
Công ty TNHH Tân Mỹ áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên để hạch toán
tổng hợp nhập-xuất-tồn NVL. Việc áp dụng phương pháp này giúp kế toán có thể theo
dõi và phản ánh một cách thường xuyên liên tục có hệ thống tình hình nhập-xuất-tồn vật
tư trên sổ kế toán tại bất kỳ thời điểm nào trong kế toán.
*Tài khoản sử dụng :
- TK 152 “Nguyên vật liệu” chi tiết thành các tài khoản cấp 2:
+ TK 1521- Nguyên vật liệu chính
+ TK 1522 - Nguyên vật liệu phụ
+ TK 1523 - Nhiên liệu
+ TK 1524 - Phụ tùng thay thế
+ TK 1526 - Phế liệu thu hồi
- TK 151 “Hàng mua đang đi đường”
Ngoài ra, công ty còn sử dụng một số tài khoản liên quan khác như: TK 111, 112,
331, 133, 621,...để hạch toán tình hình nhập xuất NVL trong kỳ.
*Kế toán nhập kho NVL:
Cũng giống như các doanh nghiệp sản xuất khác, NVL của công ty cũng được nhập từ
nhiều nguồn khác nhau và chủ yếu là do mua ngoài. Do các nghiệp vụ phát sinh liên quan

32

đến NVL nhiều cho nên việc hạch toán NVL phải đầy đủ và chính xác giá thực tế của
NVL mua về và tình hình thanh toán với người bán.
Mua NVL bên ngoàivề nhập kho : Nguồn cung cấp vật tư nhiều và thường xuyên là
những bạn hàng quen thuộc. Tại công ty quá trình mua NVL được thực hiện và giám sát
chặt chẽ. Khi nhận được phiếu báo giá của các loại vật tư mà công ty cần mua, trên cơ sở
chọn những nhà cung cấp đảm bảo về chất lượng và yêu cầu về giá cả, công ty tính toán
số lượng NVL cần mua. Tùy theo khả năng của mình công ty có thể trả ngay tại thời
điểm mua hoặc nợ nhà cung cấp.
Ví dụ : Ngày 1 tháng 3 năm 2013 Công ty mua 4800 kg Inox Sus 304, đơn giá
16.500đ/kg và 16 que hàn, đơn giá 135.000đ/cái của Công ty TNHH Phụng Diên bằng
tiền gửi ngân hàng (chưa thuế VAT 10%).
Sau khi hàng và hoá đơn GTGT (phụ lục 2.1) cùng về thì nhân viên vật tư tiến
hành kiểm tra đúng với hợp đồng mua bán, lập biên bản kiểm nghiệm vật tư (phụ lục
2.2) thành 2 bản giống nhau và giao cho: - Thủ kho 1 bản
- Phòng kế toán 1 bản
Sau khi tất cả các thủ tục kiểm tra đã hoàn tất, nếu chất lượng hàng nhập đảm bảo
đúng yêu cầu như trong hợp đồng mua bán, thủ kho tiến hành các thủ tục nhập kho và ghi
phiếu nhập kho(phụ lục 2.3, phụ lục 2.4). Cụ thể như sau:
Bảng nhập kho được lập thành 4 liên:
-01 liên phòng kế hoạch giữ
-01 liên thủ kho giữ để ghi thẻ kho trong công tác hạch toán chi tiết
-01 liên được giao lên phòng tài chính – kế toán để kế toán vật tư hạch toán chi tiết
-01 liên được giao cho người cung cấp để làm thủ tục thanh toán sau này
Trong trường hợp có sai sót về số lượng thì ban kiểm nghiệm sẽ lập biên bản báo
cáo cho bên bán biết để xử lý đúng như hợp đồng quy định
Nếu có sai sót về chất lượng, hàng giao không có đủ quy cách phẩm chất thì sẽ bị
trả lại người bán mà không được làm thủ tục nhập kho ( ngoại trừ công ty chấp nhận với
một mức giảm giá nào đó thì sẽ nhập kho bình thường).

