Tải bản đầy đủ
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ

Báo cáo thực tập tốt nghiệp
thất nghiệp và những người chưa tìm được việc làm sau 15 ngày đăng kí tại cơ quan
bảo hiểm.
Kinh phí công đoàn (KPCĐ): là khoản tiền dùng đó duy trì các hoạt động tổ chức
công đoàn đơn vị và công đoàn cấp trên. Các tổ chức này hoạt động nhằm bảo vệ
quyền lợi và nâng cao đời sống của người lao động.
1.1.1.2 Ý nghĩa, nhiệm vụ và chức năng của kế toán tiền lương và các khoản
trích theo lương trong doanh nghiệp.
Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, các doanh nghiệp sử
dụng tiền lương làm đòn bẩy kinh tế để khuyến khích tinh thần tích cực lao động, là
nhân tố thúc đẩy để tăng năng suất lao động.
Đối với các doanh nghiệp tiền lương phải trả cho người lao động là một yếu tố
cấu thành nên giá trị sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp sáng tạo ra hay nói cách khác
nó là yếu tố của chi phí sản xuất để tính giá thành sản phẩm. Do vậy, các doanh nghiệp
phải sử dụng sức lao động có hiệu quả để tiết kiệm chi phí lao động trong đơn vị sản
phẩm, công việc dịch vụ và lưu chuyển hàng hoá.
Quản lý lao động tiền lương là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý
sản xuất kinh doanh. Tổ chức tốt hạch toán lao động và tiền lương giúp cho công tác
quản lý lao động của doanh nghiệp đi vào nề nếp, thúc đẩy người lao động chấp hành
tốt kỷ luật lao động, tăng năng suất lao động, đồng thời nó là cơ sở giúp cho việc tính
lương theo đúng nguyên tắc phân phối theo lao động.
Tổ chức công tác hạch toán lao động tiền lương giúp doanh nghiệp quản lý tốt
quỹ lương, đảm bảo việc trả lương và trợ cấp bảo hiểm xã hội đúng nguyên tắc, đúng
chế độ khuyến khích người lao động hoàn thành nhiệm vụ được giao, đồng thời tạo cơ
sở cho việc phân bổ chi phí nhân công vào giá thành sản phẩm được chính xác.
Có thể nói chí phí về lao động hay tiền lương và các khoản trích theo lương
không chỉ là vấn đề được doanh nghiệp chú ý mà còn được người lao động đặc biệt
quan tâm vì đây chính là quyền lợi của họ.
Do vậy việc tính đúng thù lao lao động và thanh toán đầy đủ, kịp thời cho người
lao động là rất cần thiết, nó kích thích người lao động tận tụy với công việc, nâng cao
chất lượng lao động. Mặt khác việc tính đúng và chính xác chí phí lao động còn góp
phần tính đúng và tính đủ chí phí và giá thành sản phẩm.

