Tải bản đầy đủ
Bảng 2.10: Kết quả thẩm định và phe diệt dự án đầu tư.

Bảng 2.10: Kết quả thẩm định và phe diệt dự án đầu tư.

Tải bản đầy đủ

3
4
5
6

2012
2013
2014
2015

96
68,439,541
96
68,330,225
83
95,312,684
83
95,095,300
72
10,234,320
72
9,654,210
85
5,690,540
85
5,595,230
Nguồn: KBNN, Sở kế hoạch và Đầu tư. Tỉnh Hua Phăn.

109,316
217,384
580,110
95,310

+ Đới với công tác thẩm định Báo cáo kinh tế - kỹ thuật (công trình có
tổng mức đầu tư < 2,5 tỷ kíp, từ 2005 lại nay < 5 tỷ kíp); Hồ sơ thủ tục được
nhận qua bộ phận một cửa của Sở kế hoạch và đầu tư, sau khi nhận đủ hồ sơ,
chuyển về phòng quản lý chuyên ngành để thẩm định. Sau khi xem xét hồ
sơ, nếu thấy cần thiết thì tổ chức cùng các sở, ngành có liên quan đi kiểm tra
thực tế các dự án, thống nhất về quy mô, nội dụng đầu tư. Phòng chuyên
ngành soát xét lại định mức, đơn giá, xác định tổng mức đầu tư và báo cáo
lãnh đạo sở trình UBND tỉnh quyết định.
Quy trình thẩm định dự án được thực hiện công khai, kịp thời các
trương trình, dự án trọng điểm của tỉnh, bám sát chủ trương, đường lối, tiêu
chuẩn, quy phjm, đơn giá và trình tự, KBNN thực hiện việc kiểm soát chi
tiêu đối với các dự án thi công đã được thẩm định. Giai đoạn 2010 - 2015 Sở
Kế hoạch và đầu tư phối hợp với KBNN tỉnh tiến hành thẩm định một số Dự
án đầu tư và Báo cáo kinh tế kỹ thuật của các chủ đầu tư đã phát hiện ra
tương đối nhiều sai lệch ở tổng mức vốn đầu tư do chủ đầu tư trình và tổng
mức vốn đầu tư sau khi thẩm định.
Công tác tổ chức đầu thầu cơ bản đã được thực hiện nghiêm túc, tiết
kiệm, hiệu quả và theo đúng quy trình của Nhà nước, tỷ lệ tiết kiệm bình
quân trong đầu thầu đạt trên 5%. Năng lực các chủ đầu tư, Ban Quản lý dự
án trong tổ chức đầu thầu đã được nâng lên, chất lượng hồ sơ mới thầu, hồ sơ
yêu cầu đảm bảo.
Thực hiện Luật thầu thầu, công tác đầu thầu được thực hiện ngày càng
công khai, mịnh bạch. Hầu hết các gói thầu được tổ chức đầu thầu rộng rãi,
chỉ có một số gói thầu đầu thầu hạn chế hoặc chỉ định thầu thực hiện theo
văn bản của UBND tỉnh. Thông tin về gói thầu, mới thầu, kết quả đầu thầu
được công bố công khai trên tờ báo về đầu thầu, trang Web đầu thầu của Bộ
125

kế hoạch và đầu tư, các phương tiện thông đại chúng khác. Bán hồ sơ mới
thầu được tiến hành đế trước khi đóng thầu, tối thiểu 15 ngày. Mở thầu được
tiến hành công khai, có sự chứng kiến của các cơ quan, tổ chức, các nhà
thầu….
Về giải ngân vốn đầu tư, tình hình giải ngân vốn đầu tư xây đựng cơ
bản qua kho bạc nhà nước tỉnh đến 2014. Ngân sách Trưng ương giả ngân
được 451.529 tỷ kíp đạt 88,4% kế hoạch; ngân sách địa phương 274.254 tỷ
kíp. bằng 60,73% kế hoạch. Nguyên nhân chủ yếu của việc giải ngân các
nguồn vốn chậm là do. Trung ương thông báo kế hoạch nguồn vốn chậm, do
cơ chế tạm ứng vốn đầu tư bằng 25% kế hoạch phân bổ nên ảnh hưởng đến
tỷ lệ giải ngân, tiến độ bàn giao mặt bằng thi công chậm, một số công trình
hồ sơ thiết kế dự toán chưa cao, nên chậm tiến độ dự án; một số chủ đầu tư
chưa kịp thời đôn đốc các nhà thầu nghiệm thu công trình….
Hàng năm, KBNN tỉnh Hua Phăn chỉ giải ngân được 40 - 45% , kế đó
tỷ lệ giải ngân trong quý 4 thường chiếm 20 - 25% kế hoạch năm. Nghĩa là
việc giải ngân chủ yếu dồn vào quý 4, làm cho công tác kiểm soát thanh toán
của KBNN bị quá tải vào những tháng cuối năm, điều này ảnh hưởng đến
chất lượng công tác kiểm soát, gât nên tình trạng vốn chờ công trình- công
hoạch vốn đầu tư, trong quá trình chờ vốn, hiệu quả vốn đầu tư thấp. Nguyên
nhân chủ yếu là:
Thứ nhất, cơ chế chính sách: Một số quy định trong quy chế quản lý
đầu tư và xây dựng và quy chế đầu thầu, công tác kiểm soát thanh toán vốn
đầu tư chưa đầy đủ, cụ thể. Chẳng hạn.
Chưa quy định về thủ tục, cách lập hồ sơ thanh toán đối với trương hợp
đơn vị trúng thầu là liên danh, trương hợp tổng công ty là đơn vị trúng thầu
nhưng giao lại cho các công ty thành viên hoặc chi nhánh của tổng công ty
thực hiện.


