Tải bản đầy đủ
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ

7

hiện sớm và rút lui chậm so với hột. Trong nhiều giai đoạn của bệnh mắt hột, thâm
nhiễm thể hiện rõ ràng đặc biệt ở giai đoạn 2 và giai đoạn 3. Còn thâm nhiễm là
bệnh mắt hột còn hoạt tính.
b) Hột
Hột là phản ứng đặc hiệu của kết mạc đối với Chlamydia. Không có hột mắt hột
ở trẻ sơ sinh trong 3 tháng đầu vì tổ chức bạch nang của kết mạc chỉ được hình
thành từ 3 đến 6 tháng sau khi đẻ.
Tính chất của hột trên kết mạc trong bệnh mắt hột:
• Vị trí: Thường là ở kết mạc sụn mi trên, cùng đò trên
• Giai đoạn tiến triển:
- Hột non: nổi thành nửa hình cầu – hột trong.
- Hột chín: hột rất nông, màu đục lờ như nước gạo
• Hột có thể tập chung dính sát vào nhau và dễ vỡ
• Kích thước: Không đều, từ 0,5mm – 1mm.
Hột là tổn thương cơ bản được dùng sử dụng nhiều nhất để chẩn đoán bệnh mắt
hột
c) Sẹo mắt hột
Sẹo là yếu tố đặc hiệu nhất của bệnh mắt hột. Sẹo do các hột vỡ ra, sẹo còn do
cả quá trình thoái triển của thâm nhiễm. Sẹo có thể là những đoạn xơ trắng nhỏ,
hình hoa khế hay hình sao, sẹo có thể là những dải dài cắt qua mạch máu. Sẹo có
thể gây cạn cùng đồ, làm mi cụp vào, lông mi cọ lên giác mạc.
d) Nhú gai
Cấu tạo của nhú là một khối tổ chức liên kết tăng sinh do viêm xung quanh giới
hạn bằng những khe liên bào, giữa nhú có một trụ mạch máu thẳng góc với bề mặt
kết mạc và tỏa ra thành bó tận cùng ngay sát dưới liên bào kết mạc.
Nhú thường xuất hiện nhiều ở hai góc kết mạc, bờ trên sụn. Nhú không có ở kết
mạc cùng đồ. Nhú xuất hiện trong viêm kéo dài hoặc một sự kích thích liên tục nào
đó của kết mạc. Nhú không phải là yếu tố đặc hiệu của bệnh mắt hột [17].

8

2.2. Các tổn thương cơ bản của bệnh mắt hột trên giác mạc
a) Thâm nhiễm
Thâm nhiễm là sự thâm nhập của các tế bào viêm từ hệ thống mạch máu vùng
rìa giác mạc. Thâm nhiễm xuất hiện sớm ngay từ giai đoạn đầu trên giác mạc. Thâm
nhiễm có hai thời kỳ:
- Thời kỳ sơ phát
- Thời kỳ hoạt tính
b) Sẹo
- Liềm sẹo: thường ở phần trên của giác mạc, màu trắng.
- Lõm hột: do những hột nằm trong vùng rìa thoái triển và làm sẹo. Ta nhìn
thấy những hố tròn, lõm xuống (lõm Herbert). Đó là di chứng của hột bị mất tổ
chức mà biểu mô giác mạc đã phủ đầy vào.
- Đường viền của vùng rìa: thường rõ rệt ở nửa trên. Nửa dưới của những
đường viền nằm ở cùng trong suốt nên sẹo không rõ rệt [17].
2.3. Màng máu
Màng máu là tổn thương đặc hiệu của bệnh mắt hột trên giác mạc. Màng máu
thường khu trú ở lớp nông và ở phần trên của giác mạc. Màng máu thể hiện bằng:
- Viêm biểu mô giác mạc, thâm nhiễm ở giác mạc
- Hột hoặc di chứng hột
- Tân mạch [17].
3. Các biến chứng của bệnh mẳt hột:
• Viêm kết mạc – bờ mi phối hợp
• Lông xiêu, quặm
• Viêm loét giác mạc
• Viêm mủ túi lệ, tắc lệ đạo
• Khô mắt [17].
4. Phân loại bệnh mắt hột:
Phân loại của Tổ chức Y tế thế giới (WHO – 1987), đánh giá tổn thương ở kết
mạc sụn mi trên 5 dấu hiệu (không tính hai góc bờ mi sụn và bờ trên sụn). Kết mạc

