Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHÍ

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHÍ

Tải bản đầy đủ

Luận văn tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Lê Minh Thắng

Bảng 1.2. Thông tin một số mỏ khí ở Việt Nam
Lô hợp đồng

Năm bắt đầu
khai thác

Loại khí

Tiền Hải C

ĐBSH

1981

Khí tự nhiên

D14&Sông Trà Lý

ĐBSH

2004

Khí tự nhiên

Lan Tây

06-1

2002

Khí tự nhiên

Rồng Đôi, Rồng Đôi Tây

11-2

2006

Khí tự nhiên

Bạch Hổ

09-1

1995

Khí đồng hành

Rạng Đông

15-2

2001

Khí đồng hành

Phương Đông

15-2

2008

Khí đồng hành

Cá Ngừ Vàng

09-2

2008

Khí đồng hành

PM3-CAA&46Cái Nước

2003

Khí tự nhiên & đồng
hành

Mộc tinh

05-3

2013

Khí tự nhiên

Hải Thạch (Nam Côn
Sơn - 2 triệu m3 khí/ngày
và 7.250 thùng khí ngưng
tụ/ngày)

05-2

2013

Khí tự nhiên

Tên mỏ

Bunga Kekwa - Cái Nước

Bảng 1.3. Thành phần của khí ở bể Cửu Long (%V)
Cấu
tử

Rồng ( Lô 09)

Bạch
Hổ
(Lô 09)

Khí tự nhiên

Khí Đồng hành

Rạng
Đông
(Lô 15-2)

Ruby
(Lô 01)

CH4

76,82

84,77

76,54

77,62

78,02

C2H6

11,87

7,22

6,89

10,04

10,67

C3H8

5,98

3,46

8,25

6,94

6,70

C4H10

1,04

1,70

0,78

2,83

1,74

Học viên: Hồ Quang Phổ

Trang 11

Luận văn tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Lê Minh Thắng

C5 +

0,32

1,30

0,05

0,97

0,38

N2

0,50

-

-

0,03

0,60

CO2

1,00

-

-

0,42

0,07

H2 S

-

-

-

-

-

Từ các bảng số liệu trên ta thấy rằng các cấu tử cơ bản của khí thiên nhiên và khí
đồng hành là các hydrocacbon no, các parafin dãy đồng đẳng của Metan. Khí thiên
nhiên thì cấu tử chủ yếu là Metan, còn khí đồng hành thì thành phần thay đổi khá rộng,
cấu tử C2+ chiếm hàm lượng đáng kể trong thành phần của khí và qua so sánh ban đầu
từ các bản số liệu trên về thành phần khí đồng hành ở Việt Nam và một số nước trên
thế giới thì thành phần khí đồng hành ở Việt Nam có chứa hàm lượng khí Axit là thấp,
điều này rất thuận lợi cho việc chế biến và sử dụng các sản phẩm khí, trong khi đó
thành phần các khí này trong mỏ khí đồng hành ở Thái Lan và Indonesia chiếm hàm
lượng rất cao (15 ÷ 16%).
Như vậy, khí dầu mỏ Việt Nam thuộc loại khí ngọt, hàm lượng các khí Axit rất ít,
khoảng 2g/100m3. Vì vậy khí dầu mỏ Việt Nam rất thuận lợi cho việc chế biến, sử
dụng, an toàn với thiết bị và ít gây ô nhiễm môi trường.
1.3. Tính chất của khí
1.3.1. Tính chất hoá học
Các hydrocacbon trong khí là hydrocacbon no, nên tính chất của khí là tính chất
của hydrocacbon no. Ở điều kiện thường các hydrocacbon no rất bền vững do cấu trúc
có liên kết C-C và C-H không phân cực hoặc ít phân cực, do đó chúng không phản ứng
với các axit hoặc bazơ mạnh và với nhiều hoá chất khác.
1.3.2. Tính chất vật lý
Đặc điểm chung của các khí hydrocacbon.

Khí hydrocacbon không màu, không mùi, không vị. Vì vậy để kiểm tra
độ rò rỉ của khí người ta thêm vào chất tạo mùi, tuỳ theo yêu cầu mức độ an toàn. Chất
tạo mùi thường sử dụng trong các quy trình kiểm tra độ rò rỉ của khí là Mercaptan.

