Tải bản đầy đủ
Đồ thị 2.10: Tỷ trọng chi ngân sách trên địa bàn Tỉnh Hua Phăn.

Đồ thị 2.10: Tỷ trọng chi ngân sách trên địa bàn Tỉnh Hua Phăn.

Tải bản đầy đủ

dành kinh phí cho việc mua sắm trang thiết bị phục vụ cho việc khám chữa
bệnh, đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong việc khám chữa bệnh.
Tập trung vốn để đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế (nhất là
nhành nông nghiệp, thủy sản, dịch vụ và du lịch), đầu tư cho các công trình
thủy lợi, kiên cố hóa kênh mương nội đồng, tu bổ để điều.
Cùng với việc xác lập và tập trung nguồn lực cho các ưu tiên phát triển
của địa phương, tỉnh Hua Phăn cũng tiến hành phân cấp sâu rộng cho các
huyện, địa phương tạo điều kiện cho các huyện, địa phương chủ động quyết
định và phân bổ nguồn lực theo nhu cầu địa phương.
Đối với các nguồn thu được định hướng đầu tư cơ sở hạ tầng, tỉnh đã cố
gắng phân cấp tối đ acho huyện, cụ thể là nguồn tiền cho thue mặt đất, mặt
nước, tiền thu cấp quyết sử dụng, tiền thuế sử dụng đất nông nghiệp, tiền bán
nhà thuốc sỏ hữu nhà nước, tiền thuế bán hàng,v.v….Đối với các lĩnh vực
chi khác, tỉnh đã thực hiện phân cấp nhiệm vụ chi, đồng thời áp dụng
phương châm phân cấp tối đa nguồn thu để các cấp chính quyền huyện, địa
phương đảm bảo được các nhiệm vụ chi thường xuyên.
Thứ ba, triển khai các hiệu quả các nghị định về tự chủ, tự chịu
trách nhiệm về biên chế và tài chính đối với các cơ quan nhà nước và đơn
vị sự nghiệp công lập.
Trên cơ sở định mức biên chế các đơn vị được khoán chi ngân sách
hàng năm, các cơ quan quản lý hành chính nhà nước và các đơn vị sự nghiệp
công lập xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, xây dựng các đinh mức chi tiêu,
quy chế quản lý tài sản công theo đúng quy định. Nếu chi không hết các đơn
vị tiết kiệm được số tiền đó. Một ưu điểm của cơ chế khoán chi và giao
quyền tự chủ là tạo động lực thúc đẩy đơn vị sử dụng NSNN ngoài số được
cấp tích cực huy động các nguồn lực khác hoạch sử dụng nguồn được cấp
hợp lý hơn để tăng thu nhập.

133

Thông qua thực hiện cơ chế tự chủ các đơn vị chủ động sử dụng kinh
phí, tài sản, nguồn nhân lực có hiệu quả để thực hiện nhiệm vụ; công tác
quản lý, sử dụng kinh phí được thực hiện chặt chẽ, công khai, dân chủ, góp
phần tăng nguồn thu, tiết kiệm chi để bổ sung nguồn kinh phí hoạt động,
trích lập các quỹ, đầu tư trang thiết bị, nâng cao chất lượng dịch công, tăng
thu nhập cho người lao động.
Thứ tư, cải thiện tính minh bạch chi ngân sách.
Tính minh bạch chi tiêu ngân sách có tầm quan trọng trong việc giải
trình trước công dân về việc phân bổ nguồn lực tài chính của Nhà nước và
giải trình về chất lượng chi tiêu ngân sách tổng thể. Tính minh bạch chi ngân
sách được thể hiện thông qua quyết định số 282/2011/QĐ-TTg ngày 7/9/2011
Của thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế công khai tài chính đối
với các cấp NSNN, các đơn vị dự toán ngân sách, các tổ chức được NSNN hỗ
trợ, các dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn NSNN, các doanh
nghiệp nhà nước, các quỹ có nguồn từ NSNN và các quỹ có nguồn từ các
khoản đóng góp của nhân dân, Thông tư số 1765/TT-BTC ngày 04/7/2013 của
Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện quy chế công khai tài chính đối với các cấp
NSNN và chế độ báo cáo tình hình thực hiện công khai tài chính.
2.5.2. Hạn chế:
Thứ nhất, quy trình phân bổ nguồn lực tài chính công.
Quy trình phân bổ nguồn lực tài chính công (soạn lập ngân sách) thiếu
mối liên kết chặt chẽ giữa kế hoạch phát triển KT - XH trung hạn (3-5 năm)
với nguồn lực trong một khuôn khổ kinh tế vĩ mô được dự báo, không mang
lại hiệu quả cao nhất thúc đẩy quá trình phát triển KT-XH trên địa bàn.
Tỉnh Hua Phăn vẫn đang thực hiện quản lý các khoản chi NSNN theo
phương thức truyền thống, lấy kiểm soát đầu vào là chủ yếu, quản lý theo
niên độ từng năm một. Thực tiễn cho thấy cách thức quản lý tiêu công truyền

