Tải bản đầy đủ
BÀI 1: CHẾ TẠO MẪU BÊ TÔNG – VỮA XI MĂNG.

BÀI 1: CHẾ TẠO MẪU BÊ TÔNG – VỮA XI MĂNG.

Tải bản đầy đủ

Học Phần Thí Nghiệm Sức bền - Vật Liệu Xây Dựng

D=





GVHD: Thầy Trương Văn Chính

1000
1000
=
= 1184.3(kg )
r.α
1
0.474 × 1.42
1
+
+
γ od γ ad
1.42
2.7
Với α là hệ số tăng vữa tra bảng, kết hợp nội suy được α = 1.42.

γ od
1.42
r =1− d =1 −
= 0.474
γa
2.7

− Tính lượng cát cho 1m3 bê tông.



 X

D

 401.8 1184.3

C = 1000 − 
+
+ N ÷ .γ ax = 1000 − 
+
+ 205 ÷ × 3.1 = 702.95( kg )
2.7
 3.1


 γ ax γ ad


b. Tính liều lượng nguyên vật liệu ở trạng thái ẩm.
− Vì vật liệu được để trong phòng thí nghiệm lâu, có độ ẩm w = 0%, nên ta có:




c.


X1 = X = 401.8 (kg).
C1 = C.(1+Wc) = 702.95 (kg).
Đ1 = D.(1+Wd) = 1184.3 (kg).
N1 = N – (C.Wc + Đ.Wd)= 205 (lít).
Kiểm tra vật liệu bằng thực nghiệm:
Lấy liều lượng nguyên vật liệu để đúc 3 mẫu bê tông (11 lít) kích thước
15x15x15cm đem nhào trộn để kiểm tra S/N dưỡng hộ sau 28 ngày trong điều
kiện chuẩn, xác định Rn lấy kết quả trung bình được Mác bê tông.
4. Kết quả thiết kế cấp phối bêtông:
− Bê tông mác M250, SN=6-8cm
α = 1.42
A = 0.6
X / N = 1.96





Nguyên vật
liệu



1m3 bê tông



11 lít bê tông



Đơn vị



Xi măng



401.8



4.5



Kg



Cát vàng



702.95



7.8



Kg



Đá dăm



1184.3



13.2



Kg

205



2.28



Lít




Nước
Phụ gia




-



-

5. Trình tự chế tạo 3 mẫu vữa xi măng
Bài Báo Cáo Thí Nghiệm Nhóm 04- ĐH KIẾN TRÚC TPHCM
Trang 21



-

Học Phần Thí Nghiệm Sức bền - Vật Liệu Xây Dựng

GVHD: Thầy Trương Văn Chính

− Mỗi mẻ cho 3 mẫu thử sẽ gồm:

450 g ± 2 g

+
+

1350 g ± 5 g
225g ± 1g

xi măng
cát

nước
Dùng cân kỹ thuật để cân đo khối lượng xi măng và cát.
Dùng ống đong lấy 225ml nước.
Cho xi măng và cát vào máng trộn, trộn khô hỗn hợp xi măng - cát bằng
phương pháp trộn tay.
Cho nước vào hỗn hợp xi măng – cát và tiếp tục trộn đều.
Khuôn đúc 3 mẫu xi măng 4x4x16cm đã chuẩn bị sẵn sàng. Quét nhẹ 1 lớp
nhớt mỏng lên thành khuôn.
Kẹp chặt khuôn đúc vào bàn dằn.
Cho hỗn hợp vữa xi măng vào khuôn làm 2 lớp, mỗi lớp có chiều cao khoảng
1/2 chiều cao khuôn.
Dằn mỗi lớp 60 cái bằng bàn dằn tương ứng với 60 giây. Bàn dằn được nâng
lên cao 15mm và rơi tự do, mỗi chu kỳ nâng lên và rơi xuống của bàn dằn là 1
giây.
Nhẹ nhàng nhấc khuôn khỏi bàn dằn và xoa phẳng mặt khuôn.
Hoàn tất quá trình đúc mẫu, ghi nhãn để nhận biết mẫu, dọn dẹp vệ sinh.
Mẫu sau khi đúc xong phải được dưỡng hộ trong điều kiện tiêu chuẩn (24 giờ
trong khuôn, trong không khí ẩm và 27 ngày ± 8 giờ ngâm trong nước ở nhiệt
+














270 ± 20 C

6.
a.