Tính tan của chúng không giống nhau, không trộn lẫn với nước và dể
dàng hoà tan trong các dung môi hữu cơ.

Điểm sôi của các hydrocacbon no mạch thẳng tăng dần theo số nguyên
tử cacbon trong mạch.

Học viên: Hồ Quang Phổ

Trang 12

Luận văn tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Lê Minh Thắng

Bảng 1.4. Tính chất vật lý của một số cấu tử khí tự nhiên
Điểm sôi
(0C/1atm)

Tên hợp
chất
CH4
C2H6
C3H8
n-C4H10

-161,5
-88,6
-42,1
-0,579

Tỷ trọng
trọng pha
lỏng
0,424
0,546
0,561
0,579

Tỷ trọng
pha khí
(khí/kk)
0,55
1,04
1,52
2,01

Năng suất
tỏa nhiệt
(Kcal/m 3)
0,25
17,82
24,64
30,60

Tốc độ
cháy
(cm/s)
33,8
37,0
38,5
38,0

1.4. Các phương trình thường sử dụng trong công nghệ chế biến khí
1.4.1. Phương trình Van der Waals
Phương trình Vander Waals được xây dựng dựa theo phương trình trạng thái khí
lý tưởng nhưng nó được hiệu chỉnh cho thể tích riêng phần của các phân tử trong khí,
trong đó thể tích khí thực có giá trị (V-b) được thay thế cho thể tích khí lý tưởng V.
Sự mất mát áp suất trong hoạt động của khí vì lực hấp dẫn và va chạm được hiệu chỉnh
bằng cách lấy giá trị (P+a/V2) thay thế cho áp suất thực.
Phương trình Van der Waals được viết như sau:
(P 

a
).(V  b)  R.T
V2

Đây là phương trình hiệu chỉnh đầu tiên nhưng ít được sử dụng.
1.4.2. Phương trình Soave-Redlich-Kwong :
Phương trình Soave-Redlich-Kwong có thể tính chính xác cả pha lỏng và pha hơi. Bao
gồm đánh giá tính chất của đơn chất, tính toán cân bằng lỏng – hơi và giản đồ pha của
hệ hai cấu tử [5].
P

RT
a

V  b V (V  b)

Trong đó:
b = 0.08664

RTC
Pc

a = 0.42748

( RTc ) 2
1  m 1  Tr
Pc

Tr =







2

T
Tc

Học viên: Hồ Quang Phổ

Trang 13

Luận văn tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Lê Minh Thắng

m = 0.480 + 1.574 - 0.1762
1.4.3. Phương trình Benedict-Webb-Rubin
C0 D0 E0 2
d 3
d 6 c 3
P  RT  ( B0 RT  A0  2  3  4 )   (bRT  a  )    (a  )   2 (   2 ) exp( 2 )
T
T
T
T
T
T

Trong đó Ao, Bo, Co, Do, Eo, α, β, γ là các hằng số quan hệ
Phương trình BWR mô tả chính xác trạng thái các hỗn hợp khí, còn đối với các
hỗn hợp lỏng thì nó chỉ được áp dụng khi khối lượng riêng của chất lỏng d < do
(trong đó d o là khối lượng riêng tới hạn). Khi áp dụng phương trình BWR ta sẽ tìm
được khối lượng riêng pha khí với giá trị tìm được là giá trị nhỏ nhất và khối lượng
riêng pha lỏng với giá trị tìm được lớn nhất.
1.4.4. Phương trình Redlich - Kwong (RK)
Phương trình được xây dựng dựa trên phương trình Van der Waals:
P

RT
a

Vm  b
T Vm (Vm  b)

Trong đó :
a

0.42748R 2TC2.5
Pc

b

0.08662 RTc
PC

1.4.5. Phương trình Peng Robinson
Phương trình này được sử dụng khá phổ biến trong khoảng thay đổi rộng của
nhiệt độ và áp suất, hầu hết các tính chất lý học được tính toán tương đối chính xác so
với giá trị thực nghiệm. Phương trình như sau: [6]
P

RT
a(T )

V  b V (V  b)  b(V  b)

1.5. Ứng dụng của khí
1.5.1. Ứng dụng của khí trong ngành công nghiệp điện
Hiện nay lượng khí thương mại được sản xuất tại nhà máy Dinh Cố cung cấp cho
hai nhà máy điện Bà Rịa và Phú Mỹ mỗi ngày là 5,7 triệu m3 khí.
Nằm trong dự án khí Phú Mỹ - TP HCM (2000-2003), còn có nhà máy điện
Nhơn Trạch I công suất 450 MW, nhà máy điện Nhơn Trạch II công suất 750 MW, và
nhà máy điện Hiệp Phước công suất 375 MW.