9

sụn mi trên bình thường phải nhẵn, bóng, hồng, mỏng và trong suốt, thấy rõ những
mạch máu nằm sâu chạy dọc trên bề mặt sụn mi trên [17].
4.1 Năm dấu hiệu để chuẩn đoán và phân loại bệnh mắt hột:
• TF (Trachomatous inflammation – Follicular): Viêm mắt hột có hột

- Có ít nhất 5 hột trên kết mạc sụn mi trên
- Đường kính của hột ≥ 0,5mm
Đánh giá:
- Bệnh mắt hột vừa
- Tỷ lệ TF nói lên sự lây lan của bệnh mắt hột trong cộng đồng
• TI (Trachomatous inflammation – Iuteuse): Viêm mắt hột nặng –
thâm nhiễm

- Kết mạc sụn mi trên thâm nhiễm, dày đỏ. Thâm nhiễm che mờ trên nửa hệ
mạch máu kết mạc sụn, bao trùm TF (có hột)
Đánh giá:
- Viêm mắt hột nặng
- Tỷ lệ TI nói lên sự trầm trọng của bệnh mắt hột ở trẻ em trong cộng đồng
TF và TI: là mắt hột hoạt tính. Nếu tỷ lệ TF ≥ 20%, hoặc TI ≥ 5% ở trẻ em
dưới 10 tuổi thì cần phải tiến hành chương trình phòng chống mắt hột ở địa
phương đó.
• TS (Trachomatous Scarring): Sẹo

10

- Sẹo trên kết mạc: Các đoạn xơ trắng nhỏ, dải sẹo hình sao, hình mạng lưới
Đánh giá:
- Có bệnh mắt hột, bệnh mắt hột đã làm sẹo
• TT (Trachomatous Trichiasis): Quặm, lông xiêu

- Có ít nhất 1 lông mi cọ vào nhãn cầu, hoặc bệnh nhân mới nhổ lông xiêu
Đánh giá:
- Bệnh mắt hột có biến chứng
• CO (Corneal Opacity): Đục giác mạc

- Sẹo đục trên giác mạc che lấp một phần hay toàn bộ đồng tử.
Đánh giá:
Bệnh mắt hột có hậu quả gây mù ở cộng đồng [17], [31].
5. Dịch tễ học bệnh mắt hột
5.1. Tác nhân gây bệnh mắt hột:
Bệnh mắt hột là do vi khuẩn Chlamydia trachmatis gây nên. Chlamydia
trachmatis là vi khuẩn Gram (-), bắt buộc sống ký sinh trong tế bào. Vi khuẩn này
vừa có đặc điểm giống vi khuẩn vừ có đặc điểm giống virus. Nó cũng có vách tế

11

bào, bên trong có cả ADN và ARN, nhưng lại không có men tổng hợp ATP, nên
phải phụ thuộc hệ thống năng lượng của tế bào túc chủ. Những túp của Chlamydia
trachmatis gây mắt hột chủ yếu là A, B, Ba và C [17].
5.2.Ổ chứa của bệnh mắt hột:
Người là ổ chứa của Chlamydia trachmatis. Nguồn lây nhiễm bệnh mắt hột là
người bị mắt hột hoạt tính. Mắt hột lây nhiễm sang người lành qua các dịch tiết
chứa Chlamydia trachmatis như dử mắt, nước mũi của người bệnh [11],[17],[31].
5.3. Các đường lây truyền của bệnh mắt hột
Bệnh mắt hột lây truyền qua 4 đường chính sau:
• Cách lây gián tiếp:
Qua ruồi (mắt - ruồi - mắt): Loài ruồi hay đậu ở mắt người là sinh vật trung gian
truyền bệnh cơ học mang vi khuẩn từ mắt người bệnh sang mắt người lành. Đây là
hình thức lây trong cộng đồng.
Qua đồ vật nhiễm vi khuẩn (mắt - đồ vật trung gian - mắt): Như khăn mặt, khăn
mùi xoa, gối, quần áo...dính vi khuẩn từ mắt người bệnh đem tiếp xúc với mắt
người lành làm lây bệnh. Hình thức này hay gặp ở trong gia đình.
Qua tay bẩn (mắt – tay - mắt): Tay chạm vào mắt người bệnh dính vi khuẩn rồi
lại đưa lên mắt người lành hoặc dụi tay lên mắt bệnh rồi lại dụi tay đó lên mắt lành
của bản thân. Cách này được coi là phương thức người lành tự làm lây nhiễm.
• Cách lây trực tiếp
Ngoài ra, tiếp xúc trực tiếp từ mắt sang mắt mắt làm cho vi khuẩn truyền từ mắt
người bệnh sang mắt người lành. Hình thức này hay gặp ở từ trẻ sang người mẹ và
ngược lại hay trẻ với trẻ khi chơi.
Các yếu tố nguy cơ của bệnh mắt hột:
Cho đến nay, trên thế giới đã có khá nhiều nghiên cứu về dịch tễ học mắt hột và
Việt nam cũng có một số điều tra về bệnh này. Một số yếu tố nguy cơ, thuận lợi cho
lây lan bệnh mắt hột đã được các nghiên cứu chỉ ra là tuổi, giới, thiếu nước sạch,
thực hành vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường kém, nghèo đói, kinh tế xã hội
kém phát triển.