134

thống, kiểm soát đầu vào mang tính chủ quan, duy ý chid, áp đặt từ phí các
cơ quan cung cấp nguồn lực điều đó thường dẫn đến các kết cục là.
+ Hiệu lực quản lý thấp.
+ Ít gắn kết giữa kinh phí cấp ra với mục tiêu phải đạt được.
+ Tầm nhìn ngắn hạn và thiếu chủ động.
+ Bất cập ngay từ khâu chuẩn bị xây dựng dự toán.
+ Phân bổ dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả sử dụng
nguồn lực thấp.
Hiệu lực quản lý thấp: Trong quá trình soạn lập ngân sách, kiểm soát
các yếu tố đầu vào được coi trọng hơn cải thiện kết quả hoạt động của ngành
thông qua thực thi các mục tiêu và nhiệm vụ của ngành. Do đó ngân sách
tỉnh Hua Phăn CHDCND Lào hiện nay có thể gọi là ngân sách đầu vào. Các
thông số về đầu ra cũng như về kết quả thương ít được quan tâm, nên ngân
sách thiếu thực tế dễ bị điều chỉnh và có thể tạo ra một kết quả ngoại ý. Ngân
sách được lập hàng năm vừa tốn thời gian, ngân lực và tiền bạc vừa không
dự liệu hết mọi biến cố trung hạn có thể ảnh hưởng đến dự toán. Ngân sách
năm sau được soạn lập trên cơ sở ngân sách năm trước mà không xét đến
việc có nên tiếp tục duy trí hoạt động đang được cung cấp tài chính hay
không. Ngân sách chi thường xuyên và ngân sách chi đầu tư phát triển được
soạn lập một cách riêng rẽ làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực công. Tinh
minh bạch và trách nhiệm giải trình thể hiện chưa rõ nét làm xuất hiện nhưng
không công bố, đông thời hạn chế sự tham gia của các tổ chức xã hội trong
quy trình ngân sách.
Ít gắn kết giữa kinh phí cấp ra với mục tiêu phải đạt được.
Do quản lý chi NSNN theo kiểu truyền thống không gắn kết việc cấp
phát nguồn lực tài chính với việc thực hiện các mục tiêu chính trị nên đã dẫn
đến trách nhiệm giải trình trong quản lý và sử dụng ngân sách không rõ,