Học viên: Hồ Quang Phổ

Trang 14

Luận văn tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Lê Minh Thắng

Hình 1.1. Sản lượng khí khô của PV GAS qua các năm (Đơn vị: Triệu m3)[1]
Những nhà máy điện đang sử dụng FO và DO cũng đang có những kế hoạch
chuẩn bị chuyển sang sử dụng khí đốt, những nhà máy ở xa đường ống dẫn khí cũng
có những kế hoạch sử dụng condensate hay LPG thay cho dầu FO hoặc DO. Việc sử
dụng condensate hoặc LPG cho phép giảm đáng kể lượng chất độc thải ra môi trường.
1.5.2. Với vai trò nguyên liệu trong ngành công nghiệp khác
Khí dầu mỏ (bao gồm khí đồng hành và khí tự nhiên) là một nguồn nguyên liệu
quan trọng trong công nghiệp tổng hợp các hợp chất hữu cơ cơ bản.
Một khu liên hợp điện đạm được xây dựng tại Phú Mỹ (Bà Rịa-Vũng Tàu). Đây
là dự án liên hợp các nhà máy điện chạy bằng khí lớn nhất tại Việt Nam, cung cấp
khoảng 2485MW và một nhà máy sản xuất phân đạm, sản lượng thiết kế 740 ngàn tấn
urê/năm, điều này đảm bảo cung cấp lượng phân đạm cho sản xuất nông nghiệp trong
nước và một phần để xuất khẩu, góp phần nâng cao hiệu quả quá trình sản xuất khí.
1.5.3. Vai trò của LPG trong ngành giao thông vận tải
Hiệu quả nhất và triển vọng nhất trong lĩnh vực giao thông vận tải là sử dụng
LPG thay thế cho loại nhiên liệu truyền thống là xăng và dầu Diesel cho các loại xe ô
tô.
Hầu hết các loại xe ô tô đều có thể thiết kế lắp đặt các thiết bị chuyển đổi để sử
dụng LPG. Tuy vẫn còn nhiều khó khăn trong quá trình lắp đặt, nhưng đây là một
phương án có nhiều ưu điểm về mặt kỹ thuật cũng như trong mục đích tiết kiệm năng
lượng đặc biệt quan trọng đối với vấn đề ô nhiểm môi trường.
Ngoài ra, khí còn được sử dụng làm nhiên liệu cho lò đốt công nghiệp, nhằm
mục đích gia nhiệt cho các loại lưu chất được sử dụng làm chất tải nhiệt, cung cấp cho
các quá trình sản xuất, sử dụng trong nông nghiệp như sấy nông sản..v..

Học viên: Hồ Quang Phổ

Trang 15

Luận văn tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Lê Minh Thắng

1.6. Bức tranh về ngành khí Việt Nam
Nền tảng cơ bản đầu tiên để phát triển ngành công nghiệp khí ở nước ta là nguồn
khí.
Khí khô sản xuất, tỷ m3
Khí tiêu thụ, tỷ m3
Khí xuất khẩu, tỷ m3

Hình 1.2.Tình hình sản xuất, tiêu thụ và xuất khấu khí của Việt Nam [7]
Trữ lượng khí tại Việt Nam được đánh giá rất lớn, theo Petro Vietnam các mỏ
khí phân bố rộng rãi từ Bắc đến Nam trong đó chủ yếu tập trung tại bốn vùng trũng
chính: Nam Côn Sơn, Sông Hồng, Cửu Long và Vùng Mã Lai – Thổ Chu.