độ
), sau đó được vớt ra để thử độ bền uốn và độ bền nén => mác xi
măng.
Nhận xét và kết luận:
Thiết kế cấp phối bêtông
Bêtông ximăng là loại đá nhân tạo, được tạo thành từ hốn hợp chất kết dính
ximăng, nước, cốt liệu (cát, sỏi hay đá dăm) và phụ gia, phối hợp với nhau theo
một tỉ lệ thích hợp.
Tính toán hay thiết kế cấp phối bêtông là tìm thành phần của từng loại nguyên
vật liệu sao cho hỗn hợp bêtông đạt các chỉ tiêu kỹ thuật yêu cầu và tiết kiệm
nguyên vật liệu nhất.
Xác định được cấp phối bê tông giúp ta dự toán được số lượng vật liệu cần
dùng.
+ Cát (cốt liệu nhỏ) cùng với ximăng, nước tạo ra vữa ximăng để lắp đầy lỗ
trống giữa các hạt cốt liệu lớn (đá dăm) và bao bọc xung quanh các hạt cốt
liệu lớn để tạo ra khối bêtông đặc chắc. Cát cùng với cốt liệu lớn tạo ra bộ
khung chịu lực cho bêtông.
+ Đá (cốt liệu lớn) tạo ra bộ khung chịu lực cho bêtông.
+ Ximăng là thành phần chất kết dính để liên kết các hạt cốt liệu với nhau tạo
ra cường độ cho bêtông. Chất lượng và hàm lượng ximăng là yếu tố quan

Bài Báo Cáo Thí Nghiệm Nhóm 04- ĐH KIẾN TRÚC TPHCM
Trang 22

Học Phần Thí Nghiệm Sức bền - Vật Liệu Xây Dựng




b.





GVHD: Thầy Trương Văn Chính

trọng quyết định cường độ chịu lực của bêtông. Việc lựa chọn mác ximăng
là rất quan trọng, vì ơhải đảm bảo vừa đạt mác bêtông thiết kế vừa đàm bảo
yêu cầu kinh tế. Tránh dùng ximăng mác thấp để chế tạo bêtông mác cao và
ngược lại. Ở đây chúng ta chế tạo bêtông mác 350 sử dụng PCB40 có mác
400 là hợp lý.
+ Nước tạo ra độ lưu động cần thiết để quá trình thi công được dễ dàng, giúp
cho ximăng phản ứng tạo ra các sản phầm thủy hóa làm cường độ của
bêtông tăng lên. Ở đây, chúng ta dùng nước máy trong phòng thí nghiệm là
đảm bảo.
Ngoài ra, tùy vào mục đích sử dụng mà có thêm những chất phụ gia, xúc tác để
cải thiện một số tính chất của bêtông (tăng độ chống thấm, cải thiện độ lưu
động, đông đặc nhanh…..)
Tùy vào mỗi loại cấp phối mà sẽ có thành phần nguyên vật liệu khác nhau.
Chế tạo mẫu vữa ximăng
Vữa xây dựng là một loại vật liệu đá nhân tạo, thành phần bao gồm chất kết
dính (ximăng), nước, cốt liệu nhỏ (cát) và phụ gia (nếu có).
Đặc điểm của vữa là chỉ có cốt liệu nhỏ, khi xây và trát phải dải thành lớp mỏng
diện tích tiếp xúc với nền xây, với ặt trát và với không khí khá lớn nên nước dễ
mất đi. Vì thế, lượng nước nhào trộn vữa cần lớn hơn so với bêtông, để đủ nước
cho quá trình thủy hóa và rắn chắc của chất kết dính, tránh hiện tượng co ngót
sinh nứt nẻ kết cấu.
Ở đây, cấp phối cho 3 mẫu vữa xi măng đã được tính toán sẵn. Sinh viên thực
hiện theo những chỉ dẫn như đã trình bày ở trên.

Bài Báo Cáo Thí Nghiệm Nhóm 04- ĐH KIẾN TRÚC TPHCM
Trang 23

Học Phần Thí Nghiệm Sức bền - Vật Liệu Xây Dựng

GVHD: Thầy Trương Văn Chính

BÀI 2:
THÍ NGHIỆM XÁC ĐỊNH ĐỘ SỤT SN CỦA HỖN HỢP BÊ
TÔNG

(THEO TCVN 3106:1993)




1.

2.


Mục đích:
Xác định độ sụt SN của bê tông.
Thiết bị thử:
Côn thử độ sụt tiêu chuẩn N o1: d=100, D=200, H=300mm (Áp dụng với hỗn hợp
bêtông có Dmax <40mm). Côn thử độ sụt là một khuôn hình nón cụt, được uốn hàn
hoặc cán từ thép tôn dày tối thiểu 1.5mm. Mặt trong của côn phải nhẵn, không có
các vết nhô của đường hàn hoặc đinh tán.
φ16



3.