33

Khi NVL về nhập kho, căn cứ vào phiếu nhập kho, nghiệp vụ được phản ánh vào
nhật ký chung . Nghiệp vụ này được định khoản:
Nợ TK1521: 79.200.000

Nợ TK 1522 : 2.160.000

Nợ TK 133: 7.920.000

Nợ TK 133 : 216.000

Có TK 112: 87.120.000

Có TK 112 : 2.376.000

Từ nhật ký chung kế toán vào sổ cái TK 152, thuế GTGT đầu vào sổ cái TK 133
đồng thời phản ánh tiền thanh toán ngay vào sổ cái TK 111, 112…
Để thuận tiện cho việc theo dõi, kiểm tra, quản lý, đến cuối tháng, kế toán tiến hành
lập bảng tổng hợp NVL nhập kho (phụ lục 2.5) theo dõi cả số lượng và giá trị của các
loại nguyên vật liệu nhập trong một tháng
*Kế toán xuất kho NVL:
Khi có yêu cầu, đề xuất của bộ phận sản xuất, phòng vật tư sẽ xem xét nếu thấy
hợp lý thì sẽ lập phiếu xuất kho hoặc theo kế hoạch cung ứng nguyên vật liệu. Phiếu xuất
kho được lập thành 3 liên:
Liên 1: Người lĩnh vật tư giữ
Liên 2: Giao cho phòng kế toán
Liên 3: Thủ kho giữ
Khi thực hiện xuất đúng số lượng, thủ kho và người lĩnh vật tư ký vào giấy đề nghị
cung cấp vật tư và phiếu xuất kho. Thủ kho sẽ lưu lại 1 liên để vào thẻ kho, 1 liên giao
cho kế toán vật tư để vào sổ chi tiết.
Ví dụ: Theo yêu cầu, đề nghị cung cấp vật tư ngày 05 tháng 3 năm 2013 của anh
Trần Minh Đức (tổ sản xuất), doanh nghiệp xuất kho 4000kg Inox Sus 304 và 8 que hàn
để sản xuất bồn chứa nước inox theo PXK số 65/10, PXK số 67/10
Căn cứ vào giấy đề nghị xuất vật tư có kế hoach (phụ lục 2.6), kế toán lập phiếu
xuất kho: Phiếu xuất kho số 65 (phụ lục 2.7) và phiếu xuất kho số 67 (phụ lục 2.8).
Khi NVL xuất kho, căn cứ vào phiếu xuất kho, nghiệp vụ được phản ánh vào nhật
ký chung . Nghiệp vụ này được định khoản:
Nợ TK 621: 65.744.000

Nợ TK 621 : 1.079.048

34

Có TK 152: 65.744.000

Có TK 152 : 1.079.048

Từ nhật ký chung kế toán vào sổ cái TK 152, sổ cái TK chi phí NVL trực tiếp
( TK 621)
Định kỳ phiếu xuất kho được chuyển lên phòng kế toán để lập bảng tổng hợp xuất
vật tư (phụ lục 2.9) trong tháng, làm cơ sở cho việc tính giá thành sản phẩm
Sau khi lập xong bảng tổng hợp NVL nhập kho và NVL xuất kho, kế toán tiến
hành lập bảng tổng hợp nhập – xuất – tồn NVL cuối tháng (phụ lục 2.10)
*Sổ kế toán:
Công ty TNHH sản xuất và thương mại Tân Mỹ đã sử dụng hình thức Nhật ký
chung. Hằng ngày, căn cứ vào các chứng từ được dùng làm căn cứ ghi sổ, kế toán ghi
chép các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh theo trình tự thời gian và theo nội dung
(định khoản kế toán) vào sổ Nhật ký chung. Sau đó căn cứ vào số liệu đã ghi trên nhật ký
chung để vào Sổ Cái cho phù hợp.
- Sổ Nhật ký chung (Mẫu S03a-DN )
- Sổ Cái TK 152, TK 331, TK621,TK 133, TK 112 (Mẫu S03b - DN)
Ngoài ra, để theo dõi tình hình nhập vật liệu do mua ngoài va tình hình thanh toán
với người bán, Công ty sử dụng “Sổ chi tiết thanh toán với người bán”. Cùng với việc ghi
vào bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn sau khi nhận được hoá đơn, các phiếu chi chi trả người
bán về số lượng hàng đã mua, các phiếu nhập kho hàng mua về chưa thanh toán, kế toán
ghi vào “sổ chi tiết thanh toán với người bán”. NVL được thanh toán bằng tiền mặt hoặc
tiền gửi ngân hàng được theo dõi trên Nhật ký chung.
Sổ chi tiết thanh toán với người mua (bán) (Phụ lục 2.11)
Sổ Nhật ký chung tháng 3 năm 2013 (Phụ lục 2.12)
Sổ cái TK 152 (Phụ lục 2.13)
Sổ cái TK 331 (phụ lục 2.14)
Sổ cái TK 133 (Phụ lục 2.15)
Sổ cái TK 621 ( Phụ lục 2.16)