Hình 1.3. Dự báo khai thác Dầu khí giai đoạn 2005 – 2025 của PetroVietNam
Học viên: Hồ Quang Phổ

Trang 16

Luận văn tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Lê Minh Thắng

Tiềm năng khí của Việt Nam được thống kê trong bảng sau:
Bảng 1.5 Thống kê tiềm năng khí Việt Nam
Các vùng trũng

Trữ lượng tiềm năng
(Tỷ m3)

Trữ lượng thực tế
(Tỷ m3)

Sông Hồng

28 ÷ 56

5.6 ÷ 11,2

Cửu Long

84 ÷ 140

42 ÷ 70

Nam Côn Sơn

532 ÷ 700

140 ÷ 196

Mã Lai – Thổ Chu

84 ÷ 140

14 ÷ 42

Các vùng khác

532 ÷ 700



Tổng

1260 ÷ 1736

201,6 ÷ 319,2

Về mặt tiềm năng, bể Nam Côn Sơn và Sông Hồng có triển vọng về khí, bể Cửu
Long có triển vọng về dầu nhưng đồng thời cũng có một lượng khí đồng hành rất lớn.
Ngoài ra còn 3 mỏ khí phát hiện tại Đà Nẵng, trong đó hai mỏ lớn có trữ lượng
khai thác dự báo khoảng 700 tỷ m 3, tuy nhiên lượng CO2 trong bể cũng khá cao do đó
tiềm năng kinh tế cũng thấp.
1.6.1. Tình hình khai thác khí ở Việt Nam
Hiện nay, ở thềm lục địa phía Nam, có các mỏ dầu quan trọng đã và đang được
xúc tiến khai thác đó là mỏ Bạch Hổ, mỏ Đại Hùng, mỏ Rồng và mỏ khí Lan Tây Lan Đỏ. Tình hình khai thác của các mỏ như sau:
1.6.1.1. Mỏ Bạch Hổ
Nằm ở vùng trũng Cửu Long, cách bờ biển Vũng Tàu 120 km và ở độ sâu 50m.
Khí đồng hành mỏ Bạch Hổ có sản lượng khai thác tương ứng khi khai thác một tấn
dầu đạt khoảng từ 181200 m3 khí. Từ tháng 05/1995 Liên doanh VietsoPetro đã đưa
vào hoạt động hệ thống dẫn khí Bạch Hổ vào bờ, năng suất từ 3 đến 4 triệu m 3/ngày
trong giai đoạn I. Ở giai đoạn II, sau khi lắp đặt thêm giàn nén, lượng khí đồng hành
được nâng lên 5 triệu m3/ngày cung cấp cho nhà máy xử lý khí Dinh Cố. Sản lượng
khai thác ước tính của Bạch Hổ đạt khoảng 1,5 đến 2 tỷ m3.

Học viên: Hồ Quang Phổ

Trang 17

Luận văn tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Lê Minh Thắng

Hình 1.4.Bản đồ các mỏ khí tại bể Cửu Long
1.6.1.2. Mỏ Đại Hùng
Được phát hiện vào năm 1980, cách đất liền 120 km, dưới mực nước sâu khoảng
100  120m. Dự đoán lượng khí đồng hành có thể khai thác đạt 1 tỷ m 3, ít hơn lượng
khí khai thác được tại mỏ Bạch Hổ. Mỏ Đại Hùng bắt đầu được khai thác từ năm
1994, nhưng đến nay lượng khí đồng hành tại mỏ vẫn bị đốt bỏ. Đây là vấn đề cần
được quan tâm để nâng cao giá trị của quá trình khai thác.
1.6.1.3. Mỏ Rồng
Hiện đang được khai thác, ước tính trữ lượng tại mỏ Bạch Hổ và mỏ Rồng
khoảng 25 tỷ m3. Sản lượng khí có thể khai thác tại mỏ Rồng (gồm cả khí khô và khí
đồng hành) khoảng 5 tỷ m 3.

