Tải bản đầy đủ
2 Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại các trường Cao đẳng công lập trên địa bàn TP HCM

2 Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại các trường Cao đẳng công lập trên địa bàn TP HCM

Tải bản đầy đủ

36

Tổng

150

100.0

4.2.1 Thực trạng môi trường kiểm soát trong các trường Cao đẳng công lập
trên địa bàn TP HCM
Bảng 4.4: Bảng thống kê mô tả các biến quan sát MTKS

N
MT1
150
MT2
150
MT3
150
MT4
150
MT5
150
Valid N (listwise) 150

Descriptive Statistics
Nhỏ nhất Lớn nhất Trung bình Độ lệch chuẩn
3
5
3.77
.440
2
5
3.75
.570
2
5
3.76
.587
2
5
3.59
.625
2
5
3.85
.501
( Nguồn : Phụ lục 2 bảng 3)

Nhìn vào kết quả khảo sát, với kết quả thống kê điểm trung bình khoảng từ
3.59 đến 3.85. Có thể nhận thấy sự đồng tình nhất định của các thầy cô về việc nhà
trường đã tạo dựng được một môi trường kiểm soát trong sạch, đồng thời là một
môi trường giáo dục với các chuẩn mực giá trị đạo đức của các nhân viên và thầy cô
trong trường tốt. Các nhân viên trong trường, từ các phòng ban, phòng tài chính kế
toán đáp ứng được khả năng công việc và công việc được giao phù hợp với khả
năng bản thân. Các quy định về phẩm chất đạo đức nói chung đều được nhà trường
thực hiện quy củ, ban hành bằng văn bản và bằng các quy định cụ thể, được gửi về
các khoa và dán bảng tin trường nên việc chấp hành các quy định của nhà trường là
điều bắt buộc với các cán bộ nhân viên, giảng viên trong trường. Tuy nhiên với số
điểm trung bình thấp 3.59, việc tạo cơ hội cho nhân viên có cơ hội được phát triển
cần được các trường Cao đẳng công lập trên địa bàn TP HCM chú ý nhiều hơn
4.2.2 Thực trạng công tác đánh giá rủi ro trong các trường Cao đẳng công lập
trên địa bàn TP HCM
Bảng 4.5: Bảng thống kê mô tả các biến quan sát đánh giá rủi ro

37

Descriptive Statistics
N
150
150
150
150
150

RR1
RR2
RR3
RR4
RR5
Valid N
150
(listwise)

Nhỏ nhất
2
2
2
2
2

Lớn nhất
5
5
5
5
5

Trung bình
3.43
3.37
3.36
3.39
3.36

Độ lệch chuẩn
.639
.538
.594
.590
.583

( Nguồn : Phụ lục 2 bảng 4)
Số điểm trung bình khoảng từ 3.36 đến 3.43 phản ánh thực tế rằng các trường
Cao đẳng công lập trên địa bàn TP HCM chưa thực sự coi trọng vai trò của hệ thống
kiểm soát nội bộ nên việc đánh giá rủi ro tại các trường phản ánh mức độ bình
thường. Điều này sẽ nguy hiểm đến tình hình tài chính các trường khi có rủi ro xảy
ra. Một vấn đề nữa là do các trường chưa chú trọng đến công tác đánh giá rủi ro nên
khi có biến động bởi các yếu tố bên ngoài, nhiều trường lúng túng và khó bắt kịp để
ứng phó khi xảy ra rủi ro bất ngờ. Nhìn vào kết quả khảo sát ý kiến mọi người đều
đánh giá về công tác đánh giá rủi ro tại các trường chưa được lưu tâm, các mức
điểm đều rơi vào khung điểm thể hiện ý kiến trung lập. Thực tế cho thấy do đặc
trưng hoạt động của các trường thuộc lĩnh vực giáo dục nên công tác đánh giá rủi ro
còn qua loa không khắt khe như trong doanh nghiệp. Các trường Cao đẳng công lập
trên địa bàn TP HCM thực chất không có bộ phận đánh giá rủi ro riêng biệt mà
trách nhiệm được phòng tài chính kế toán kiêm nhiệm luôn. Kéo theo đó nhà trường
cũng không có bộ phận dự báo rủi ro riêng biệt mà đó là nhiệm vụ của bên kế toán.
Thực tế ngoài đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị văn phòng và các phương tiện
giảng dạy thì các khoản chi phí trong trường cũng không nhiều và phức tạp như tại
doanh nghiệp nên nhìn chung việc rủi ro trong hệ thống kiểm soát dường như ít khả
năng xảy ra, chính vì vậy đó là nguyên nhân mà các nhà trường ít khi quan tâm đến
việc đánh giá rủi ro.
4.2.3 Thực trạng hoạt động kiểm soát (HĐKS) trong các trường Cao đẳng