135

không nêu bật được việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực đã mang lại kết
quả và hiệu quả cụ thể như thế nào đối với đời sống KT-XH.
Dưới góc độ chính trị, quản lý và kiểm soát nguồn lực tài chính công
theo kiểu truyền thống, ngay từ lập kế hoạch cũng như ki kết thúc, đều
không gắn kết cụ thể, không chỉ ra được mối liên hệ định lượng giữa các
khoản kinh phí được cấp ra với việc thực hiện (mức độ, kết quả và hiệu quả)
các nhiệm vụ chính trị - KT-XH mà đơn vị tiếp nhận kinh phí phải hoàn
thành. Do vậy, các cấp các ngành chỉ có thể công bố tổng các khoản chi
NSNN một cách rời rạc, không thể gắn liền được với các mục tiêu phát triển
đã đề ra. Các cấp, các ngành không thể công bố một cách rõ ràng rằng trong
năm N, đã có bao nhiêu nguồn lực đã được sử dụng và đã xóa được bao
nhiêu hộ đói, nghèo? Bao nhiêu được sử dụng để đầu tư tăng năng suất lao
động? Bao nhiêu đã được sử dụng để nâng cao chất lượng cuốc sống nguồn
dân đến mức nào?....
Đây chính là một trong bất cập lớn nhất đòi hỏi phải đổi mới quản lý
chi NSNN nhằm gắn kết và thúc đẩy phát triển KT-XH trên địa bàn tỉnh Hua
Phăn nước CHDCND Lào.
Tầm nhìn gắn hạn và thiếu chủ động:
Quy trình xây dựng dự toán và quản lý NSNN theo kiểu truyền thống
dường như chỉ có thể quan tâm đến lợi ích trước mắt, từng năm một, chưa có
tầm nhìn trung hạn. Theo đó, ngân sách chỉ được xây dựng trong khoảng thời
gian một năm. Cứ hết năm ngân sách thì dự toán ngân sách sẽ hết hiệu lực,
người ta lại tiếp tục lập kế hoạch ngân sách cho (một) năm tiếp theo. Đến
cuối năm, kinh phí được cấp nhưng chưa sử dụng hết (cho dú vẫn có nhu cầu
chi) thì phải huy bỏ. Các báo cáo quyết toán ngân sách thường chỉ chủ trọng
đến việc thực hiện chi ngân sách có hết dự toán hay không? Những cuộc
thanh tra, kiểm soát cũng chỉ xem xét việc chi tiêu có đúng định mức hay
không? Có sai phạm gì về chế độ tài chính hay không? Trên thực tế, người ta

136

ít quan tâm đánh giá xem những khoản chi đó đã tạo ra được kết quả gì phục
vụ cho quá trình phát triển KT-XH? Và do vậy, năm tiếp theo cũng vẫn như
thế. Nhiệm vụ chính trị có được tiếp tục hay tạm dừng? Được cấp bao nhiêu
kinh phí? Công việc sẽ được tiến hành đến mức nào là tùy thuộc vào nguồn
kinh phí được ghi trong dự toán được duyệt của năm mới.
Trong hoạt động thực tiến, da số các nhiệm vụ, các hoạt động đều tiếp
diễn từ năm này qua năm khác, nhiều nhiệm vụ cần có khoảng thời gian trên
một năm mới hoàn thành, nhiều khoản chi tiêu được kéo dài hơn một năm
ngân sách. Chính vì vậy, các cơ quan quản lý không lương được nguồn thu
và không có sự bố trí ngân sách trung hạn. Các cơ quan quản lý cũng như
các ban ngành địa phương cũng không được đảm bảo về tổng nguồn kinh phí
sẽ được cấp trong những năm tới. Các bên đều bị động trước những diễn
biến kinh tế - tài chính, trước tổng mức thu - chi trong các dự toán hàng năm,
công việc thì bị động về nguồn lực, thậm chí còn bị ngưng lại.
Bất cập ngay tư khâu chuẩn bị xây dựng dự toán:
Việc sử đụng cơ sở nguồn lực hiện có làm căn cứ lập dự toán tuy có
tính hiện thực về mặt tài chính, dễ làm, phù hợp với tác phong và tư duy
quản lý hiện thời nhưng cũng bộ lộ nhiều bất cập. Trong quá trình lập dự
toán ngân sách hàng năm, việc thương thuyết ngay từ khi chuẩn bị, soạn thảo
đến trình duyệt, điều chỉnh ngân sách thường phúc tạp và kẻo dài giữa các
bên. Bên chi tiêu - luôn có nhiều nhu cầu tài chính để đảm bảo hoàn thành
các nhiệm vụ được giao và bên quản lý nguồn lực - luôn chịu áp lực bởi tổng
số nguồn thu ngân sách chỉ có hạn trong khi còn nhiều đơn vị khác nữa cũng
có nhu cầu chi cần thiết tương ứng. Do đó, thảo luận dự toán ngân sách
thường kẻo dài, khó có sức thuyết phục thực sự và thường kết thúc bằng việc
thỏa hiệp giữa các bên. Hơn nữa, việc cấp phát ngân sách như vậy cũng
mang dấu ấn của sự “ban phát” từ phía các cấp lãnh đạo quản lý nguồn lực