SVTH: Phạm Thị Hải
B55

10

Lớp: Đại học Kế toán

Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Muốn như vậy công việc này phải được dựa trên cơ sở quản lý và theo dõi quá
trình huy động và sử dụng lao động các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Việc huy động sử dụng lao động được coi là hợp lý khi mỗi loại lao động khác
nhau cần có những biện pháp quản lý và sử dụng khác nhau. Vì vậy việc phân loại lao
động là rất cần thiết đối với mọi doanh nghiệp, tùy theo từng loại hình doanh nghiệp
khác nhau mà có cách phân loại lao động khác nhau.
Nói tóm lại tổ chức tốt công tác hoạch toán tiền lương và các khoản trích theo
lương giúp doanh nghiệp quản lý tốt quỹ tiền lương, bảo đảm việc trả lương và trợ cấp
BHXH đúng nguyên tắc, đúng chế độ, kích thích người lao động hoàn thành nhiệm vụ
được giao đồng thời tạo cơ sở cho việc phân bổ chi phí nhân công vào giá thành sản
phẩm được chính xác.
Tổ chức tốt công tác hạch toán lao động tiền lương giúp doanh nghiệp quản lý tốt
quỹ lương, đảm bảo việc trả lương và trợ cấp bảo hiểm xã hội đúng nguyên tắc, đúng
chế độ, khuyến khích người lao động hoàn thành nhiệm vụ được giao, đồng thời tạo cơ
sở cho việc phân bổ chi phí nhân công vào giá thành sản phẩm được chính xác.
 Ý nghĩa của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương.
- Lao động là một yếu tố không thể thiếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh
nên hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương có ý nghĩa rất lớn trong công
tác quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Hạch toán tốt lao động tiền lương và các khoản trích theo lương giúp cho công
tác quản lý nhân sự đi vào nề nếp có kỷ luật, thúc đẩy công nhân viên chấp hành kỷ
luật lao động, tăng năng suất lao động và hiệu quả lao động, đồng thời tạo cơ sở để
doanh nghiệp chi trả các khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động nghỉ việc
trong trường hợp nghỉ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động.
-Tổ chức tốt công tác tiền lương còn giúp cho việc quản lý tiền lương chặt chẽ
đảm bảo trả lương đúng chính sách và doanh nghiệp đồng thời còn căn cứ để tính toán
phân bổ chi phí nhân công và chi phí doanh nghiệp hợp lý.
- Giúp cho việc phân tích, đánh giá cơ cấu lao động, cơ cấu tiền lương cũng như
hiệu quả sử dụng quỹ lương hiệu quả.
 Nhiệm vụ của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương
- Tổ chức ghi chép phản ánh kịp thời, chính xác số liệu về số lượng, chất lượng
và kết quả lao động. Hướng dẫn các bộ phận trong doanh nghiệp ghi chép và luân
chuyển các chứng từ ban đầu về lao động, tiền lương và các khoản trích theo lương

SVTH: Phạm Thị Hải
B55

11

Lớp: Đại học Kế toán

Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- Tính toán chính xác và thanh toán kịp thời các khoản tiền lương, tiền thưởng,
trợ cấp BHXH và các khoản trích nộp theo đúng quy định.
- Tính toán và phân bổ chính xác, hợp lý chi phí tiền lương và các khoản trích
theo lương vào các đối tượng hạch toán chi phí.
- Tổ chức lập các báo cáo về lao động, tiền lương, tình hình trợ cấp BHXH qua
đó tiến hành phân tích tình hình sử dụng lao động, quỹ tiền lương của doanh nghiệp để
có biện pháp sử dụng lao động có hiệu quả hơn.
 Chức năng của tiền lương
Tiền lương có các chức năng sau đây:
 Chức năng đòn bẩy cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Tiền lương gắn liền với lợi ích của người lao động. Nó là động lực kích thích năng
lực sáng tạo, ý thức lao động trên cơ sở đó thúc đẩy tăng năng suất lao động. Bởi vậy,
tiền lương một mặt gắn liền với lợi ích thiết thực của người lao động và mặt khác nó
khẳng định vị trí của người lao động trong doanh nghiệp. Bởi vậy, khi nhận tiền lương
thoả đáng, công tác trả lương của doanh nghiệp công bằng, hợp lý sẽ tạo động lực cho
quá trình sản xuất và do đó tăng năng suất lao động sẽ tăng, chất lượng sản phẩm được
nâng cao, từ đó doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp không ngừng tăng lên.
 Chức năng kích thích người lao động
Thực hiện mối quan hệ hợp lý trong việc trả lương không chỉ có lợi cho doanh nghiệp
mà còn đem lại lợi ích cho người lao động, khuyến khích họ tăng năng suất lao động.
Khi lợi nhuận của doanh nghiệp tăng thì nguồn phúc lợi trong doanh nghiệp sẽ phát
triển, là nguồn bổ sung thu nhập của người lao động, tạo ra động lực lao động, tăng
khả năng gắn kết giữa người lao động vối doanh nghiệp.
 Chức năng tái sản xuất sức lao động.
Tiền lương là thu nhập chính của người lao động, là nguồn nuôi sống bản thân và gia
đình họ. Thu nhập bằng tiền lương tăng lên sẽ đảm bảo cho đời sống vật chất và văn
hoá của người lao động tăng lên và do đó tái tạo sức lao động cho xã hội.
Thực hiện đúng đắn chế độ tiền lương đối với người lao động sẽ giúp cho doanh
nghiệp có nguồn lao động ổn định nhất là đối với nghề mà lao động có tính chất truyền
thống đối với các vùng chuyên canh hoặc khai thác lâu dài như trồng cao su, khai thác
than đá….
1.1.2 Quỹ tiền lương, quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN

SVTH: Phạm Thị Hải
B55

12

Lớp: Đại học Kế toán

Báo cáo thực tập tốt nghiệp
1.1.2.1 Quỹ tiền lương
Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền lương trả cho số công nhân
viên của Doanh nghiệp do DN quản lý, sử dụng và chi trả lương. Bao gồm:
- Tiền lương trả cho người lao động the thời gian làm việc, theo số lượng snar
phẩm hoàn thành
- Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng việc vì lí do khách
quan như: Bão, lụt, nghỉ phép theo quy định……
- Các khoản phụ cấp thường xuyên được tính vào lương như phụ cấp thâm niên,
làm thêm giờ, làm đêm.
Về phương diện hạch toán kế toán, quỹ tiền lương của DN được chia thành 2
loại: Tiền lương chính và tiền lương phụ
+ Tiền lương chính: Là tiền lương trả cho người lao động căn cứ vào thời gian
làm việc thực tế bao gồm tiền lương trả theo cấp bậc và các khoản phụ cấp trách
nhiệm, phụ cấp khu vực, phụ cấp thâm niên.
+ Tiền lương phụ: Là tiền lương trả cho người lao động khi họ không làm việc
bao gồm: nghỉ lễ, nghỉ phép, ngừng sản xuất do nguyên nhân khách quan.
Theo chế độ hiện hành, đơn giá lương được tính theo một trong những phuơng
pháp sau:
+ Đơn giá lương tính trên đơn vị sản phẩm.
+ Đơn giá lương tính trên doanh thu.
+ Đơn giá lương tính trên lợi nhuận.
Với đơn giá lương xác định, quỹ tiền lương tính theo kết quả sản xuất kinh
doanh được tính:
Quỹ tiền lương

=

Đơn giá lương

x

Kết quả sản xuất
kinh doanh

Đơn giá lương được xây dựng trên cơ sở định mức lao động trung bình tiên tiến
của doanh nghiệp, các thông số tiến lương do Nhà nước quy định và đơn giá đó được
đăng kí tại cơ quan Lao động thương binh-xã hội. Với cách xác định quỹ lương như
trên, thu nhập của người lao động phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động sản suất kinh
doanh của doanh nghiệp.
1.1.2.2. Quỹ bảo hiểm xã hội( BHXH )

SVTH: Phạm Thị Hải
B55

13

Lớp: Đại học Kế toán

Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Theo quy định tại Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội: Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo
hay bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập
do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết,
trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.
Quỹ BHXH được hình thành do việc trích lập theo tỷ lệ quy định là trên tiền lương
phải trả CNV trong kỳ. Theo chế độ hiện hành, hàng tháng doanh nghiệp tiến hành
trích lập quỹ BHXH theo tỷ lệ 26% trên tổng số tiền lương thực tế phải trả CNV trong
tháng, trong đó: 18% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của các đối tượng sử dụng
lao động, 8% trừ vào lương của người lao động.
Quỹ BHXH được trích lập tạo ra nguồn vốn tài trợ cho người lao động trong
trường hợp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động. Thực chất của BHXH là giúp mọi người
đảm bảo về mặt xã hội để người lao động có thể duy trì và ổn định cuộc sống khi gặp
khó khăn, rủi ro khiến họ bị mất sức lao động tạm thời hay vĩnh viễn.
Tại doanh nghiệp, hàng tháng doanh nghiệp trực tiếp chi trả BHXH cho CNV bị
ốm đau, thai sản... trên cơ sở các chứng từ hợp lệ. Cuối tháng,doanh nghiệp phải quyết
toán với cơ quan quản lý quỹ BHXH.
1.1.2.3.Quỹ bảo hiểm y tế ( BHYT )
Quỹ BHYT là một khoản trợ cấp cho việc phòng chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe
cho người lao động. Cơ quan bảo hiểm sẽ thanh toán về chi phí khám chữa bệnh theo
tỷ lệ nhất định mà nhà nước quy định cho những người tham gia đóng bảo hiểm.
Quỹ BHYT là khoản tiền được trích lập theo tỉ lệ quy định trên tiền lương phải
trả công nhân viên trong kỳ. Theo chế độ hiện hành (TT 59/2015/TT-BLĐTBXH áp
dụng từ ngày 01/01/2016) DN trích quỹ BHYT với tỉ lệ là 4,5 % trên tổng số lương
thực tế phải trả công nhân viên trong tháng, trong đó 3% tính vào chi phí sản xuất
kinh doanh của các đối tượng sử dụng lao động và 1,5% trừ vào lương của người lao
động.
1.1.2.4. Quỹ bảo hiểm thất nghiệp( BHTN )
Quỹ BHTN là quỹ dùng để tài trợ cho ngươi lao động bị mất việc làm.