38

công lập trên địa bàn TP HCM
Bảng 4.6: Bảng thống kê mô tả các biến quan sát HĐKS
Descriptive Statistics
N Nhỏ nhất Lớn nhất Trung bình Độ lệch chuẩn
HD1

150

2

5

3.55

.641

HD2

150

2

5

3.39

.897

HD3

150

2

5

3.59

.707

HD4

150

2

5

3.61

.826

Valid N (listwise) 150
( Nguồn : Phụ lục 2 bảng 5)
Với số điểm trung bình nhận được khoảng từ 3.55 đến 3.61 Hoạt động kiểm soát
tại các trường Cao đẳng công lập trên địa bàn TP HCM nhìn chung khá tốt, từ việc
Nhà trường thiết lập các thủ tục cần thiết để kiểm soát mỗi hoạt động, thường xuyên
đánh giá tính hữu hiệu của hoạt động kiểm soát, phân chia trách nhiệm rõ ràng cho
từng nhân viên trong các việc: xét duyệt, thực hiện, ghi chép và bảo vệ tài sản. Tuy
nhiên khi đánh giá “Phòng kế toán xử lý và ghi chép các nghiệp vụ theo quy trình”
số điểm trung bình tương đối thấp 3.39. Do số lượng phiếu đánh giá nhỏ, công tác
xử lý trong phòng kế toán có đặc thù riêng nên đáp án chủ yếu rơi vào mức không
có ý kiến.
4.2.4 Thực trạng thông tin truyền thông trong các trường Cao đẳng công lập
trên địa bàn TP HCM
Bảng 4.7: Bảng thống kê mô tả các biến quan sát thông tin truyền thông
Descriptive Statistics
N Nhỏ nhất Lớn nhất Trung bình Độ lệch chuẩn
TT1

150

2

5

3.63

.607

TT2

150

2

5

3.60

.786

TT3

150

2

5

3.69

.655

TT4

150

3

5

3.55

.681

39

Valid N (listwise) 150
( Nguồn : Phụ lục 2 bảng 6)
Thông tin của hệ thống các trường Cao đẳng công lập trên địa bàn TP HCM là
bao gồm nhiều nguồn thông tin khác nhau, bao gồm thông tin nội bộ và thông tin
bên ngoài trường. Thông tin của các trường sử dụng chủ yếu là dưới dạng văn bản,
có thể là văn bản do trường ban hành, cũng có thể là văn bản của Bộ, Sở, hay các
ban ngành liên quan ban hành. Hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, các
thông tin, văn bản pháp luật liên quan tới lĩnh vực này luôn được các trường cập
nhật một cách kịp thời, thường xuyên và liên tục. Theo điều tra ý kiến từ các nhân
viên cho thấy thông tin truyền thông của các trường Cao đẳng công lập trên địa bàn
TP HCM được thực hiện khá tốt, hiện nay nhờ sự phát triển của internet, mạng xã
hội, thông tin gần như được cập nhật liên tục đến người học cũng như nhân viên,
giảng viên trong trường, nhà trường cũng có các kênh phản hồi ý kiến nhanh chóng
và chính xác tới từng đối tượng.

4.2.5 Thực trạng giám sát trong các trường Cao đẳng công lập trên địa bàn TP
HCM
Khảo sát tình hình giám sát tại các trường Cao đẳng công lập trên địa bàn thành
phố Hồ Chí Minh ta nhận thấy, đối với hoạt động kế toán quá trình kiểm tra, kiểm
soát được tiến hành tương đối chặt chẽ, thường xuyên và toàn diện. Các trường đều
thành lập phòng thanh tra khảo thí để tiến hành kiểm soát hoạt động đào tạo của
trường nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy. Hoạt động giám sát được thực hiện
theo nhiều hình thức. Ví dụ thông qua việc tiếp nhận ý kiến đóng góp của các cá
nhân, bộ phận, sinh viên trong trường. Định kỳ đều tổ chức, đánh giá, bình chọn lao
động. Tuy nhiên, công tác lấy ý kiến phản hồi của sinh viên về chất lượng giảng dạy
chưa thực sự được tiến hành ở hầu hết các trường. Phòng Khảo thí chủ yếu nhằm
quản lý đề thi, bài thi, có sự kiểm tra giám sát chéo giữa các đơn vị, các phòng ban
chức năng nhưng còn ít …. Giám sát chất lượng giáo dục là nội dung quan trọng