Chế độ bảo thực hiện hợp đồng, giá đến bù giải phóng mặt bằng, chi

126

phí ban quản lý chưa được quy định cụ thể, một số công việc trong quy
hoạch, chuẩn bị đầu tư chưa có định mức, đơn giá.


Chưa có quy định cụ thể về việc kiểm soát thanh toán đối với; các

Gói thầu có giảm giá theo thư giảm giá hoặc có hiệu chỉnh do sai sót; khối
lượng xây lắp hoàn thành và khổi lượng phát sinh của các gói thầu thực hiện
theo phương thức hợp đồng có điều chỉnh giá…..
Thứ hại, việc thông báo kế hoạch vốn đầu tư của các Bộ, ngành trung
ương và địa phương còn chậm, kế hoạch vốn đầu tư hàng năm là một trong
những căn cứ để KBNN thực hiện kiểm soát thanh toán vốn đầu tư, để chủ
đầu tư và nhà thầu triển khai kế hoạch như giải phóng mawjt bằng, tổ chức
đầu thầu, xây lắp, mua thiết bị…. Thực tế các năm qua các bộ, ngành phân
khai kế hoạch rất chậm.
Tóm lại, thực trạng về kiểm soát chi đầu tư phát triển KBNN tỉnh Hua
Phăn thời gian qua có những ưu, nhược điểm sau.
+ Ưu điểm:
 Nhìn chung, Luật NSNN, quy chế quản lý vốn đầu tư xây dựng

cũng như các văn bản có liên quan đến lĩnh vựa quản lý vốn đầu tư thời gian
qua không ngừng được hoàn thiện đã tạo điều kiện cho hoạt động kiểm soát
chi qua KBNN phát huy hiệu quả tích cự.
 Bộ máy KBNN tỉnh cũng đã nỗ lực lớn trong việc thực hiện chức

năng nhiệm vụ của mình, Đặc biệt, quy trình thah toán vốn đầu tư rất rõ
ràng, cụ thể và nhìn chung là hợp lý, tạo điều kiện cho công tác kiểm soát
thanh toán vốn đầu tư trong cả hệ thống KBNN thực hiện một cách thống
nhất, không gây phiền hà cho khách hàng.
+ Nhược điểm.
 Mặc dù công tác kiểm soát chi NSNN được thực hiện theo luật

NSNN, cơ chế chính sách cũng đã được sứa đối cho phù hợp với thực tế,
nhưng đến nay hệ thống cơ chế chích sách vẫn chưa đồng bộ, thiếu cơ chế

127

phối hợp, chưa phân định rõ phạm vi, mức độ kiểm soát giữa KBNN với các
cơ quan chức năng cũng như vấn đề trách nhiệm giải trình, trách nhiệm hậu
quả, các chế tài cụ thể để điều hành ngân sách theo dự toán.
 Phương thực quản lý, rút vốn chưa thống nhất về một đầu mối,

một số nội dung chi, khoán chi từ ngân sách thật sự vẫn nằm ngoài sự kiểm
soát của KBNN.
 Chất lượng của các bộ làm công tác quản lý tài chính nói chung

đặc biệt là khối huyện, chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn.
 Do nhiều nguyên nhân, tỷ lệ giải ngân hàng năm đạt thấp và dồn

chủ yếu vào cuối năm làm sảnh hưởng đến hiệu quả công tác kiểm soát chi,
gây nên tỉnh trạng vốn chờ công trình, công trình chờ vốn. Trong điều kiện
tỉnh Hua Phăn đang triển khai nhiều chương trình, dự án trọng điểm cơ sở
kinh tế, các công trình hạ tầng phục vụ khai thác mỏ sắt, than. Chương trình
phát triển xây dựng nông thôn mới, hậu quả bão lụt…với nhu cầu vốn đầu tư
nhất lớn nhưng cân đối thường đạt thấp, gây ảnh hưởng đến tiến độ triển
khai dự án..
2.5.