35

2.2.3 Kế toán chi tiết NVL
Do đặc điểm về NVL của doanh nghiệp là có nhiều loại khác nhau, thường xuyên
phải dự trữ trong kho một lượng vừa đủ theo định mức tính toán của phòng kế hoạch nên
NVL được theo dõi, quản lý rất chặt chẽ, công ty TNHH Lê Huy áp dụng hạch toán chi
tiết NVL theo phương pháp thẻ song song để ghi chép và phản ánh cũng như kiểm tra đối
chiếu số liệu hạch toán giữa kho và phòng kế toán.
Sơ đồ 2.3: Hạch toán chi tiết NVL theo phương pháp thẻ song song

Phiếu nhập
kho

Thẻ kho

Sổ chi tiết vật
liệu

Bảng
tổng
hợp
nhập,
xuất, tồn
vật liệu

Sổ kế
toán
tổng
hợp
vật
liệu

Phiếu xuất
kho

Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Kiểm tra, đối chiếu
*Nguyên tắc hạch toán:
+Ở kho : Chỉ theo dõi tình hình nhập – xuất – tồn NVL về mặt số lượng
+Ở phòng kế toán: Theo dõi tình hình nhập – xuất – tồn NVL cả về mặt số lượng và giá
trị
Ưu điểm : Phương pháp này đơn giản, dễ làm, không đòi hỏi cao về trình độ hạch
toán ban đầu. Song cũng có nhược điểm của nó là ghi trùng lặp ( cả kho và phòng kế toán

36

đều theo dõi về mặt lượng ). Thêm vào đó, công ty có nhiều chủng loại vật tư, chi tiết về
mặt hiện vật trùng lặp làm khối lượng công việc của phòng kế toán phát sinh nhiều thêm.
*Trình tự ghi chép :
+Ở kho: Thủ kho dùng “thẻ kho” để ghi chép hằng ngày tình hình nhập, xuất, tồn
kho của từng thứ vật tư theo chỉ tiêu số lượng. Mỗi loại, mỗi thứ NVL được theo dõi trên
một thẻ kho.
Khi nhận chứng từ nhập xuất vật tư bao gồm phiếu nhập kho (phụ lục 2.3 và phụ
lục 2.4), phiếu xuất kho (phụ lục 2.7 và phụ lục 2.8), Thủ kho phải kiểm tra tính hơp
lý, hợp pháp của chứng từ rồi tiến hành ghi chép số thực nhận, thực xuất vào chứng từ và
Thẻ kho; cuối ngày tính ra số tồn kho để ghi vào cột tồn trên Thẻ kho. Định kỳ, Thủ kho
gửi các chứng từ nhập, xuất đã phân loại theo từng thứ vật tư cho phòng kế toán.
NVL tồn = NVL tồn kho + NVL nhập - NVL xuất
Ví dụ: Lập thẻ kho tháng 3/2013 cho Inox Sus 304 theo số liệu ở trên ta có:
Thẻ kho tháng 3 ( Phụ lục 2.17)
+Ở phòng kế toán: Kế toán sử dụng sổ kế toán chi tiết để ghi chép tình hình nhập
xuất cho từng thứ vật tư theo cả hai chỉ tiêu số lượng và giá trị. Kế toán khi nhận được
chứng từ nhập, xuất tư bao gồm phiếu nhập kho (phụ lục 2.3 và phụ lục 2.4), phiếu
xuất kho (phụ lục 2.7 và phụ lục 2.8) , kế toán kiểm tra lại chứng từ, hoàn chỉnh chứng
từ; căn cứ vào các chứng từ nhập, xuất kho để ghi vào sổ kế toán chi tiết vật tư, mỗi
chứng từ được ghi một dòng.
- Chỉ tiêu giá trị của vật liệu nhập trong tháng ở sổ chi tiết được tính bằng giá mua
thực tế nguyên vật liệu không bao gồm thuế.
- Chỉ tiêu giá trị của vật liệu xuất trong tháng ở sổ chi tiết vật tư được xác định theo
đơn giá bình quân gia quyền thứ vật liệu.
Ví dụ: Kế toán khi nhận được chứng từ nhập, kế toán mở sổ kế toán chi tiết để
theo dõi số lượng và giá trị của Inox Sus 304 trong kỳ.
Sổ chi tiết vật liệu tháng 10 (phụ lục 2.18)

