Tải bản đầy đủ
Bàn luận về kết quả nghiên cứu

Bàn luận về kết quả nghiên cứu

Tải bản đầy đủ

45

Theo kết quả điều tra dịch tễ học mắt hột 8 tỉnh phía Bắc năm 2001 của Cục Y
tế Dự phòng, tỷ lệ mắc MHHT ở nữ cao hơn ở nam có ý nghĩ thống kê (p < 0,05),
nữ có nguy cơ mắc MHHT cao hơn nam 1,2 lần [4]. Tuy nhiên, đây là tỷ lệ MHHT
chung cho các lứa tuổi. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Chí Dũng trên đối tượng
trẻ dưới 15 tuổi cũng đưa ra kết quả là nữ có nguy cơ mắc MHHT cao hơn nam có
ý nghĩa thống kê (p < 0,001) [7]. Trong nghiên cứu này của chúng tôi, không thấy
có sự khác biệt này (p > 0,05).
2.2. Điều kiện vệ sinh hộ gia đình.
Tỷ lệ hố xí không hợp vệ sinh còn rất cao. Tỷ lệ hố xí cầu/thùng còn cao, chiếm
31,1%, hố xí đào 12,0% và hố xí khô 1 ngăn chiếm 22,8%. Vẫn còn 10,1% số hộ
không có hố xí. Tỷ lệ hố xí hợp vệ sinh chỉ chiếm 24%. Theo phân loại của nhóm
nghiên cứu, tỷ lệ hố xí xếp loại hợp vệ sinh chỉ chiếm 16,5%, có 83,5% hộ gia đình
có hố xí xếp loại không hợp vệ sinh. Đây cũng có thể là do điều kiện kinh tế của xã
còn thấp. “...Xã Hữu Văn là một trong những xã nghèo của huyện, của tỉnh. Trước
kia, với tiêu chí phân loại hộ nghèo cũ, xã cũng có tới 30% hộ xếp vào diện hộ
nghèo. Sau một thời gian, điều kiện kinh tế được nâng cao lên. Nhưng theo chuẩn
nghèo mới, xã cũng có khoảng 30% hộ thuộc diện hộ nghèo. Năm 2005 có 16% hộ
nghèo, nhưng đến năm 2006 có tới 30% hộ, 574/1678 hộ…”(PV2) và thói quen
dùng phân để bón ruộng “…đi ngoài xong, phủ 1 lớp gio bếp lên, ủ một thời gian
rồi đem bón ruộng, ở đây như thế gọi là hố xí gio…” (PV1)
Tỷ lệ dùng nước sạch cho sinh hoạt của các hộ rất cao. Phần lớn hộ gia đình
dùng nước giếng đào (67,8%) và giếng khoan (31,5%), một số rất ít dùng nước mưa
(0,4%) và dùng nước sông (0,4%) dùng cho sinh hoạt. tỷ lệ này khác biệt so với
nghiên cứu của Ngô Kim Hoa.
Tỷ lệ hộ không nuôi gia súc khá cao. Có 33,3% hộ không có chuồng gia súc và
11,2% hộ có chuồng gia súc nhưng không sử dụng. “..Bây giờ chăn nuôi nhỏ lẻ
không cho thu nhập cao nữa. Xã tôi, hoặc là họ chăn nuôi với số lượng lớn, hoặc là
họ đi lên Hà Nội đi chợ. Dân cũng không nuôi lợn nhiều nữa, chủ yếu nuôi bò. Xã