SVTH: Phạm Thị Hải
B55

14

Lớp: Đại học Kế toán

Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Theo chế độ hiện hành, quỹ BHTN được trích 2% trên tổng quỹ lương, trong đó
1% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, 1% trừ vào lương người
lao động.
*Theo điều 81 Luật BHXH, điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp là:
- Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng
trước khi thất nghiệp.
- Đã đăng kí thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm
- Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày đăng kí thất nghiệp
*Theo điều 82 Luật BHXH,mức trợ cấp thất nghiệp như sau:
- Mức trợ cấp thất nghiệp bằng 60% mức tiền lương bình quân,tiền công tháng đóng
BHTN của 6 tháng liền kề trước thất nghiệp.
- Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định như sau:
+ Ba tháng,nếu có đủ 12 tháng đến 36 tháng đóng BHTN
+ Sáu tháng,nếu có đủ từ 36 tháng đến dưới 72 tháng đóng BHTN
+ Chín tháng,nếu có đủ từ 72 tháng đến dưới 144 tháng đóng BHTN
+ 12 tháng,nếu có đủ từ 144 tháng đóng BHTN
*Theo điều 102 Luật BHXH,nguồn hình thành quỹ như sau:
- Người lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương,tiền công tháng đóng BHTN
- Người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương,tiền công tháng đóng
BHTN của những người lao động tham gia BHTN
- Hàng tháng, nhà nước hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng
đóng BHTN của những người lao động tham gia BHTN và mỗi năm chuyển một lần.
1.1.5.5 Kinh phí công đoàn ( KPCĐ )
Là khoản tiền được trích lập theo tỉ lệ 2% trên tổng quỹ lương thực tế phải trả cho
toàn bộ cán bộ công nhân viên của DN nhằm chăm lo, bảo vệ quyền lợi chinh đáng
cho người lao động đồng thời duy trì hoạt động của công đoàn tại DN.
1.1.3 Các hình thức tiền lương trong doanh nghiệp
1.1.3.1 Hình thức tiền lương theo thời gian
Trả lương theo thời gian là hình thức trả lương cho người lao động căn cứ vào
thời gian làm việc, cấp bậc lương ( chức danh) và thang lương( hệ số lương). Hình
thức này chủ yếu áp dụng cho lao động gián tiếp, công việc ổn định hoặc có thể cho cả
lao động trực tiếp mà không định mức được sản phẩm.
Trong doanh nghiệp hình thức tiền lương theo thời gian được áp dụng cho
nhân viên làm văn phòng như hành chính quản trị, tổ chức lao động, thống kê, tài vụkế toán. Trả lương theo thời gian là hình thức trả lương cho người lao động căn cứ vào
thời gian làm việc thực tế, theo ngành nghề và trình độ thành thạo nghề nghiệp, nghiệp
vụ kỹ thuật chuyên môn của người lao động.