12

 Một số đặc điểm của người mắc bệnh:
- Tuổi:
Tuổi là một yếu tố liên quan với phân bố các dấu hiệu của bệnh mắt hột. Nghiên
cứu của Dawson và nhóm cộng sự nhận xét tuổi là yếu tố quan trọng nhất của người
ảnh hưởng tới mức độ viêm nhiễm MHHT, đa số các trường hợp mắt hột hoạt tính
gặp ở trẻ dưới 10 tuổi. Trẻ càng lớn thì tỉ lệ mắt hột hoạt tính càng giảm. Ngược lại,
người lớn thường có tỉ lệ mắt hột hoạt tính thấp và ít bị viêm mắt hột nặng [25]. Các
nghiên cứu khác cũng cho rằng mắt hột hoạt tính tập chung ở lứa tuổi trẻ em [1],[2],
[7].
- Giới tính:
Với nhóm trẻ chưa đến tuổi đi học, tỉ lệ mắc và mức độ viêm nhiễm MHHT
có vẻ giống nhau ở cả hai giới. Ở trẻ em lớn tuổi hơn trong cộng đồng mắt hột lưu
hành với tỉ lệ mắc cao thì có sự khác biệt về giới đối với mắc bệnh mắt hột [11].
Theo các nghiên cứu ở miền nam Iran và Nam Phi tỉ lệ mắc mắt hột hoạt tính vừa
và nặng cao hơn ở trẻ em gái lớn và phụ nữ trẻ. Điều này phù hợp với nhận xét phụ
nữ có tỉ lệ quặm và nguy cơ mù loà cao hơn nhiều lần so với nam giới [2],[21].
 Các yếu tố môi trường và thực hành vệ sinh
- Tiếp cận và sử dụng nước
Không có nước sạch dùng trong sinh hoạt là yếu tố nguy cơ chính của nhiều
bệnh nhiễm khuẩn trong đó có mắt hột. Theo nghiên cứu của Nguyễn Chí Dũng và
Điều tra dịch tễ học mắt hột 8 tỉnh miền Bắc chỉ ra là trẻ sử dụng nguồn nước bẩn
rửa mặt có nguy cơ mắc mắt hột hoạt tính cao hơn nhóm trẻ sử dụng nguồn nước
sạch một cách có ý nghĩa thống kê [7]. Nghiên cứu của A. Pruss và S. P. Mariotti
cho thấy khoảng cách tiếp cận nước có mối liên quan tới tính trạng mắc bệnh
MHHT. Người dân ở xa nguồn nước có nguy cơ mắc bệnh MHHT cao hơn có ý
nghĩa thống kê (p > 0,001) so với người dân ở gần nguồn nước hơn [20]. Nhìn
chung, ở những vùng lưu hành mắt hột, các cộng đồng không có đủ nguồn nước
sạch để sử dụng cho sinh hoạt xu hướng mắc bệnh mặt hột nhiều hơn.
- Ruồi