Học viên: Hồ Quang Phổ

Trang 18

Luận văn tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Lê Minh Thắng

1.6.1.4. Mỏ khí Lan Tây – Lan Đỏ
Mỏ Lan Tây được phát hiện vào năm 1993 và mỏ Lan Đỏ được phát hiện vào
tháng 12 năm 1998 thuộc bể trầm tích Nam Côn Sơn ngoài khơi vùng biển phía nam,
trữ lượng ước tính mỏ Lan Đỏ là 12 tỷ m3 và mỏ Lan Tây là 46 tỷ m3.
1.6.1.5. Mỏ Tiền Hải – Thái Bình
Bắt đầu được khai thác từ năm 1981 với trữ lượng ban đầu xác định là 1,2 tỷ m3,
khai thác chủ yếu cho địa phương với sản lượng cung cấp hàng năm khoảng 1130 triệu
m3/năm.
1.6.2. Các dự án khí
1.6.2.1. Dự án khí thiên nhiên Nam Côn Sơn
Được ví như là cột sống của ngành công nghiệp khí Việt Nam, là một trong
những dự án khí lớn nhất của Việt Nam với chi phí lên đến 1,3 tỷ USD bao gồm 3 dự
án được triển khai trong 2 giai đoạn: giai đoạn đầu tiến hành khai thác với lưu lượng
khí 7 tỷ m 3/năm và trong giai đoạn 2 (2010 ÷ 2015) đạt 7 tỷ m3 khí/năm.
Hiện nay bên cạnh các dự án đang khai thác khí, PetroVietnam đã hoàn thành dự
án đường ống Phú Mỹ - TP. Hồ Chí Minh với công suất 2 tỷ m 3 khí/năm, vốn đầu tư
70 triệu USD, vận chuyển một phần khí từ bể Cửu Long và Nam Côn Sơn về cung cấp
cho nhà máy điện Hiệp Phước, Thủ Đức và các khu công nghiệp dọc tuyến ống.
1.6.2.2. Dự án khí Tây Nam Bộ
Sản lượng khí từ năm 2003 vào khoảng 2,5 tỷ m 3 khí/năm, khai thác ổn định 15 ÷
17 năm với trữ lượng xác minh khoảng 45 tỷ m3 (60 tỷ m3 tiềm năng).
Theo quy hoạch phát triển của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, dự án đường ống
dẫn khí Lô B – Ô Môn do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam làm chủ đầu tư với tổng mức
đầu tư khoảng 01 tỷ USD, nhằm vận chuyển khí tự nhiên từ các Lô B & 48/95 và
52/97 thuộc vùng biển Tây Nam Việt Nam. Khi hoàn thành vào năm 2014, với công
suất vận chuyển khí đạt 18,3 triệu m3/ngày đêm (6,4 tỷ m3/năm), dự án sẽ cung cấp khí
nhiên liệu cho các nhà máy điện tại Trung tâm Điện lực Ô Môn, Trà Nóc của Cần Thơ
(tổng công suất 3.000MW), một phần khí được cung cấp bổ sung cho Khu công
nghiệp Khí Điện Đạm tại tỉnh Cà Mau và các hộ tiêu thụ khác ở miền Tây Nam Bộ