137

công. Đó chính là bất cập lớn nhất của quy trình quản lý ngân sách theo kiểu
truyền thống.
Trong quá trình hình thành dự toán ngân sách, những yêu cầu chi tiêu
đầu dựa trên cơ sở những định mức được quy định cụ thể. Sau khi Luật
NSNN được sửa chữa ban hành năm 2006 Sở tài chính tỉnh Hua Phăn đã
trình UBND tỉnh xây dựng hệ thống định mức chi tiêu ngân sách, có thay đổi
hàng năm dựa vào tình hình cụ thể. Trong điều kiện nguồn lực tài chính còn
giới hạn, không đáp ứng đầy đủ nhu cầu thì định mức chi tiêu là căn cứ rất
tốt để phân bổ nguồn lực tài chính. Tuy vậy, cơ chế phân bổ nguồn lực tài
chính dựa vào định mức cũng đã bộc lộ những bất cập.
Các định mức hiện dùng đều dựa trên phương pháp phân bổ chi tiêu
kinh điển, tức là dựa chủ yếu trên nguồn lực đầu vào, chúng không tạo ra cầu
nối ràng buộc giữa việc sử dụng ngân sách và hiệu quả chi tiêu.
Định mức phức tạp và xở cứng, thiếu tính linh hoạt cần thuyết để
khuyến khích tính chủ động sáng tạo của đơn vị sử dụng ngân sách đồng thời
chưa ràng buộc về trách nhiệm chi tiêu với kết quả đầu ra.
Một số định mức còn mâu thuẫn với nhau và lạc hậu; hơn nữa, các định
mức chi này, dù thích hợp hay không, cũng chi được sử dụng để xây dựng
các dự toán Ngân sách ban đầu. Còn việc phân bổ ngân sách cuối cùng vẫn
phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa, chẳng hạn như “thương lượng”. Mặc
dù hệ thống giao ngân sách ổn định từ 3 đến 5 năm, song hệ thống phân bổ
dựa trên kết quả hỗn hợp giữa định mức và thương lượng như vậy vẫn tỏ ra
kém hiệu quả và ít công bằng trong việc phân bổ chi tiêu.
Lập ngân sách gắn hạn, chủ yếu ngân sách hàng năm, do đó không
được đánh giá, xem xét sự phân bổ nguồn lực gắn kết với những chương
trình phát triển KT-XH hàng năm. Thiếu vằng hệ thống các tiêu chi thích
hợp để xác định thứ tự ưu tiên chi tiêu. Cách phân bổ ngân sách hiện nay
không dựa trên nền tảng lý luận tài chính Nhà nước trong nền kinh tế thị