13

Một trong các yếu tố nguy cơ của bệnh mắt hột là sự có mặt của ruồi. Vai trò
véc tơ truyền bệnh mắt hột qua vận chuyển vi khuẩn C. trachomatis của ruồi đã
được minh chứng trong phòng thí nghiệm. Đặc biệt, nghiên cứu của nhóm Emeson
P.M. đã xác định được hai loài ruồi Musca sorbens và Musca domestica, chuyên
đậu vào mắt chính là véc tơ lây truyền mắt hột [11]. Một số nghiên cứu ở vùng lưu
hành bệnh mắt hột phát hiện tỉ lệ MHHT tăng có liên quan với mật độ ruồi tăng.
Tuy nhiên, ruồi có thể không phải yếu tố truyền bệnh quan trọng nhất, một số
nghiên cứu đã tìm thấy người mắc bệnh mắt hột ở vùng ít ruồi hoặc thậm chí không
có ruồi
- Gia súc
Sự có mặt của gia súc và sở hữu gia súc có mối liên quan đến mắt hột đã được
chỉ ra trong một vài nghiên cứu [2], [7].
Với môi trường khô hanh, phân súc vật sẽ tạo môi trường thuận lợi cho việc sinh
sản của ruồi, điều này giải thích mối liên quan giữa gia súc và mắt hột. Tuy nhiên,
ruồi và gia súc là những chỉ số dự báo độc lập về mắt hột nặng, điều này gợi ý các
yếu tố khác kết hợp với việc có gia súc cũng quan trọng tại một số cộng đồng, gia
súc được coi là dấu hiệu gia đình với kiểu sống truyền thống, với điều kiện sống tồi
tàn nhất.
- Hố xí
Hố xí gia đình cũng là yếu tố được đề cập đến nhiều trong dịch tễ học bệnh mắt
hột. Một số nghiên cứu mô tả cắt ngang nhận xét rằng có hố xí để sử dụng là một
yếu tố liên quan với việc giảm tỉ lệ mắt hột. Nghiên cứu của A. Pruss và S.P. Maritti
cho thấy gia đình có hố xí không hợp vệ sinh thì trẻ em có nguy cơ mắc bệnh
MHHT cao hơn gia đình có hố xí hợp vệ sinh [20]. Có thể do Musca sorbens, loại
ruồi chuyên đậu vào mắt là véc tơ truyền bệnh mắt hột thường dễ sinh sản ở phân
người vương vãi trên mặt đất. Thêm nữa, nghiên cứu của Nguyễn Chí Dũng cũng
nhận xét nguy cơ mắt mắt hột hoạt tính của trẻ ở nhóm gia đình sử dụng hố xí
không hợp vệ sinh cao gấp 1,64 lần so với trẻ ở nhóm gia đình sử dụng hố xí hợp vệ
sinh (p <0,001) [7].

14

- Thói quen rửa mặt và giữ mặt sạch
Nghiên cứu về dịch tễ học mắt hột ở trẻ em dưới 15 tuổi của Nguyễn Chí Dũng
nhận xét trẻ không rửa mặt hay chỉ rửa một lần trong ngày có nguy cơ mắc bệnh
mắt hột cao gấp hai lần so với những trẻ rửa mặt 2 – 3 lần một ngày (p <0,001) [7].
Nghiên cứu của A. Pruss và S. P. Mariotti cũng cho thấy kết quả tương tự (p <
0,001) [20].
Nhưng ngược lại khăn mặt,khăn mùi xoa có vể lại làm gia tăng lây lan mắt hột
đắc biệt ở những gia đình đông người [11]. Phải chăng, dùng chung khăn mặt sẽ
làm lây bệnh từ người bệnh sang người lành. Nghiên cứu của Nguyễn Chí Dũng đã
nhận xét nguy cơ mắc bệnh mắt hột ở trẻ dùng chung khăn mặt cao gấp 1,5 lần so
với trẻ có khăn mặt riêng (p <0,001) [7]. Điều tra dịch tễ học bệnh mắt hột tại 8 tỉnh
phía Bắc năm 2001 cho kết quả tương tự, OR = 1,38 (p > 0,05) [2].
-