40

nhưng các trường đều ít chú trọng, ít có hoạt động kiểm tra nội dung bài giảng, dự
giờ đột xuất.
Bảng 4.8: Bảng thống kê mô tả các biến quan sát giám sát
N Nhỏ nhất Lớn nhất Trung bình Độ lệch chuẩn
GS1
150
2
5
3.68
.736
GS2
150
2
5
3.51
.766
GS3
150
2
5
3.71
.771
GS4
150
2
5
3.35
.777
GS5
150
2
5
3.35
.760
GS6
150
2
5
3.46
.924
Valid N (listwise) 150
4.3 Phân tích kết quả nghiên cứu
4.3.1 Kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng Cronbach’s alpha
Kiểm định độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha nhằm
loại trừ các biến có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0.3. Tiêu chuẩn chọn thang
đo khi nó có độ tin cậy Cronbach’s Alpha ≥ 0.7. Thang đo có độ tin cậy Cronbach’s
Alpha ≥ 0.6 cũng được chọn khi nó được sử dụng lần đầu (Nunnally & Burnstein,
1994). Về lý thuyết, Cronbach’s Alpha càng cao càng tốt (thang đo càng có độ tin
cậy), tuy nhiên không được quá 0.95 vì nó cho thấy có nhiều biến trong thang đo
không có gì khác biệt. Cronbach’s Alpha của các thang đo thành phần được trình
bày sau đây.
4.3.1.1 Môi trường kiểm soát
Từ khảo sát tại các trường Cao đẳng công lập trên địa bàn TP HCM về thực
trạng môi trường kiểm soát, với thang đo Likert 5 mức độ, yếu tố MTKS được đo
lường qua 5 biến quan sát MT1, MT2, MT3, MT4, MT5. Bằng phần mềm SPSS
20.0 phân tích độ tin cậy của thang đo Cronbach’s alpha, tác giả được kết quả như
sau:
Kết quả phân tích độ tin cậy của thang đo (Cronbach’s Alpha) lần 1 là 0.
599 < 0.7 và có 2 biến quan sát là MT1 và MT5 có tương quan biến tổng < 0.3.
(Nguồn: Theo kết quả phân tích Cronbach’s Alpha ở phụ lục 2, bảng 8)

41

Trong lần thứ 2, tác giải loại biến MT1 và MT5, kiểm tra lại độ tin cậy của
thang đo. Kết quả Cronbch’s Alpha bằng 0.719 > 0.7. Kiểm tra cả 3 biến quan sát
đều có tương quan biến tổng > 0.3 đồng thời Cronbch’s Alpha nếu loại biến bé hơn
Cronbach’s Alpha của nhóm biến. Như vậy, thang đo nhân tố MTKS đã đáp ứng độ
tin cậy.
Bảng 4.9:Kết quả kiểm định Cronbach’s alpha của nhân tố Môi trường kiểm soát
Reliability Statistics
Cronbach's Alpha N of Items
.719
3
Item-Total Statistics
Biến Trung bình thang Phương sai thang Tương quan
quan sát đo nếu loại biến đo nếu loại biến
biến – tổng
MT2
MT3
MT4

Cronbach's Alpha

nếu loại biến
7.35
1.049
.568
.598
7.34
1.085
.496
.682
7.51
.963
.557
.610
(Nguồn: Theo kết quả phân tích Cronbach’s Alpha ở phụ lục 2, bảng 9)