SVTH: Phạm Thị Hải
B55

15

Lớp: Đại học Kế toán

Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Tuỳ theo mỗi ngành nghề tính chất công việc đặc thù doanh nghiệp mà áp dụng
bậc lương khác nhau. Độ thành thạo kỹ thuật nghiệp vụ chuyên môn chia thành nhiều
thang bậc lương, mỗi bậc lương có mức lương nhất định, đó là căn cứ để trả lương,
tiền lương.
Hình thức trả lương theo thời gian được quy định tại Điều 22 Nghị định số
05/2015/NĐ-CP bao gồm
 Tiền lương tháng:
Là tiền lương trả cho người lao động cố định hàng tháng trên cơ sỏ hợp đồng lao
động.
Lương + Phụ cấp
Tiền lương tháng =
xsố ngày làm thực tế
Số ngày làm việc theo quy định 1 tháng
Lương = Mức lương tối thiểu x hệ số lương
 Tiền lương tuần:
Là tiền lương tính cho người lao động theo mức lương tuần và số ngày làm việc
trong tháng .
tiền lương tháng x 12 tháng
Tiền lương tuần =
52 tuần
 Tiền lương ngày:
Là tiền lương trích cho người lao động theo mức lương ngày và số ngày làm việc
thực tế trong tháng
tiền lương cơ bản của tháng
Tiền lương ngày =
Số ngày làm việc theo quy định của 1tháng
 Tiền lương giờ:
Lương giờ dùng để trả lương cho người lao động trực tiếp trong thời gian làm việc
không hưởng lương theo sản phẩm. Được tính bằng cách lấy lương ngày chia cho số
giờ làm việc trong ngày theo chế độ. Lương giờ thường làm căn cứ để tính phụ cấp
làm thêm giờ
Mức lương ngày
Lương giờ

=
Số giờ làm việc trong ngày(8 giờ)

SVTH: Phạm Thị Hải
B55

16

Lớp: Đại học Kế toán

Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Hình thức tiền lương theo thời gian có mặt hạn chế là mang tính bình quân, nhiều khi
không phù hợp với kết quả lao động thực tế của người lao động.


Các chế độ tiền lương theo thời gian: + Lương theo thời gian đơn giản
+ Lương theo thời gian có thưởng
- Hình thức trả lương theo thời gian đơn giản: Đó là tiền lương nhận được của

mỗi người công nhân tùy theo mức lương cấp bậc cao hay thấp và thời gian làm việc
của họ nhiều hay ít quyết định.
- Hình thức trả lương theo thời gian có thưởng: Đó là mức lương tính theo thời
gian đơn giản cộng với số tiền thưởng mà họ được hưởng.
 Tiền lương làm thêm giờ:
Tiền lương làm thêm giờ = Tiền lương giờ x Mức lương x số giờ làm thêm.
Căn cứ theo thông tư số 23/2015/TT-BLĐTBXH ngày 23/6/2015 của Bộ Lao động
Thương binh và Xã hội
Mức lương giờ được xác định:
+ Mức 150% áp dụng đối với làm thêm giờ trong ngày làm việc.
+ Mức 200% áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày nghỉ hàng tuần.
+ Mức 300% áp dụng đối với giờ làm thêm vào các ngày lễ, ngày nghỉ có
hưởng lương theo quy định.
 Ưu điểm, nhược điểm của hình thức trả lương theo thời gian
- Ưu điểm:
+ Hình thức trả lương theo thời gian phù hợp với những công việc mà ở đó
chưa(không) có định mức lao động. Lương thời gian thường áp dụng để trả cho công
nhân sản xuất
+ Hình thức trả lương theo thời gianđơn giản, dề tính toán. Phản ánh được trình
độ kỹ thuật và điều kiện làm việc của từng lao động.
- Nhược điểm: Chưa gắn kết lương với kết quả lao động của từng người, do đó
chưa kích thích người lao động tận dụng thừi gian lao động, nâng cao năng suất lao
động và chất lượng lao động.
1.1.3.2 Hình thức tiền lương theo sản phẩm
Khác với các hình thức tiền lương theo thời gian, hình thức tiền lương theo sản
phẩm thực hiện việc tính trả lương cho người lao động theo số lượng và chất lượng sản
phẩm công việc đã hoàn thành.