138

trường, thiếu chiến lược rõ ràng, không cho phép đạt được các mục tiêu chi
NSNN đề ra mà còn góp phần làm cho nguồn chi eo hẹp càng cạn kiệt hơn.
Phân bổ ngân sách theo yếu tố đầu vào đã tạo ra điểm yếu cơ bản là không
khuyến khích đơn vị chi tiết kiệm ngân sách, vì nó không đặt ra yêu cầu ràng
buộc hợp lý, chặt chẽ giữa số kinh phí được phân bổ với kết quả đạt được ở
đầu ra do sử dụng ngân sách đó.
Lập ngân sách theo yếu tố đầu vào đã tạo ra những ưu tiên trong phân
bổ bị lệnh lạc, méo mó. Nguồn lực của cải xã hội được đầu tư vào những dự
án, mang lại lợi ích xã hội rất tấp, trong khi ngân sách thiếu nguồn lực cho
những nhu cầu thiết yếu như: y tế, văn hóa, giao dục.
Tạo ra những quy định đặc biệt, hình thành những quỹ tiền tệ riêng biệt
tách ra khỏi ngân sách để thực hiện những chương trình có tính ưu tiên. Từ
đó giảm đi rất nhiều vai trò của ngân sách và vi phạm những nguyên tắc
thống nhất trong quản lý ngân sách.
Phân bổ dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả sử dụng nguồn
lực thấp: Thông thường, bố trí các khoản chi NSNN trên cơ sở nguồn lực
hiện cơ sở không thể thực sự triển khai được ý đồ chiến lược về bố trí đủ
nguồn tài chính cho các ưu tiên trọng điểm chi đã được lựa chạn.
Do không có tầm nhìn trung hạn nên không chỉ có cơ quan tài chính,
UBND tỉnh bị động về nguồn thu mà các cơ quan ban ngành, địa phương và
các đơn vị thụ hưởng cũng bị động về nguồn lực. Các đơn vị chi tiêu không
thể và cũng không có quyền chủ động bố trí ưu tiên chi tiêu theo trọng tâm,
trọng điểm. Hiệu quả sử dụng các nguồn lực công, do vậy mà bị giảm đáng
kể. Thường đó thiếu nguồn nhưng nhu cầu lại nhiều nên nguồn lực buộc phải
bố trí dàn trải, nhiều khoản được chi “cầm chừng”, nguồn lực tài chính công
không được bố trí tới ngưỡng cần thiết. Do đó, thời gian đầu tư bị kéo dài
quá mức cần thiết, các công trình chậm phát huy hiệu quả, nhiều lĩnh vực do
thiếu vốn nên không thể đầu tư “cho ra tầm, ra mòn”, không tạo được các cú

139

đấm chiến lược, cần thiết để phát triển một ngành, một lĩnh vực nào
đó….Nói cách khác, nguồn tài trợ cho những kế hoạch nói trên không được
quan tâm đúng mức dẫn đến sự hụt hẫng về tài chính nên nhiều công trình
phải chờ kinh phí hoặc bỏ dở. Thêm vào đó, kinh phí đầu tư dàn trải cho
nhiều dự án khiến những ưu tiên của địa phương không được tài trợ tương
xứng với tầm quan trọng của chúng.
Hơn nữa, khi phối hợp ở tầm vĩ mô cũng có nhiều bất cập khi các
nguồn lực công luôn luôn có giới hạn. Trong một thời ký nhất định, việc gắn
kết giữa chiến lược ngành với việc xây dựng các kế hoạch tài chính cụ thể
thường không được chặt chẽ. Do vậy, cần thay đổi tuy duy sao cho có thể
gắn kết giữa nguồn lực sẽ cấp phát và kết quả dự kiến sẽ đạt được. Nhất thiết
phải phân bổ nguồn lực có hạn một cách thiết thực hơn, có biện pháp thiết
thực hơn, đảm đẩm cấp phát tới ngưỡng cần thiết, cho những công việc cần
thiết, thực hiện đầu tư dứt điểm, có trọng tâm, trọng điểm. nếu vậy, nhất định
nguồn lực công sẽ được sử dụng hợp lý, tối ưu, và sẽ mang lại những hiệu
quả nhất định. Phương pháp lập kế hoạch ngân sách theo một khuôn khổ
trung hạn gắn với kết quả đầu ra sẽ cho phép thực hiện được các yêu cầu đó.
Thứ hai, kém hiệu quả hoạt động khu vực công.
Thay vì tinh giảm biên chế, quản lý theo hướng gọn nhẹ, thì trong 10
năm trở lại đây tỉnh Hua Phăn đã tách các huyện, bổ sung thêm hai huyện
mới như huyện Mương Quân và huyện Mương Xòn, nâng tổng số huyện thị
trên địa bàn tỉnh. Điều này dẫn đến quy mô khu vực công tăng, số lượng viên
chức Nhà nước tăng. Hiệu suất trong khu vự công giảm, công chức không
thực sự cố gắng, trình độ và năng suất không cải thiện, thêm vào đó điều
kiện làm việc nghèo nàn làm suy yếu hiệu quả hoạt động.
Trong tổ chức thực hiện nhiều đơn vị cơ quan viện diễn nhiều lý do để
tăng biên chế trước khi nhận khoán, sau đó lại tìm cách đòi ngân sách cho số
biên chế tăng thêm này. Và ngay trong cơ chế khoán cũng không có sản