Que đầm (thanh thép tròn trơn
dài 600mm, 2 đầu múp tròn)
Thước lá kim loại (dài 30cm, chính xác tới 0.1cm).
Lấy mẫu thí nghiệm:
Đặt côn lên nền ẩm,cứng, phẳng, không thấm nước. Giữ côn cố định trong cả quá
trình đổ và đầm hỗn hợp bêtông trong côn.
− Đổ hỗn hợp bê tông qua phểu vào côn làm 3 lớp, chiều cao mỗi lớp khoảng 1/3
chiều cao côn.
− Dùng que đầm chọc mỗi lớp 25 lần và chọc đều trên toàn mặt hỗn hợp bê tông từ
xung quanh vào giữa. Lớp đầu chọc suốt chiều sâu các lớp sau chọc xuyên sâu
vào lớp trước 2 - 3cm. ở lớp thứ ba, vừa chọc vừa cho thêm để giữ mức hỗn hợp
luôn đầy hơn miệng côn.
− Lấy bay gạt phẳng miệng côn và dọn sạch xung quanh đáy côn. Từ từ nhấc côn
lên theo phương thẳng đứng (trong khoảng 5-10s).
− Đặt côn sang bên cạnh khối hỗn hợp vừa tạo hình và đo chênh lệch chiều cao

giữa miệng côn với điểm cao nhất của khối hỗn hợp chính xác tới 0,5cm. Số liệu
đo được chính là độ sụt của hỗn hợp bêtông. (Tổng thời gian từ khi đổ hỗn hợp
vào côn đến khi nhấc côn khỏi khối hỗn hợp phải được tiến hành không ngắt
quãng và không quá 150s).




Bài Báo Cáo Thí Nghiệm Nhóm 04- ĐH KIẾN TRÚC TPHCM
Trang 24

Học Phần Thí Nghiệm Sức bền - Vật Liệu Xây Dựng

GVHD: Thầy Trương Văn Chính

4. Số liệu, kết quả thí nghiệm:




Loại bê tông


M300



SN lý thuyết (cm)



− 16

SN thực tế (cm)


16


5. Nhận xét và kết luận:
− Tính công tác của bê tông (tính dễ tạo hình): là tính chất kĩ thuật của hỗn hợp

bêtông nó biểu thị khả năng lấp đầy khuôn nhưng vẫn đảm bảo độ đồng nhất trong
điều kiện đầm nén nhất định, được đánh giá qua 3 tính chất:
Tính lưu động (tính dẻo): là tính chất dễ chảy của hh bêtông, nhằm tạo điều kiện
dễ đổ, lắp đầy các góc, khe của ván khuôn và tạo hình đúng hình dạng yêu cầu của
kết cấu.
 Tính dính: là tính chất giúp cho hh bêtông giữ được một khối đồng nhất không bị
phân tầng khi thi công.
 Khả năng giữ nước: là khả năng của hh bêtông giữ được nước trong quá trình thi
công đảm bảo sự duy trì độ dẻo cho hh BTvà làm cho BT không bị rỗng.


− Trong đó tính dẻo là 1 đặc tính quan trọng của bê tông, ảnh hưởng đến chất lượng

bê tông. Độ dẻo của hỗn hợp bê tông dẻo được xác định bằng độ sụt SN (cm). Hỗn
hợp có độ sụt nhỏ hơn 1 (cm) được coi như không có tính lưu động, khi đó đặc
trưng tính dẻo được xác định bằng cách thử độ cứng ĐC (giây).
− Tùy từng loại kết cấu, lượng cốt thép dùng trong kết cấu (với mật độ dày hay ít),

theo yêu cầu về dộ chịu lực và phương pháp thi công, ta lựa chọn tính dẻo (độ sụt
hoặc độ cứng) khác nhau cho hỗn hợp bê tông. Nếu hỗn hợp bê tông có tính dẻo
không đạt yêu cầu sẽ ảnh hưởng lớn đến quá trình thi công cũng như chất lượng
công trình sau này.
− Khi kiểm tra vật liệu bằng thực nghiệm cho ta các kết quả sau:

Nếu SN thực tế ≈ SN yêu cầu: Bê tông thiết kế tốt.
 Nếu SN thực tế > SN yêu cầu: có thể điều chỉnh cho thêm vào hỗn hợp bê tông 1 lượng
cốt liệu.
 Nếu SN thực tế < SN yêu cầu: điều chỉnh cho thêm N và X đảm bảo tỷ số X/N không
đổi.


− Kết quả thí nghiệm cho ta độ sụt nón SN = 16 cm = SN yêu cầu (16cm) như vậy

hỗn hợp bê tông trên đã thiết kế đạt yêu cầu về độ sụt SN.


Bài Báo Cáo Thí Nghiệm Nhóm 04- ĐH KIẾN TRÚC TPHCM
Trang 25