ĐÁNH GIÁ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TỈNH

HUA PHĂN GIAI ĐOẠN 2005 - 2015.
2.5.1. Kết quả đạt được.
Thứ nhất: xây dựng khuôn khổ pháp lý quản lý chi tiêu ngân sách.
Việc thông qua Luật NSNN năm với sữa đổi đã ban hành trong năm
2006 số 02/QH-ND, ngày 26/12/2006. Đã tạo ra được khuôn khổ pháp lý
tương đối hoàn chỉnh, trong đó có sự phân công trách nhiệm rõ ràng hơn
giữa các cơ quan Nhà nước trong quản lý chi tiêu ngân cách. Cụ thể:
+ Hội đồng nhân dân tỉnh.


Quyết định dự toán chi ngân sách, bao gồm chi ngân sách cấp mình

và chi ngân sách cấp dưới.


Quyết định phân bổ dự toán ngân sách cấp mình và mức bổ sung

128

cho ngân sách cấp dưới.
+ Ủy ban nhân dân các cấp.





Lập dự toán ngân sách địa phương.
Quyết định giao nhiệm vụ chi ngân sách cho các cơ quan trực thuộc.
Quyết định giao nhiệm vụ ch icho ngân sách cấp dưới.
Quyết định nguyên tắc bố trí và chỉ đạo thực hiện dự toán ngân sách

địa phương đối với một số lĩnh vực được Hội đồng nhân dân quyết định.
+ Các đơn vị sử dụng ngân sách.




Tổ chức lập và thực hiện dự toán chi ngân sách thuộc phạm vi quản lý
Chi đúng mục đích, đúng đối tượng và tiết kiệm.
Các đơn vị sự nghiệp được quyền chủ động sử dụng nguồn sự nghiệp

để phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động.
Việc phân cấp tài chính đã góp phần nâng cao tính tư chủ của chính
quyền địa phương, qua đó tạo điều kiện cho chính quyền địa phương hoạt
động độc lập hơn trong khả năng của mình để xây dựng chính sách chi tiêu,
mà còn hướng tới việc nâng cao tính trách nhiệm về chính trị, tính hiệu quả
và mịnh bạch trong quản lý tài chính công. Các dịch vụ công cộng được
cung cấp trong hệ thống thống nhất của Chính phủ, nay đã được phân cấp
cho tới chính quyền tỉnh, huyện, xã. Chính quyền địa phương ngày càng có
vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển con người, gần ¾ trong chi tiêu
giáo dục và đào tạo là do địa phương đảm nhận, trong chi y tế, chi ngân sách
địa phương chiếm khoảng 2/3.
Thứ hai, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực.
+ Hình thành hệ thống định múc làm cơ sở phân bổ ngân sách.
Sau khi ban hành Luật NSNN sửa đổi năm 2006, Chính phủ đã ban
hành hệ thống định mức chi tiêu ngân sách hàng năm và các định mức
thường xuyên sửa đổi. Nhưng định mức được tiêu chuẩn hóa và áp dụng cho
các mục chi trong lĩnh vực quốc phòng an nịnh, giáo dục, y tế, văn hóa xã
hội thể dục thể thao.