140

phẩm cụ thể cuối cùng mà chỉ có sản phẩm chung là hoàn thành chức năng
nhiệm vụ được giao, không thể hiện được hiệu quả, tác động của kết quả do
khoán là như thế nào……
Các ngành, các cấp chưa thật sự quan tâm chỉ đạo, điều hành, triển khai
thực hiện cơ chế tự chủ về bộ máy, biên chế và tự chủ về tài chính, đặc biệt
là cấp huyện. Một số cơ chế chính sách chưa được cụ thể hóa, hoàn thiện nên
các cơ quan bị động trong quá trình triển khai thực hiện.
Việc xây dựng các tiêu chú đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ được
giao như khối lượng, chất lượng công việc của đơn vị chưa được thực hiện,
nên việc chi trả thu nhập tăng thêm còn mang tính cào bằng bình quân.
Định mức phân bổ Trung ương ban hành còn thấp và ổn định trong cả
thời kỳ dài, trong khi giá cả thị trường biến động mạnh, vì vậy nhiều đơn vị
không tiết kiệm được kinh phí hoặc tiết kiệm không đáng kể, điều đó đã hạn
chế ý nghĩa của việc tự chủ và tăng thu nhập cho cán bộ, công chức.
Nguồn lực hiện hữu của ngân sách chưa đáp ứng đủ cho hoạt động
công, thậm chí ngay sau khi ngân sách được phê chuẩn. Người quản lý luôn
bị động không nằm chắc được nguồn lực để chủ động cân đối cho nhu cầu
trong gắn hạn lẫn dài hạn.
Về mặt luật pháp, sự kiểm soát ngân sách được thiết lập theo hướng tập
trung hóa cao độ với nhiều quy định rất chi tiết về mau sắm tài sản, định mức
chi tiêu… thế nhưng trên thực tế sự kiểm soát chính thức không được thực
hiện có hiệu quả, do thiếu thông tin về tổ chức quản lý.
Thú ba, về chi ngân sách địa phương: Vẫn xảy ra tình trạng chi ngoài
kế hoạch theo cơ chế xin cho. Đối với các đơn vị thụ hưởng ngân sách, một
số đơn vị thực hiện không đúng theo quy trình quản lý chi ngân sách, chi
thường xuyên không theo như dự toán nhưng lại không đề nghị điều chỉnh,
giữa dự toán và thực hiện dự toán có sự chênh lệch lớn, nhưng vẫn được
chấp nhận quyết toán. Điều này là trái với quy định của Luật NSNN.