46

có chủ trương đưa chuồng gia súc ra xa nhà, ra cánh đồng, chăn nuôi tập chung..”.
(PV2). Còn 52,1% hộ có chuồng gia súc gần nhà.
Mật độ ruồi tại các hộ gia đình, theo kết quả điều tra thì có 74,9% số hộ xếp vào
nhóm nhiều ruồi, 23,2% hộ xếp vào nhóm ít ruồi. Chỉ có 1,9% hộ không có ruồi.
Kết quả này khác rất nhiều so với nghiên cứu của Ngô Kim Hoa (Tỷ lệ tương ứng là
7,2% - 7,7% - 85,1%) [9]. Điều này cũng thể là do vệ sinh chung của các hộ chưa
tốt, có tới 60,7% hộ có vệ sinh trong nhà và khuôn viên bẩn, và thói quen dùng
phân bón ruộng.
2.3. Hành vi vệ sinh cá nhân.
Hành vi sử dụng khăn mặt rửa mặt ở học sinh chưa đúng có tỷ lệ khá cao. Có
5,6% học sinh không dùng khăn rửa mặt, “..Cháu không dùng khăn, cháu dùng tay
rửa mặt..” (Học sinh trả lời trong phiếu phát vấn). Phần lớn học sinh có dùng khăn
để rửa mặt, nhưng có tới 65,9% học sinh dùng chung khăn rửa mặt với người khác
trong gia đình. Theo kết quả của nhiều nghiên cứu, nó là nguy cơ cao mắc MHHT
[10],[19]. Kết quả này cũng tương đương với kết quả của Ngô Kim Hoa (68% dùng
chung khăn, 32% dùng riêng khăn) [9], và kết quả nghiên cứu của Nguyễn Chí
Dũng (56% dùng chung khăn, 44% dùng riêng khăn). Lứa tuổi này, các em đã có
thể tự vệ sinh cho mình, nhưng có thể thực hiện sẽ chưa đúng cách, vẫn cần phải có
sự hướng dẫn của người lớn.
Có 212 hộ sử dụng chậu để rửa mặt, nhưng có tới 41,6% hộ dùng chung chậu
rửa mặt với việc khác. Tình trạng vệ sinh chậu rửa mặt không được tốt, có 69,8%
hộ có chậu bẩn và không thường xuyên đánh rửa chậu.
2.4. Kiến thức của học sinh về bệnh mắt hột.
Về kiến thức biểu hiện của bệnh, số học sinh trả lời đúng và đủ 3 triệu chứng chỉ
có 35 học sinh, chiếm 13,1%. Số học sinh không trả lời đúng triệu chứng nào rất
cao, 120 học sinh, chiếm 44,9%. Còn 26,6% học sinh cho rằng bệnh mắt hột không
lây hay không biết có lây hay không. Về tác hại của bệnh, vẫn còn 23,2% học sinh
cho rằng bệnh mắt hột không có tác hại gì hay không biết có tác hại hay không.

47

Kiểm tra kiến thức về phòng bệnh cho kết quả tốt hơn: có 90,7% lựa chọn cho rằng
nên sử dụng khăn mặt riêng, 59,3% lựa chọn cho rằng sử dụng chậu rửa mặt riêng.
Xếp loại kiến thức, tỷ lệ học sinh không đạt còn cao. Kiến thức về biểu hiện chỉ
có 30,3% học sinh xêp loại đạt, 69,7% xếp loại không đạt; Kiến thức về tính lây lan:
73,4% đạt - 26,6% không đạt; Kiến thức về hành vi làm lây bệnh: 30,6% - 69,4%;
Kiến thức về tác hại của bệnh: 49,4% - 50,6%; Kiến thức về phòng bệnh: 54,3% 45,7%. Vấn đề này có thể là do bản thân các em không được cung cấp thông tin,
hay được giảng dạy về phòng chống bệnh mắt hột. Trước kia, khi ITI triển khai
truyền thông toàn dân và trong trường học về bệnh mắt hột thì các em này còn nhỏ.
2.5. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng mắc bệnh MHHT
2.5.1. Mối liên quan giữa điều kiện vệ sinh gia đình với tình trạng mắc bệnh
Chúng tôi không tìm thấy sự khác biệt giữa tỷ lệ mắc MHHT của học sinh dùng
giếng khoan với giếng đào (p > 0,05), dù đây là một trong những yếu tố được cho
rằng có liên quan tới việc mắc bệnh MHHT. Nghiên cứu của Ngô Kim Hoa cũng
cho kết quả tương tự [9].
Về vệ sinh hố xí, chúng tôi chưa tìm thấy mối liên quan giữa vệ sinh hố xí với
tình trạng bệnh MHHT (p > 0,05). Có sự khác biệt với các nghiên cứu trước:
Nghiên cứu của Ngô Kim Hoa cho thấy có mối liên quan (p < 0,05), với OR = 2,51
(CI95% (1,15 ; 5,51)) [9], một nghiên cứu khác Ngô Kim Hoa cho kết quả OR =
2,53 (p < 0,05) [10]. Hộ có hố xí không hợp vệ sinh trẻ có nguy cơ mắc bệnh
MHHT cao hơn hộ có hố xí hợp vệ sinh. Nghiên cứu của Phan Kim Trọng cũng
cho thấy có mối liên quan (p < 0,05), với OR = 2,62 (CI95%(1,08 ; 6,63)) [].
Nghiên cứu của Nguyễn Chí Dũng cũng đưa ra được mối liên quan này (p<0,001),
OR = 1,64 [7]. Có thể trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ hố xí không hợp vệ sinh
chiếm tỷ lệ quá cao, 83,5%, nên không đưa ra được mối liên quan giữa vệ sinh hố xí
với tình trạng bệnh. Do đó vấn đề truyền thông, vận động các hộ gia đình xây mới
và sử dụng hố xí hợp vệ sinh cần phải được thực hiện.