37

*Kế toán nghiệp vụ kiểm kê NVL
Đinh kỳ công ty tiến hành kiểm kê vật tư tồn kho để đảm bảo đủ NVL cho tiến độ
sản xuất cũng như đảm bảo rằng NVL không bị thất thoát, hư hỏng. Công việc sẽ do bộ
phận kế toán kết hợp với phòng vật tư thực hiện. Thông thường, việc kiểm kê này sẽ
được tiến hành vào cuối quý. Tuy nhiên trong một số trường hợp do yêu cầu kiểm tra đột
xuất, công ty cũng phải tiến hành kiểm kê theo yêu cầu của cấp trên
Kết quả kiểm kê được phản ánh vào biên bản kiểm kê vật tư
Căn cứ vào biên bản kiểm kê, kế toán xử lý như sau:
-Nếu trong quá trình kiểm kê phát hiện những hao hụt trong định mức thì kế toán
sẽ ghi tăng giá vốn và giảm trị giá thực tế NVL.
-Nếu trong quá trình kiểm kê phát hiện hao hụt ngoài định mức, khi đó công ty xác
đinh nguyên nhân:
+Nếu chưa xác định nguyên nhân, kế toán phản ánh nợ cho TK 1381 – Tài sản
thiếu chờ xử lý đồng thời ghi có cho TK 152 – NVL
+Nếu xác định được nguyên nhân hao hụt, kế toán ghi nợ cho TK 334 (trừ vào
lương công nhân), TK111(bồi thường bằng tiền mặt)… đồng thời ghi có cho TK 152 NVL

Chương 3: Các kết luận và đề xuất giải pháp hoàn thiện kế toán NVL để sản xuất
bồn chứa nước inox tại Công ty NHH Tân Mỹ
3.1 Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu
3.1.1 Các kết quả đạt được
Trải qua 12 năm xây dựng trưởng thành và phát triển Công ty TNHH SX & TM Tân Mỹ
ngày càng phấn đấu và trưởng thành về mọi mặt như bộ máy quản lý, tổ chức sản xuất
hoạt động kinh doanh, về chỉ tiêu kinh tế tài chính, về trình độ cán bộ nhân viên.... sản
phẩm của Công ty ngày càng đáp ứng nhu cầu của khách hàng về quy cách, mẫu mã, số
lượng cũng như chất lượng đặc biệt là sản phẩm bồn chứa nước inox của công ty. Cùng

38

với sự phát triển của Công ty, công tác kế toán nói chung và kế toán nguyên vật liệu nói
riêng không ngừng được củng cố và hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công
tác quản lý trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay. Sổ kế toán, tài khoản kế toán,
phương pháp kế toán được điều chỉnh kịp thời do các quy định của Bộ tài chính. Về cơ
bản, Công ty đã tiến hành kinh tế đầy đủ mọi nghiệp vụ phát sinh liên quan đến mọi chi
phí về nguyên vật liệu, phản ánh hệ thống sổ kế toán chi tiết và tổng hợp thể hiện mọi
yêu cầu quản lý cao.
Nhìn một cách tổng thể, công tác kế toán tại Công ty TNHH SX & TM Tân Mỹ đã
đạt được một số kết quả sau:
 Về công tác tổ chức bộ máy kế toán

Công ty áp dụng mô hình kế toán tập trung. Theo mô hình này, mỗi kế toán viên
vẫn đảm nhận chức năng, nhiệm vụ của mình dưới sự chỉ đạo tập trung thống nhất của kế
toán trưởng. Như vậy mỗi cán bộ kế toán đều phát huy được trình độ chuyên môn của
mình mà vẫn đảm bảo hiệu quả công tác kế toán nói chung.
 Về hệ thống tổ chức chứng từ, tài khoản, sổ sách kế toán

Hoạt động trong nền kinh tế thị trường, Công ty đã nhanh chóng chuyển đổi và áp
dụng chế độ kế toán mới vào hạch toán, luôn cập nhật kịp thời, chính xác những thông tin
về chế độ, chuẩn mực kế toán trong đó có những vấn đề về kế toán NVL. Cụ thể hiện nay
Công ty đang thực hiện công tác kế toán theo đúng những qui định mới nhất trong quyết
định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ tài chính và các chuẩn mực
kế toán có liên quan:
- Công ty xây dựng cho mình một hệ thống biểu mẫu chứng từ phù hợp với qui định
hiện hành của Bộ tài chính. Trình tự nhập, xuất vật tư ở kho được ghi chép hợp lý, chi
tiết, rõ ràng trên các chứng từ này. Sau đó mới nhập vào hệ thống sổ sách kế toán. Việc
vào sổ sách cũng được tiến hành thường xuyên, đầy đủ, số liệu giữa thủ kho và kế toán
luôn được đối chiếu, so sánh nên những sai sót đều được phát hiện kịp thời. Các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh đều được thực hiện trên các sổ tổng hợp có liên quan.
- Công ty đã lựa chọn phương pháp đánh giá vật tư phù hợp đặc điểm sản xuất kinh
doanh của mình. Giá NVL nhập kho được xác định theo giá thực tế, giá xuất kho tính

39