Học viên: Hồ Quang Phổ

Trang 19

Luận văn tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Lê Minh Thắng

CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN KHÍ
Khí tự nhiên và khí đồng hành là những nguyên liệu rất có giá trị để sản xuất
nhiên liệu và nguyên liệu cho tổng hợp hóa dầu. Khí sau khi khai thác ngoài các cấu tử
chính là các hydrocacbon parafin còn chứa các tạp chất như: bụi, hơi nước, khí trơ,
CO2, H2Svà các hợp chất hữu cơ của S.
Trước khi đưa vào chế biến, khí cần phải qua công đoạn chuẩn bị, tại đó tiến
hành bỏ các tạp chất kể trên bằng các quá trình tách bụi, tách hơi nước và các khí axit.
2.1. Các quá trình chuẩn bị khí để chế biến
2.1.1. Làm sạch khí khỏi các tạp chất cơ học
Sự có mặt các hợp chất cơ học trong khí, nó gây ảnh hưởng xấu tới quá trình hoạt
động của các thiết bị, phức tạp trong quá trình vận chuyển, không an toàn trong sử
dụng và ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm. Do vậy, nguyên liệu vào phải được
tách các hợp chất cơ học ra khỏi khí. Quá trình làm sạch được phân thành hai phương
pháp: Phương pháp làm sạch khô và phương pháp sạch ướt [2].
Làm sạch khô là phương pháp làm sạch khí dựa vào lực ly tâm, lực trọng trường
hoặc lực hút tĩnh điện.
Làm sạch khí bằng phương pháp lọc ướt, thực tế thiết bị lọc ướt thường sử dụng là loại
thiết bị rửa khí kiểu bọt. Thiết bị này hoạt động theo nguyên tắc hấp thụ bằng dầu. Khí
chuyển động từ dưới lên xuyên qua lớp dầu, các hạt bụi sẽ được lớp dầu giữ lại, dòng
khí tiếp tục chuyển động lên trên và ra ngoài. Với loại thiết bị này thì tốc độ dòng khí
có tác động trực tiếp đến hiệu suất làm việc của thiết bị. Tốc độ dòng khí có thể đạt từ
0,5 đến 1,5 m/s. Hiệu suất tách bụi của thiết bị: tách được 99% hạt bụi có kích thước
lớn hơn 5m và tách được 75% ÷ 80% hạt bụi có kích thước nhỏ hơn 5m.
2.1.2. Quá trình Dehydrat
Mục đích: Trong dòng khí có chứa các phân tử nước, khi gặp điều kiện nhiệt độ
áp suất thích hợp thì nó tạo thành các tinh thể hydrat, gây bịt kín các đường ống dẫn và
ảnh hưởng đến quá trình làm việc của thiết bị vận chuyển, van, đường ống. Mặt khác,
trong khí có nước và H2S thì trong điều kiện thuận lợi sẽ đẩy mạnh quá trình ăn mòn.
Tách nước ra khỏi dòng khí nhằm làm cho dòng khí có nhiệt độ điểm sương thấp hơn
nhiệt độ tối thiểu mà ở đó dòng khí được vận chuyển và xử lý.
Quá trình hình thành hyđrat xảy ra khi áp suất riêng phần của hơi nước trong hỗn
hợp khí lớn hơn áp suất hơi bão hoà của hyđrat. Hydrat được tạo thành ở nhiệt độ cao
hơn 0oC- là nhiệt độ đông đặc của nước [8]. Như vậy, để làm giảm khả năng tạo thành
hyđrat thì phải thêm vào chất ức chế hoặc làm giảm hàm lượng nước trong khí, khi đó
Học viên: Hồ Quang Phổ

Trang 20

Luận văn tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS. Lê Minh Thắng

áp suất riêng phần của hơi nước trong khí sẽ giảm xuống thấp hơn áp suất của hyđrat,
nên sẽ làm ngưng quá trình tạo thành hydrat. Quá trình dehyđrat hoá gồm có bốn
phương pháp như sau [9]:


Phương pháp làm lạnh với sự có mặt của chất ức chế



Phương pháp hấp thụ



Phương pháp hấp phụ



Phương pháp thẩm thấu

Trong số các phương pháp trên, hiện nay hai kỹ thuật tách loại nước thường được
sử dụng là khử nước bằng phương pháp hấp phụ và khử nước bằng phương pháp hấp
thụ [9].
2.1.2.1. Phương pháp làm lạnh với sự có mặt của chất ức chế
Về nguyên tắc người ta bơm các chất ức chế vào để ngăn cản quá trình tạo thành
hyđrat. Bản chất của phương pháp này là đưa chất ức chế vào dòng khí ẩm, nó sẽ hoà
tan trong nước tự do, làm giảm áp suất riêng phần của nước trong khí và làm giảm
nhiệt độ hình thành hyđrat. Chất ức chế thường sử dụng là glycol hoặc methanol.
Glycol thường dùng là DEG (dietylen glycol), TEG (trietylen glycol), EG (etylen
glycol) với nồng độ khoảng 60 - 80% khối lượng.
Sự lựa chọn glycol nào phụ thuộc nhiều yếu tố:
- Nhiệt độ đông đặc của dung dịch glycol
- Độ nhớt dung dịch glycol
- Độ hạ nhiệt độ điểm sương đối với nồng độ glycol đã cho
- Thành phần khí
- Khả năng hòa tan của glycol
- Glycol được dùng phải bền nhiệt, dễ tái sinh
- Hòa tan ít hoặc không hòa tan hydrocacbon

Học viên: Hồ Quang Phổ

Trang 21