129

Dựa vào hệ thống định mức, chính quyền địa phương dự toán nhu cầu
chi tiêu và phân bổ nguồn lực tài chính… Có thể nói, phương pháp xác lập
hệ thống định mức chi tiêu một yếu tố quan trọng trong việc xác định hiệu
quả về phân bổ và hiệu quả về mặt kỹ thuật trong chi NSNN.
Về chi thường xuyên; Kế hoạch chi thường xuyên là một bộ phận quan
trọng của kế hoạch chi ngân sách của tỉnh do đó khi lập kế hoạch chi thường
xuyên, tỉnh đã căn cứ vào chủ trương của nhà nước về duy trì, phát triển các
hoạt động thuộc bộ máy quản lý nhà nước, các hoạt động sự nghiệp, hoạt
động quốc phòng an nịnh và các hoạt động xã hội khác trong từng giai đoạn
nhất định. Căn cứ vào Quyết định mức phân bổ dự toán chi ngân sách hàng
năm, căn cứ khả năng tài chính ngân sách và đặc điểm tình hình ở địa
phương, Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành quy
định định mức phân bổ ngân sách để làm căn cứ xây dựng dự toán và phân
bổ ngân sách địa phương cho từng năm. Trong việc ch icho các sự nghiệp y
tế, sự nghiệp kinh tế, sự nghiệp giáo dục, chi đào tạo, sự nghiệp quốc phòng,
sự nghiệp an ninh…. Đã quy định định mức phân bổ cho cấp tỉnh, cấp huyện
và cấp xã theo đơn vị kíp/người dân/năm. Định mức phân bổ ngân sách chi
thường xuyên cho đơn vị trực thuộc và các huyện thị được quy định theo
từng năm. Về chi quản lý hành chính nhà nước, Đảng, đoàn thể, đơn vị sự
nghiệp đã phân bổ tùy theo số lượng biên chế trong cơ quan, tùy theo từng
cấp tỉnh, cấp huyện thị và đơn vị sự nghiệp, có tính đến hệ số cho các cán bộ
công tác ở các huyện miền núi. Chẳng hạn, năm 2005 định mức ở cấp tỉnh
đối với đơn vị dự toán cấp I, tổ chức chính trị xã hội được phân bổ mức là 5
triệu kíp/ biên chế/năm; đơn vị dự toán cấp II, các đơn vị hành chính sự
nghiệp khác được phân bổ mức 3 triệu kíp/ biên chế/năm. Các hội xã hội,
nghề nghiệp định mức là 2.5 triệu kíp/biên chế/năm. Đối với các đơn vị dự
toán cấp I, các tổ chức chính trí nếu đơn vị có số biên chế dưới 30 người thì
bổ sung thêm khoảng kinh phí thường xuyên 6 triệu kíp/năm/đơn vị. Điều

130

này đã giúp các đơn vị có kế hoạch chi tiêu hợp lý, tiết kiệm, phân bổ định
mức cụ thể cho từng cán bộ công chức được hưởng tránh tình trạng sử dụng
lãng phí tài sản công. Tương tự như vậy Quyết định số 2501/TT-BTC, ngày
15/10/2007 về sự tổ chứ và hoạt động của Sở Tài chính tỉnh và Phòng Tài
chính huyện, cũng quy định rõ định mức phân bổ dự toán ngân sách cấp
huyện, xã theo tiêu chi biên chế, cơ cấu huyện xã theo khu vực và một số
tiêu chí bổ sung đối với một số lĩnh vự cụ thể. Định mức trên chưa bao gồm
tiền lương, có tính chất lương, các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
kinh phí công đoàn, các khoản khác theo quy định của pháp luật trích theo
lương, chi nghiệp vụ, tiếp khách và các khoản mau sắm, sửa chữa thường
xuyên. Chi thường xuyên khác định mức phân bổ cho cấp huyện dựa trên số
đơn vị hành chính trong huyện, cấp xá tính bính quân, có ưu tiên cho huyện,
xã miền núi.
+ Xác lập thứ tụ ưu tiên trong phan bổ chi NSNN.
Xây dựng ngân sách theo chương trình đầu tư công giai đoạn 2005 -2010
Việc xây dựng chương trình đầu tư công cộng đã tạo ra một khuôn khổ
thiết lập chương trình chi NSNN toàn diện, bao gồm chi đầu tư và chi
thường xuyên, qua đó giúp cho Chính quyền địa phương kieermsoast tốt việc
phân phố và sử dụng nguồn lực tài chính trong dài hạn.
Chính sách của Chính quyền địa phương ưu tiên chi đầu tư hơn là chi
thường xuyên. Điều này được thể hiện khá rõ nét ở quan điểm đã nêu trong
phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu năm 2010 - 2015 của BCH Đảng Bộ tỉnh
khóa IX “ tập trung huy động mọi nguồn lực phát triển CNH-HĐH”. Thực tế
cũng cho thấy, trong giai đoạn 2006-2010, mặc dù nguồn thu ngân sách tỉnh
tăng không đáng kể, nhưng Chính quyền địa phương vẫn duy trì tỷ trong chi
đầu tư trong tổng chi NSNN ở mức 7,9% GDP. Trong cơ cấu chi đầu tư, các
khoản cấp phát đầu tư xây dựng cơ bản cho các cong trình phi sản xuất, công
trình kinh doanh không hiệu quả được loại bỏ dần, thực hiện hình thức cho

131

vay ưu đãi thông qua các quỹ hỗ trợ tài chính. Ưu tiên kinh phí thực hiện
nhiệm vụ xây đựng cơ sở hạ tầng, tập trung đầu tư những dự án, công trình
trọng điểm của địa phương, xư lý dứt điểm các khoản nợ XDCB, ưu tiên
tăng vốn đầu tư thực hiện công cuộc CNH, HĐH các huyện miền núi, các xã
biên giới khó khăn, vùng đồng bào dân tộc vùng sâu vùng xa vùng khó khăn.