Đồng thời, ta thấy chỉ số trung bình của câu hỏi MT3 ” Quyền hạn và trách
nhiệm được nhà trường phân chia rõ ràng cho từng bộ phận bằng văn bản.” là cao
nhất 3.76 ( bảng 4.4) , điều này chứng tỏ lãnh đạo nhà trường đã xây dựng được quy
trình làm việc tốt.
Việc xây dựng các chuẩn mực đạo đức công việc là một yếu tố cực kỳ quan
trọng. Vậy nên mọi hoạt động đều phải thực hiện theo đúng chuẩn mực và các quy
tắc ứng xử của Nhà nước. Tuy nhiên ta cũng phải ý thức được rằng xây dựng một
môi trường làm việc chuẩn mực nó là nền tảng cho việc xây dựng một môi trường
quản lý hiệu quả. Thực hiện tốt công tác này sẽ tạo ra trong tổ chức một môi trường
làm việc thân thiện, các nhân viên và bộ phận sẽ hoạt động và tương tác với nhau
trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau. Bên cạnh đó, nó còn giúp cho mối quan hệ giữa
các nhân viên và giữa cấp trên, cấp dưới có sự tương quan mật thiết chặt chẽ. Riêng
đối với các nhà quản trị thì bên cạnh việc thực hiện tốt các quy tắc ứng xử, họ còn

42

phải có một sự công minh trong công việc. Không gây bất bình trong nội bộ các
nhân viên. Như vậy, việc xây dựng chuẩn mực đạo đức và quy trình làm việc hợp lý
sẽ giúp cho các trường hoạt động hiệu quả hơn, có sự tương quan chặt chẽ hơn. Và
đó là cơ sở để có thể xây dựng một môi trường quản lý hiệu quả.
Tuy nhiên, chỉ số trung bình ở câu hỏi MT4: “Cán bộ nhân viên, giảng viên
luôn có cơ hội để phát triển” là thấp nhất ( bảng 4.4), điều này chứng tỏ việc tạo
môi trường cho sự phát triển trong sự nghiệp của nhân viên, giảng viên còn chưa
thật sự tốt, khiến cho nhà trường thiếu đi động lực phát triển.
Các trường Cao đẳng công lập trên địa bàn TP HCM đang trong giai đoạn khó
khăn, tâm lý người học không ưa chuộng trường Cao đẳng. Trường ĐH mở ra nhiều
và tuyển sinh dễ phần nào tạo ra khó khăn cho các trường Cao đẳng trong giai đoạn
hiện nay. Nhưng với sự tích cực trong công tác quản lý của lãnh đạo các trường
trong việc tạo ra môi trường làm việc, học tập tốt, thu hút được cán bộ giảng viên và
học sinh vào học, tin chắc các trường sẽ vượt qua giai đoạn khó khăn này. Điều cần
thiết là các trường cần tạo được môi trường và cơ hội để nhân viên, giảng viên cảm
thấy mình được phát huy năng lực, có cơ hội thăng tiến trong sự nghiệp, từ đó thu
hút được nhân tài đến và ở lại làm việc
4.3.1.2 Đánh giá rủi ro
Từ khảo sát tại các trường Cao đẳng công lập trên địa bàn TP HCM về thực
trạng đánh giá rủi ro, với thang đo Likert 5 mức độ, yếu tố RR được đo lường qua 5
biến quan sát RR1, RR2, RR3, RR4, RR5. Bằng phần mềm SPSS 20.0 phân tích độ
tin cậy của thang đo Cronbach’s alpha, tác giả được kết quả như sau:
Kết quả phân tích độ tin cậy của thang đo (Cronbach’s Alpha) lần 1 là 0. 627 <
0.7 và có 1 biến quan sát là RR1 có tương quan biến tổng = 0.141 < 0.3. (Nguồn:
Theo kết quả phân tích Cronbach’s Alpha ở phụ lục 2, bảng 10). Như vậy thang đo
Đánh giá rủi ro không đáp ứng độ tin cậy.
Trong lần phân tích thứ 2, tác giả loại biến RR1, kiểm tra lại độ tin cậy của
thang đo, kết quả Cronbch’s Alpha bằng 0.695 < 0.7. và có 1 biến quan sát là RR2
có tương quan biến tổng = 0.285 < 0.3. (Nguồn: Theo kết quả phân tích Cronbach’s
Alpha ở phụ lục 2, bảng 11) Loại tiếp biến RR2, kiểm tra lại độ tin cậy của thang