48

Chúng tôi không tìm thấy sự khác biệt về tỷ lệ mắc bệnh giữa hộ có chồng gia
súc gần nhà và hộ có chuồng gia súc xa nhà, p > 0,05. Kết quả này có sự khác biệt
với các nghiên cứu trước.
Chúng tôi thấy có mối liên quan giữa vệ sinh trong nhà và khuôn viên với tình
trạng mắc bệnh MHHT của học sinh, χ 2 = 5,78 (CI95%: 1,18 - 23,48). Hộ gia đình
có vệ sinh nhà và khuồn viên bẩn học sinh có nguy cơ mắc bệnh cao hơn hộ có vệ
sinh sạch sẽ là 5,25 lần (α = 0,05). Kết quả điều tra dịch tễ học bệnh mắt hột 8 tỉnh
phía Bắc cho thấy mối liên quan, với OR = 1,26 [2].
Chúng tôi không tìm thấy sự khác biệt tỷ lệ mắc MHHT giữa học sinh nhà có
nhiều ruồi với học sinh nhà có ít ruồi, giữa học sinh nhà có chuồng gia súc gần nhà
so với học sinh nhà có chuồng gia súc xa nhà. Có thể mẫu nghiên cứu chưa đủ lớn
để tìm ra sự khác biệt này.
2.5.2. Mối liên quan giữa hành vi vệ sinh cá nhân với tình trạng mắc bệnh
Có sự khác biệt tỷ lệ mắc MHHT giữa học sinh rửa mặt<2 lần/ngày với học sinh
rửa mặt ≥2 lần/ngày. OR = 5,07 (CI95%: 1,62 - 15,89). Học sinh rửa mặt <2
lần/ngày có nguy cơ mắc bệnh cao hơn học sinh rửa mặt ≥ 2 lần/ngày 5,07 lần (α =
0,05). Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Chí Dũng cho thấy có mối liên quan giữa hai
yếu tố này ( p < 0,001), OR = 1,92 [7]. Kết quả này tương tự với kết quả của
Asuman Guraksin và Gulay Gullulu [19]. Nhiều nghiên cứu khác cho kết luận là
học sinh giữ mặt sạch ít có nguy cơ mắc MHHT hơn so với học sinh có mặt bẩn [2],
[19]. Do đó, vấn đề giáo dục cho học sinh về vệ sinh cá nhân, về rửa mặt hàng ngày
nhiều hơn 2 lần để phòng chống MHHT tốt hơn.
Có mối liên quan giữa việc sử dụng khăn mặt với tình trạng mắc bệnh của học
sinh, χ2 = 12,09, p < 0,05. OR = 6,43 (CI95%: 1,98 - 20,88). Học sinh dùng chung
khăn mặt với người khác trong gia đình có nguy cơ mắc bệnh cao hơn học sinh có
khăn mặt riêng 6,43 lần (α = 0,05). Các nghiên cứu của Phan Kim Trọng [12],
Nguyễn Chí Dũng [7], Asuman Guraksin và Gulay Gullulu [19] cũng cho kết quả
tương tự. “... dân cũng có ý thức hơn trong việc sử dụng khăn mặt rửa mặt, đa

49

phần đều đã dùng khăn. Tuy nhiên, do thói quen, dân mà, họ cũng dùng chung lẫn
lộn, có nhà cả nhà chỉ có 1 cái chung. Trước cũng truyền thông rồi đấy...” (PV1)
Có sự khác biệt tỷ lệ mắc MHHT giữa học sinh dùng gối ngủ riêng với học sinh
dùng gối ngủ chung với người khác trong gia đình. OR = 6,67 (CI95%: 2,05 21,69). Học sinh dùng chung gối ngủ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn học sinh có gối
ngủ riêng 6,67 lần (α = 0,05). Kết quả điều tra dịch tễ học mắt hột 8 tỉnh phía Bắc
cũng cho thấy mối liên quan này, OR = 1,3 [4]. Việc dùng gối chung là nguy cơ
cao gây lây bệnh MHHT, học sinh có thể bị lây bệnh trực tiếp qua ghèn rử mắt của
thành viên mắc MHHT trong gia đình nếu dùng chung gối ngủ với họ
2.5.3. Mối liên quan giữa một số thói quen với tình trạng bệnh.
Trong nghiên cứu này chúng tôi thấy có mối liên quan giữa việc tắm sông với
tình trạng mắc bệnh của học sinh, χ2 = 5,34, p < 0,05. OR = 3,07 (CI95%:1,14 8,29). Học sinh có tắm ở sông có nguy cơ mắc bệnh cao hơn học sinh chưa bao giờ
tắm ở sông 3,07 lần (α = 0,05).
2.5.4. Mô hình phân tích hồi qui logic
Học sinh rửa mặt < 2 lần/ngày có nguy cơ mắc bệnh cao hơn học sinh rửa mặt
≥2 lần/ngày là 5,6 lần (CI95% : 1,383 – 22,780), p < 0,05, sau khi đã kiểm soát tác
động của 9 biến còn lại. Độ mạnh sự kết hợp này không tăng lên nhiều so với khi
phân tích 2 biến (ORthô = 5,1), sự biến thiên này <10%.
Học sinh dùng chung khăn mặt với người khác trong gia đình có nguy cơ mắc
bệnh cao hơn học sinh dùng riêng khăn mặt là 6,0 lần (CI95% : 1,640 – 22,026), p <
0,05, sau khi đã kiểm soát tác động của 9 biến còn lại. OR giảm so với khi phân tích
2 biến (ORthô = 6,4), sự biến thiên này < 10%.
Học sinh dùng chung gối ngủ với người khác trong gia đình có nguy cơ mắc
bệnh cao hơn học sinh dùng gối riêng là 4,6 lần (CI95% : 1,247 – 17,055) sau khi
đã kiểm soát tác động của 9 biến còn lại (OR thô= 6,7). Rõ ràng ORkiểm soát đã giảm đi
31,3% so với ORthô.