141

NSNN còn đầu tư dàn trải, nhiều dự án, công trình đã được thẩm định
quyết toán, đã có khối lượng hoàn thành song chưa được bố trí vốn để thanh
toán dứt điểm, khi xây dựng kế hoạch chưa chủ động bố trí đủ người trả các
khoản vay đến hạn, tình trạng đầu tư xây dựng cơ bản thực hiện vượt khả
năng ngân sách vẫn còn diễn ra, dẫn đến tình trạng công nợ phát sinh tuy
chưa đến mức thiếu lành mạnh nhưng cũng là một thiếu sót lớn cần khắc
phục.
Tình trạng sử dụng ngân sách ở một số đơn vị còn lãng phí, chưa thực sự
tiết kiệm chống lãng phí, chưa hiệu quả vẫn còn xẩy ra ở các mức độ khác
nhau làm mất lòng tin của cán bộ, nhân dân trong sử dụng tiền của nhân dân,
của tập thể, của Nhà nước.
Một số chủ đầu tư chưa chỉ đạo kịp thời, quyết liệt đối với Ban Quản lý
dự án và các nhà thầu để đẩy nhanh tiến độ thị công, giải ngân, hoàn tạm ứng
và thanh quyết toán. Công tác quản lý nhà thầu trong quá trình thị công chưa
chặt chẽ, bố trí nhân lực, thiết bị, tài chính không đúng với hồ sơ dự thầu và
hợp đồng đã ký kết.
Chế độ chính sách tiền lương của Nhà nước có biến động dẫn đến phải
điều chỉnh, bổ sung hồ sơ nhiều. Giá cả vật tự, nguyên vật liệu trượt giá
nhanh, trong khi đó vốn đầu tư lhoong đáp ứng tiến độ thanh toán gây khó
khăn cho việc đẩy nhanh tiến độ thị công, nhất là các công trình trọng điểm.
Công tác quyết toán vốn đầu tư tuy đã có nhiều tiến bộ, nhưng một số
chủ đầu tư chưa nhận thức được trách nhiệm về công tác quyết toán dự án
hoành thành, chất lượng báo cáo quyết toán thấp, phải chỉnh sửa nhiều lần;
nhiều công trình hoàn thành đua vào sử dụng nhiều năm mới lập hồ sơ quyết
toán hoặc chưa thực hiện quyết toán vốn đầu tư theo quy định.
Thứ tư, trong quản lý vốn đầu tư của nhà nước: Về công tác quản lý
vốn đầu tư hiện đã có những quy định cho thấy nhà nước đã tạo ra một
khuôn khổ pháp lý rõ ràng và cụ thể quản lý vốn đầu tư từ khâu đầu tiên là

142

chuẩn bị đầu tư, đến giai đoạn cuối cúng là thanh toán, quyết toán vốn đầu
tư, Nói chung, những quy định hiện hành đủ để quản lý việc chi tiêu sao cho
hợp pháp và không lãng phí.
Tuy nhiên, trong thực tế, những quy định đó không phải lúc nào cũng
được thực hiện một cách đẩy đủ và chặt chẽ. Từ khâu quy hoạch, khâu thẩm
định dự án xác định nhu cầu đầu tư và khả năng đầu tư,… đến thị công, và cả
thanh toán, quyết toán đều đã có sai phạm làm cho kết quả đầu tư không
được như mong muốn. những sai phạm này trong nhiều trường hợp nằm
ngoài phạm vi kiểm soát của các nhà quản lý.
* Vi phạm ở nhiều khâu trong quá trình XDCB. Các dự án đầu tư vi
phạm ở các khâu. Phe duyệt đầu tư, vi phạm quy chế đầu thầu, vi phạm trong
nghiệm thu thanh quyết toán, vi phạm trong tư vấn giám sát.
* Thất thoát vốn đầu tư. Đầu tư XDCB bằng vốn nhà nước làm thất
thoát vốn khoảng 30% - 35%. Gần như thất thoát là đặc điểm chung của đầu
tư bằng nguồn vốn nhà nước. Mọi khâu trong quá trình đầu tư XDCB đều
phát sinh sai phạm thì điều đó cũng có nghĩa là nguyên nhân dẫn đến thất
thoát vốn xuất phát tư nhiều phía. Thất thoát tập trung vào giai đoạn thi
công. Như mua sắm nguyên vật liệu không đúng chuẩn mực thiết kế đã được
duyệt cả về số lượng và cả về chất lượng. như vậy, có thể hiểu là nhà đầu tư
đã không chọn đúng nhà thầu thi công đáng tin cậy, nhưng sai phạm trong
thi công không được bên giám sát phát hiện để ngăn chặn kịp thời; sau đó
bên nghiệm thu lại cũng không phát hiện, chưa kể những sai phạm khác về
chứng tư, hóa đơn cũng không phải là ít trong nền kinh tế tiền mặt hiện nay
đã góp phần hợp pháp hóa nhiều sai phạm.
* Quy hoạch không hợp lý và đầu tư dàn trải. Các dự án đầu tư chưa
được quy hoạch một cách tổng thể hợp lý có tính tới yếu tố vùng và địa
phương, tính toán nhu cầu đầu tư chua sát với thực tê, và đầu tư dàn trải cho
nhiều địa phương theo địa dưới hành chính.

143