43

đo, kết quả lần phân tích này có Cronbch’s Alpha =0.738 > 0.7 và 3 biến quan sát
RR3, RR4, RR5 đều có tương quan biến tổng > 0.3, Như vậy thang đo Đánh giá rủi
ro đáp ứng độ tin cậy.
Bảng 4.10: Kết quả kiểm định Cronbach’s alpha của yếu tố đánh giá rủi ro
Reliability Statistics
Cronbach's Alpha N of Items
.738
3
Item-Total Statistics
Biến Trung bình thang Phương sai thang Tương quan
quan sát đo nếu loại biến đo nếu loại biến
biến – tổng
RR3
RR4
RR5

Cronbach's Alpha

nếu loại biến
6.75
1.073
.505
.720
6.72
1.008
.584
.627
6.75
1.006
.601
.607
(Nguồn: Theo kết quả phân tích Cronbach’s Alpha ở phụ lục 2, bảng 12).

Kiểm tra thống kê mô tả tác giả thấy chỉ số mean của biến quan sát RR5:
“Nhà trường có các biện pháp nhằm giảm thiểu tác hại của rủi ro” có giá trị thấp
nhất 3.36, điều này chứng tỏ nhà trường chưa xây dựng được biện pháp phòng ngừa
nhằm giảm thiểu tác hại của rủi ro có thể xảy ra đối với sinh viên, nhân viên trong
trường
4.3.1.3 Hoạt động kiểm soát
Từ khảo sát tại các trường Cao đẳng công lập trên địa bàn TP HCM về thực
trạng hoạt động kiểm soát, với thang đo Likert 5 mức độ, yếu tố HĐKS được đo
lường qua 4 biến quan sát HD1, HD2, HD3, HD4. Bằng phần mềm SPSS 20 phân
tích độ tin cậy của thang đo Cronbach’s alpha, tác giả được kết quả như sau:
Kết quả phân tích độ tin cậy của thang đo (Cronbach’s Alpha) lần 1 là 0. 634 <
0.7. Biến quan sát HD2 có tương quan biến tổng bằng 0.251 < 0.3. (Nguồn: Theo kết
quả phân tích Cronbach’s Alpha ở phụ lục 2, bảng 13). Như vậy thang đo Hoạt động
kiểm soát không đáp ứng độ tin cậy.
Vì vậy tác giả loại biến HD2 và tiến hành phân tích Cronbach’s Alpha lần 2.
Kết quả Cronbch’s Alpha lần 2 bằng 0.701 > 0.7. Kiểm tra cả 3 biến quan sát HD1,
HD3, HD4 đều có tương quan biến tổng > 0.3, đồng thời Cronbch’s Alpha nếu loại

44

biến bé hơn Cronbach’s Alpha của nhóm biến. Như vậy, thang đo nhân tố HDKS đã
đáp ứng độ tin cậy .
Bảng 4.11: Kết quả kiểm định Cronbach’s alpha của yếu tố hoạt động kiểm soát
Reliability Statistics
Cronbach's Alpha N of Items
.701
3
Item-Total Statistics
Biến Trung bình thang Phương sai thang Tương quan
quan sát đo nếu loại biến đo nếu loại biến
biến – tổng

Cronbach's Alpha

nếu loại biến
HD1
7.20
1.718
.508
.625
HD3
7.16
1.625
.476
.656
HD4
7.13
1.230
.584
.521
(Nguồn: Theo kết quả phân tích Cronbach’s Alpha ở phụ lục 2, bảng 14)
Biến HD1. “Nhà trường thiết lập các thủ tục cần thiết để kiểm soát mỗi hoạt

động. “ nhận được sự đánh giá thấp nhất trong các biến quan sát về HDKS điều đó
cho thấy nhà trường cần phải quan tâm hơn tới việc ban hành các thủ tục kiểm soát
đối với các hoạt động trong trường
4.3.1.4 Thông tin truyền thông
Từ khảo sát tại các trường cao đẳng công lập trên địa bàn TP HCM về thực
trạng thông tin truyền thông, với thang đo Likert 5 mức độ, yếu tố thông tin truyền
thông được đo lường qua 4 biến quan sát TT1, TT2, TT3, TT4. Bằng phần mềm
SPSS 20 phân tích độ tin cậy của thang đo Cronbach’s alpha, tác giả được kết quả
như sau:
Kết quả phân tích độ tin cậy của thang đo (Cronbach’s Alpha) lần 1 là 0. 528 <
0.7 và biến TT2 có tương quan biến tổng bằng 0.037< 0.3. (Nguồn: Theo kết quả phân
tích Cronbach’s Alpha ở phụ lục 2, bảng 15). Như vậy thang đo yếu tố thông tin
truyền thông không đáp ứng độ tin cậy.
Lần chạy thứ 2 tác giả loại biến TT2, kết quả phân tích độ tin cậy của thang
đo (Cronbach’s Alpha) lần 2 là 0. 713 > 0.7 và cả 3 biến quan sát TT1, TT3, TT4
đều có tương quan biến tổng > 0.3. đồng thời Cronbch’s Alpha nếu loại biến bé hơn