50

Chương 5: KẾT LUẬN
1. Tỷ lệ mắc MHHT
- Tỷ lệ mắc MHHT của học sinh là 6,4% (CI95%: 3,06% - 8,94%)
- Tỷ lệ mắc MHHT theo giới là: Nữ 5,3%; Nam 7,4%. Không có sự khác biệt
giữa tỷ lệ mắc MHHT theo giới (p > 0,05).
2. Vệ sinh cá nhân của học sinh
- Còn 5,6% học sinh không dùng khăn để rửa mặt, 28,5% học sinh dùng khăn
rửa mặt chung với người khác trong gia đình; 65,9% học sinh đã có khăn mặt
riêng.
- Tỷ lệ học sinh dùng khăn mặt có khăn mặt bẩn là 74,5%; Chỉ 25,5% giữ khăn
mặt sạch sẽ.
- 41,6% học sinh dùng chậu rửa mặt chung với việc khác, 37,8% có chậu rửa
mặt riêng.
- 69,8% chậu rửa mặt là chậu bẩn ; 30,2% chậu rửa mặt sạch sẽ.
- 26,6% học sinh dùng chung gối với người khác trong gia đình; 63,7% học sinh
đã có gối ngủ riêng.
3. Kiến thức của học sinh về bệnh mắt hột
- Chỉ có 13,1% học sinh trả lời đủ 3 triệu chứng của bệnh mắt hột; 44,9% học
sinh không trả lời đúng triệu chứng nào.
- 73,4% học sinh cho rằng bệnh có lây; 26,6% học sinh cho rằng bệnh không lây
hoặc không biết.
- 23,2% học sinh cho rằng bệnh mắt hột không có tác hại gì hoặc không biết;
59,6% cho rằng gây mù.
- 90,7% lựa chọn để phòng bệnh mắt hột nên dùng khăn mặt riêng, 59,3% lựa
chọn cho rằng nên dùng chậu rửa mặt riêng, 56,6% lựa chọn cho rằng không
nên tắm ở ao/sông/hồ. 41,5% lựa chọn cho rằng cần phải diệt ruồi, vệ sinh môi
trường.

51

Xếp loại kiến thức Đạt/không đạt:
- Kiến thức về biểu hiện của bệnh: 30,3% / 69,7%
- Kiến thức về tính lây lan của bệnh: 73,4% / 26,6%
- Kiến thức về hành vi gây lây bệnh: 30,6% / 69,4%
- Kiến thức về tác hại của bệnh: 49,4% / 50,6%
- Kiến thức về phòng bệnh: 54,3% / 45,7%
4. Một số yếu tố liên quan tới tình trạng mắc bệnh
Phân tích đa biến:
- Học sinh rửa mặt < 2 lần/ngày có nguy cơ mắc bệnh cao hơn học sinh rửa
mặt ≥2 lần/ngày là 5,6 lần (CI95% : 1,383 – 22,780), p < 0,05, sau khi đã
kiểm soát tác động của 9 biến còn lại.
- Học sinh dùng chung khăn mặt với người khác trong gia đình có nguy cơ
mắc bệnh cao hơn học sinh dùng riêng khăn mặt là 6,0 lần (CI95% : 1,640 –
22,026), p < 0,05, sau khi đã kiểm soát tác động của 9 biến còn lại
- Học sinh dùng chung gối ngủ với người khác trong gia đình có nguy cơ mắc
bệnh cao hơn học sinh dùng gối riêng là 4,6 lần (CI95% : 1,247 – 17,055)
sau khi đã kiểm soát tác động của 9 biến còn lại.