SVTH: Phạm Thị Hải
B55

17

Lớp: Đại học Kế toán

Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Việc tính lương trực tiếp ngày cho từng người hoặc có thể tính cho từng nhóm
người lao động. Sau đó mới tính riêng cho từng người. Cụ thể: Nếu tính cho nhóm
người lao động
Tiền lương phải trả cho
người (nhóm người) lao động

= Đơn giá lương

×

Kết quả hoạt động
kinh doanh

Kết quả hoạt động kinh doanh là số lượng sản phẩm hoàn thành, doanh thu…sau
đó tính lương cho từng người lao động trong nhóm. Có thể phân chia tiền lương theo
các cách sau:
+ Phân chia theo cấp bậc của người lao động.
+ Phân chia theo cấp bậc kết hợp với thời gian làm việc thực tế.
+ Phân chia theo bình chọn cộng điểm…
Để tiến hành trả lương theo sản phẩm cần phải xây dựng định mức lao động, đơn
giá lương hợp lý trả cho từng loại sản phẩm công việc được cơ quan có thẩm quyền
phê duyệt, kiểm tra nghiệm thu sản phẩm chặt chẽ. Tiền lương sản phẩm thực hiện
theo những cách sau:
• Tiền lương theo sản phẩm trực tiếp:
Tiền lương phải trả cho người lao động được tính trực tiếp vào số lượng sản
phẩm hoàn thành đúng quy cách phẩm chất và đơn giá tiền lương sản phẩm đã quy
định, không chịu bất cứ một sự hạn chế nào
Tổng tiền lương phải trả = Số lượng sản phẩm hoàn thành thực tế
×
Đơn giá tiền lương
Đây là hình thức trả lương được doanh nghiệp áp dụng phổ biến để tính lương phải trả
cho công nhân trực tiếp sản xuất hàng loạt sản phẩm
•Tiền lương sản phẩm gián tiếp
Là tiền lương trả cho lao động gián tiếp ở các bộ phận gián tiếp ảnh hưởng đến
năng suất lao động trực tiếp vì vậy họ được hưởng lương dựa vào căn cứ kết quả của
lao động trực tiếp làm ra để tính lương cho lao động gián tiếp.
Cách tính lương này có tác dụng làm cho những người phục vụ sản xuất quan
tâm đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty vì nó gắn liền với lợi ích
kinh tế của bản thân họ .
Tổng tiền lương phải trả = Tiền lương được lãnh của bộ phận gián tiếp x Tỷ lệ
lương gián tiếp.

SVTH: Phạm Thị Hải
B55

18

Lớp: Đại học Kế toán

Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Nói chung hình thức tính lương theo sản phẩm gián tiếp không được chính xác,
còn có nhiều mặt hạn chế vì không thực tế công việc.
• Trả lương theo sản phẩm có thưởng, có phạt
Lương sản phẩm có thưởng có phạt là tiền lương trả theo sản phẩm kết hợp với
chế độ tiền thưởng trong sản xuất như nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng
suất lao động, giảm tỉ lệ hàng hư hỏng...
Tiền lương trả người lao động căn cứ vào số lượng sản phẩm đã sản xuất ra
theo đơn giá mỗi đơn vị sản phẩm, kết hợp với một hình thức tiền thưởng khi hoàn
thành hoặc hoàn thành vượt mức kế hoạch đặt ra.
Ngoài ra trường hợp người lao động làm ra sản phẩm hư hỏng gây lãng phí
nguyên vật liệu, chất lượng sản phẩm không đảm bảo và ngày công lao động không đủ
so với quy định thì người lao động có thể bị phạt và khi đó tiền lương theo sản phẩm
trực tiếp phải trừ đi khoản tiền phạt.
Hình thức tiền lương theo sản phẩm có thưởng, có phạt này có ưu điểm là khuyến
khích người lao động hăng say làm việc, có tinh thần trách nhiệm với công việc của
mình, năng cao năng suất lao động.
•Tiền lương theo sản phẩm lũy tiến
Ngoài tiền lương theo sản phẩm trực tiếp còn có một phần tiền được tính ra trên
cơ sở tăng đơn giá tiền lương ở mức năng suất cao.
Tiền lương phải trả người lao động theo hình thức này được tính như sau: Lấy
số lượng sản phẩm hoàn thành trong định mức nhân với đơn giá tiền lương định
mức cộng số lượng sản phẩm vượt định mức nhân với đơn giá tiền lương luỹ tiến
quy định.
•Tiền lương khoán theo khối lượng công việc:
Tiền lương khoán được áp dụng đối với những khối lượng công việc hoặc những
công việc cần được hoàn thành trong một thời gian nhất định
1.1.3.3 Các hình thức đãi ngộ khác ngoài tiền lương
Ngoài tiền lương thì tiền thưởng cũng là một công cụ kích thích người lao động
rất quan trọng. Thực chất tiền thưởng là một khoản tiền bổ sung cho tiền lương nhằm
quán triệt hơn nguyên tắc phân phối theo lao động. Thông qua tiền thưởng, người lao
động được thừa nhận trước Doanh nghiệp và xã hội về những thành tích của mình,