45

Cronbach’s Alpha của nhóm biến. Như vậy, thang đo yếu tố thông tin truyền thông
đã đáp ứng độ tin cậy.

Bảng 4.12: Kết quả kiểm định Cronbach’s alpha yếu tố thông tin và truyền thông
lần 2
Reliability Statistics
Cronbach's Alpha
.713

N of Items
3

Item-Total Statistics
Biến Trung bình thang Phương sai thang
quan sát đo nếu loại biến đo nếu loại biến

Tương quan

Cronbach's Alpha

biến – tổng

nếu loại biến

TT1

7.25

1.301

.529

.628

TT3

7.19

1.186

.551

.598

TT4

7.33

1.174

.517

.643

(Nguồn: Theo kết quả phân tích Cronbach’s Alpha ở phụ lục 2, bảng 16).
4.3.1.5 Giám sát
Từ khảo sát tại các trường Cao đẳng công lập trên địa bàn TP HCM về thực
trạng công tác giám sát, với thang đo Likert 5 mức độ, yếu tố GS được đo lường
qua 6 biến quan sát GS1, GS2, GS3, GS4, GS5, GS6. Bằng phần mềm SPSS 20
phân tích độ tin cậy của thang đo Cronbach’s alpha, tác giả được kết quả như sau:
Kết quả phân tích độ tin cậy của thang đo (Cronbach’s Alpha) lần 1 là 0. 645 <
0.7 . trong đó biến GS3 và GS5 có tương quan biến tổng < 0.3 (Nguồn: Theo kết quả

46

phân tích Cronbach’s Alpha ở phụ lục 2, bảng 17). Như vậy Thang đo yếu tố giám
sát không đáp ứng độ tin cậy.
Trong lần chạy thứ 2 tác giả loại biến GS3 và GS5, phân tích độ tin cậy của
thang đo (Cronbach’s Alpha). Kết quả Cronbach’s Alpha đạt được là 0.717 > 0.7 và
cả 4 biến quan sát GS1, GS2, GS4,GS6 đều có tương quan biến tổng > 0.3 chứng tỏ
các biến quan sát đáp ứng độ tin cậy

Bảng 4.13: Kết quả kiểm định Cronbach’s alpha của biến Giám sát
Reliability Statistics
Cronbach's Alpha N of Items
.717
4
Item-Total Statistics
Biến
Trung bình thang Phương sai thang
quan sát đo nếu loại biến đo nếu loại biến
GS1
GS2
GS4
GS6

10.32
10.49
10.65

3.561
3.580
3.731

Tương quan
biến – tổng
.538
.493
.420

Cronbach's Alpha
nếu loại biến
.639
.662
.703

10.54
2.908
.582
.606
(Nguồn: Theo kết quả phân tích Cronbach’s Alpha ở phụ lục 2, bảng 18)

4.3.2 Phân tích nhân tố khám phá – EFA
Phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) là tập kỹ thuật
phân tích thống kê có liên hệ với nhau dùng để rút gọn một tập hợp nhiều biến quan
sát có mối tương quan với nhau thành một tập biến (gọi là các nhân tố) ít hơn để
chúng có ý nghĩa hơn nhưng vẫn chứa đựng hầu hết nội dung thông tin của tập biến
ban đầu (Trích Nguyễn Đình Thọ, 2011). Cụ thể, khi đưa tất cả các biến thu thập
được (24 biến) vào phân tích, các biến có thể có liên hệ với nhau. Khi đó, chúng sẽ
được gom thành các nhóm biến có liên hệ để xem xét và trình bày dưới dạng các
nhân tố cơ bản tác động đến sự hoàn thiện HTKSNB tại các trường CĐCL trên địa
bàn TP HCM. Sau khi tiến hành kiểm định bằng hệ số Cronbach's Alpha ở trên