Sử dụng chung gối

Sử dụng gối chung có thể là con đường gián tiếp lây bệnh mắtt hột. Nhiều
nghiên cứu chỉ ra rằng, trẻ dùng chung gối có nguy cơ mắc MHHT cao hơn so với
trẻ có gối riêng. Điều tra dịch tễ học bệnh mắt hột tại 8 tỉnh phía Bắc năm 2001 cho
kết quả, OR = 1,3 (p < 0,001) [2]
- Điều kiện sống chật chội
Điều kiện sống chật chội là một yếu tố nguy cơ của bệnh mắt hột. Theo báo cáo
của Lê Vũ Anh và cộng sự, có Tỷ lệ mắc MHHT ở hộ có < 5 người có xu hướng
thấp hơn hộ có ≥ 5 người [1]. Nghiên cứu của Nguyễn Chí Dũng cũng chỉ ra, hộ có
trên 3 con có nguy cơ mắc bệnh cao hơn hộ có dưới 2 con là 1,64 lần ( p < 0,001)
[7].
- Điều kiện kinh tế xã hội
Mắt hột chủ yếu xảy ra ở khu vực nông thôn của các nước đang phát triển,
những khu vực kém phát triển về kinh tế, nơi không có nguồn nước và dịch vụ vệ
sinh cơ bản [25]. Theo báo cáo của Lê Vũ Anh và cộng sự, xã có tỷ lệ hộ nghèo <
10% có tỷ lệ mắc MHHT thấp hơn xã có tỷ lệ hộ nghèo ≥ 10% có ý nghĩa thống kê

15

(p < 0,05), xã có tỷ lệ sống bằng nông nghiệp < 75% có tỷ lệ mắc MHHT thấp hơn
có ý nghĩ thống kê (p < 0,05) so với xã có tỷ lệ sống bằng nông nghiệp ≥ 75% [1].
- Điều kiện tự nhiên và khí hậu
Ngày nay, những vùng lưu hành mắt hột gây mù cũng là khu vực nóng, khô cằn
trên thế giới. Tuy nhiên, khí hậu nóng không phải là yếu tố liên quan đến bệnh mắt
hột, nhưng nó lại ảnh hưởng đến các yếu tố có khả năng liên quan tới bệnh này.
II. TÌNH HÌNH BỆNH MẮT HỘT
1. Tình hình bệnh mắt hột trên thế giới
Mắt hột là một bệnh có từ thời cổ đại. Bệnh mắt hột đã được bàn luận trong y
văn của người Ai cập cổ, thậm chí bệnh này còn xuất hiện ở Trung Quốc từ trước
công nguyên [17]
Bản đồ phân bố MHHT trên toàn cầu

Không có MHHT
Có MHHT
Không có số liệu cụ thể. Có tác động bởi MHHT

(Nguồn: WHO, 2005)

Bệnh mắt hột lan sang châu Âu, châu Mỹ vào đầu thế kỷ 19 đồng thời đã thấy
xuất hiện ở cộng đồng thổ dân ở châu Úc. Trước đây bệnh mắt hột từng có mặt ở
khắp mọi nơi trên thế giới. Tuy hiện nay mắt hột rất hiếm gặp ở các nước phát triển

16

ở châu Âu và châu Mỹ do điều kiện kinh tế xã hội, vệ sinh môi trường được cải
thiện, nhưng bệnh mắt hột vẫn còn là nguyên nhân chính gây mù lòa ở các nước
đang phát triển [21]. Theo WHO, hiện nay mắt hột là một “bệnh địa phương” của
56 quốc gia, chủ yếu ở Châu Phi, Châu Á và Châu Úc, nó chủ yếu xuất hiện ở khu
vực dân cư nông thôn, nơi hạn chế về dịch vụ chăm sóc sức khỏe và thiếu nước
sạch [25],[29].
Bảng 1: Tỷ lệ MHHT ở một số quốc gia trên thế giới
Quốc gia
Mali
Niger
Yemen
Kenya
Burkina
Faso
Tanzania
Mauritania
Ghana
Lào
Nepal
Uganda

MHHT

MHHT

MHHT

MHHT

Chung

Trẻ ≤ 10 tuổi

Quốc gia

Chung

Trẻ ≤ 10 tuổi

(%)
39,0
36,4
34,0
26,0

(%)
36,1
41,4
30,0
30,0

Afghanistan
Sudan
Ethiopia
Senegal

(%)
11,0
11,0
5,1 - 8,1
7,5

(%)
3,6
27,8
35,2
10,8

26,0

27,0

Gambia

6,9

5,9

27,0
20,0
16,0
15,2
14,3
13,9

8,9
16,0
11,8
22,6
22,7
38,0

Nigeria
Việt Nam
Campuchia
Pakistan
Oman
Iran

5,2
<5,0
3,7
2,4
0,9
0,47

5,2
11,3 (2003)
22,6
2,4
0,6
2,4

(Nguồn: WHO, 2005)