SVTH: Phạm Thị Hải
B55

19

Lớp: Đại học Kế toán

Báo cáo thực tập tốt nghiệp
đồng thời nó cổ vũ tinh thần cho toàn bộ Doanh nghiệp phấn đấu đạt nhiều thành tích
trong công việc.
Có rất nhiều hình thức thưởng, mức thưởng khác nhau tất cả phụ thuộc vào tính
chất công việc lẫn hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Để phát huy
tác dụng cuả tiền thưởng thì doanh nghiệp cần phải thực hiện chế độ trách nhiệm vật
chất đối với những trường hợp không hoàn thành nhiệm vụ, gây tổn thất cho doanh
nghiệp. Ngoài tiền thưởng ra thì trợ cấp và các khoản thu khác ngoài lương cũng có
tác dụng lớn trong việc khuyến khích lao động.
1.2 Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương
1.2.1 Hạch toán lao động trong doanh nghiệp
1.2.1.1 Hạch toán số lượng lao động
Căn cứ vào chứng từ ban đầu là bảng chấm công hàng tháng tại mỗi bộ phận,
phòng ban, tổ, nhóm gửi đến phòng kế toán để tập hợp và hạch toán số lượng lao động
trong tháng đó tại DN và cũng từ bảng chấm công kế toán có thể nắm được hàng ngày
có bao nhiêu người làm việc, bao nhiêu người nghỉ với lí do gì.
Hàng ngày tổ trưởng hoặc người có trách nhiệm sẽ chấm công cho người tham
gia làm việc thực tế trong ngày tại nơi mình quản lý sau đó cuối tháng các phòng ban
sẽ gửi bảng chấm công về phòng kế toán. Tại phòng kế toán, kế toán tiền lương sẽ tập
hợp và hạch toán số lượng công nhân viên tham gia lao động trong tháng.
1.2.1.2. Hạch toán thời gian lao động
Chứng từ để hạch toán thời gian lao động là bảng chấm công. Bảng chấm công
là bảng tổng hợp dùng để theo dõi ngày công làm việc, nghỉ việc, ngừng việc,nghĩ
BHXH của từng người cụ thể và từ đó có thể căn cứ tính trả lương, BHXH.
Hàng ngày tổ trưởng, phòng ban, nhóm... hoặc người ủy quyền căn cứ vào tình
hình thực tế của bộ phận mình quản lý để chấm công cho tùng người trong ngày và ghi
vào các ngày tương ứng trong các cột từ 1 đến 31 theo các ký hiệu quy định. Kế toán
tiền lương căn cứ vào các ký hiệu chấm công của từng người rồi tính ra số ngày công
theo từng loại tương ứng. Ngày công quy định là 8 giờ nếu giờ lẽ thì đánh thêm dấu
phẩy.( Ví dụ: 22 công 3 giờ thì ghi là 22,3)
Tùy thuộc vào điều kiện đặc điểm sản xuất,công tác và trình độ hạch toán đơn
vị có thể sử dụng một trong các phương pháp chấm công:
- Chấm công ngày: Mỗi khi người lao động làm việc tại đơn vị hoặc làm việc
khác như họp, thì mỗi ngày dùng một ký hiệu để chấm công cho người đó.

SVTH: Phạm Thị Hải
B55

20

Lớp: Đại học Kế toán