Trên thế giới, tỷ lệ MHHT ở một số quốc gia còn rất cao: Mali (39%),
Mauritania (20,0%), Yemen (34,0%), Niger (36,4%), Kenya (26,0%)… Tuy phân
bố các dấu hiệu bệnh mắt hột theo nhóm tuổi phụ thuộc vào tính ổn định và mức độ
lưu hành của mắt hột ở từng cộng đồng, nhưng nhìn chung, tỉ lệ mắt hột hoạt tính
cao nhất vẫn tập chung ở lứa tuổi trẻ em [31]. Nhóm trẻ dưới 10 tuổi là một trong
những nhóm tuổi có tỷ lệ MHHT cao nhất và cũng là nhóm tuổi mục tiêu trong
chương trình phòng chống mắt hột toàn cầu của WHO. 3 tiêu chuẩn chính để được
coi là thanh toàn bệnh mắt hột gây mù là:
- Tỷ lệ MHHT trong trẻ em dưới 10 tuổi (TF + TI) < 5%.
- Tỷ lệ quặm trong cộng đồng (TT) < 0,1%.
- Tỷ lệ mù do sẹo giác mạc mắt hột (CO) < 0,01%.

17

WHO dặt mục tiêu đến 2020 sẽ thanh toán bệnh mắt hột trên toàn cầu (GET
2020).
2. Tình hình bệnh mắt hột tại Việt Nam
Trước năm 1954, tình hình bệnh mắt hột ở nước ta rất trầm trọng. Tỉ lệ MHHT
khám và điều trị tại các bệnh viện giao động từ 30-80%, trong đó miền Bắc và miền
Trung cao hơn hẳn so với miền Nam [11].
Từ năm 1954, hoà bình lập lại ở miền Bắc. Năm 1957, viện nghiên cứu bệnh
mắt hột được thành lập (đây là tiền thân của viện mắt Trung ương). Các cuộc điều
tra về mắt hột ở miền Bắc để bước đầu nhận định về tình hình bệnh đã được tiến
hành. Trải qua 40 năm, công cuộc phòng chống mắt hột ở Việt Nam (gồm có tuyên
truyền, giáo dục thực hiện vệ sinh, điều trị MHHT, mổ quặm) trong đó chương trình
mắt hột học đường đã thu được nhiều thành tựu đáng kể. Cuộc điều tra gần đây nhất
về các bệnh mắt (1995) cho thấy tình hình bệnh mắt hột ở Việt Nam có những biến
đổi rõ rệt là tỉ lệ MHHT giảm nhiều, biến chứng ít gặp và thường xuất hiện muộn:
Tỉ lệ MHHT: 7,04%, tỉ lệ quặm:1,15% (n = 26606) [17]
Từ năm 1990, nước ta bắt đầu áp dụng bảng phân loại bệnh mắt hột đơn giản do
WHO đưa ra năm 1987 vào chẩn đoán phân loại bệnh mắt hột thay cho bảng phân
loại của Mac Callan. Việc áp dụng bảng phân loại mới này giúp cho nước ta dễ
dàng so sánh tình hình mắt hột với các nước khác trên thế giới.
Cũng từ năm 1990, số liệu về tình hình mắt hột trẻ em ở nước ta được cập nhật
nhiều hơn. Theo kết quả điều tra năm 1990 của các tác giả Nguyễn Trọng Nhân, Vũ
Công Long và cộng sự, tỉ lệ MHHT của trẻ em 1-10 tuổi là 14,2% trong đó tỉ lệ TF
là 11,3%, TI là 2,9% [11]. Năm 1993, cuộc điều tra mắt hột ở trẻ em từ 15 tuổi trở
xuống tại 10 tỉnh trong cả nước của tác giả Nguyễn Chí Dũng nhận định tỉ lệ
MHHT của trẻ em dưới 15 tuổi ở một số vùng trong cả nước là 12,3% (trong đó TF:
9,6% và TI: 2,73%) [7]. Nghiên cứu này cũng chỉ ra nhóm tuổi từ 6-10 có tỉ lệ
MHHT cao nhất. Nghiên cứu của tác giả Cù Nhẫn Nại và Hà Huy Tài năm 1995
cũng đưa ra nhận xét tương tự là nhóm tuổi 6-15 có tỉ lệ MHHT cao nhất (10,5%)