Đồ thị 2.10: Tỷ trọng chi ngân sách trên địa bàn Tỉnh Hua Phăn.
Nguồn: Sỏ Tài chính tỉnh Hua Phăn.
Trong thời gian qua các công trình, dự án trong điểm được triển khai
tích cực nhiều mô hình trong chi đầu tư xây dựng cơ bản tỉnh đã chú trọng
vào các lĩnh vực khác nhau. Các tuyến đường quốc lộ, hệ thống cầu đường
đều được nâng cấp, đầu tư xây dựng từng bước hoàn thiện hệ thống hạ tầng
cơ sở từ thành phố đến các nơi như: Quốc lộ 6A, 6B và Quốc lộ 7; hệ thống
cầu cống tại các huyện, các địa phương và giao thông nông thôn được cải
thiện, đặc biệt là các tuyến các vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế, khu chiến
lược đặc biệt khó khăn.
Nâng cao định hướng phục vụ người nghèo của chi NSNN. Thực hiện
các chương trình xóa đói giảm nghèo, xóa nhà tranh tre dột nát, phổ cấp giao
dục tiêu học một cách có hiệu quả. Các khoản chi giáo - dục đào tạo đảm bảo
thực hiện các yêu cầu về chi trả lương, phụ cấp giáo viên, chi thực hiện một
số mục tiêu như phổ cập giáo dục đảm bảo tiêu chi biên chế sự nghiệp giáo
dục, chi nâng cao chất lượng giáo dục như thay sách giáo khoa và thiết bị
dạy học….. Kết quả sử dụng nguồn lực tài chính công đã đạt được nhiều
thành tựu như đã nâng cao mức sống hộ gia đình, tăng tỷ lệ trẻ em đến
trường; dinh dưỡng, sức khỏe được cải thiện, nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực, công bằng về giới, tỷ lệ nữ tham gia lao động ngày càng nhiều và
đa dạng trong các ngành nghề. Chi sự nghiệp y tế chủ động trong phân bổ

132

dành kinh phí cho việc mua sắm trang thiết bị phục vụ cho việc khám chữa
bệnh, đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong việc khám chữa bệnh.
Tập trung vốn để đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế (nhất là
nhành nông nghiệp, thủy sản, dịch vụ và du lịch), đầu tư cho các công trình
thủy lợi, kiên cố hóa kênh mương nội đồng, tu bổ để điều.
Cùng với việc xác lập và tập trung nguồn lực cho các ưu tiên phát triển
của địa phương, tỉnh Hua Phăn cũng tiến hành phân cấp sâu rộng cho các
huyện, địa phương tạo điều kiện cho các huyện, địa phương chủ động quyết
định và phân bổ nguồn lực theo nhu cầu địa phương.
Đối với các nguồn thu được định hướng đầu tư cơ sở hạ tầng, tỉnh đã cố
gắng phân cấp tối đ acho huyện, cụ thể là nguồn tiền cho thue mặt đất, mặt
nước, tiền thu cấp quyết sử dụng, tiền thuế sử dụng đất nông nghiệp, tiền bán
nhà thuốc sỏ hữu nhà nước, tiền thuế bán hàng,v.v….Đối với các lĩnh vực
chi khác, tỉnh đã thực hiện phân cấp nhiệm vụ chi, đồng thời áp dụng
phương châm phân cấp tối đa nguồn thu để các cấp chính quyền huyện, địa
phương đảm bảo được các nhiệm vụ chi thường xuyên.
Thứ ba, triển khai các hiệu quả các nghị định về tự chủ, tự chịu
trách nhiệm về biên chế và tài chính đối với các cơ quan nhà nước và đơn
vị sự nghiệp công lập.
Trên cơ sở định mức biên chế các đơn vị được khoán chi ngân sách
hàng năm, các cơ quan quản lý hành chính nhà nước và các đơn vị sự nghiệp
công lập xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, xây dựng các đinh mức chi tiêu,
quy chế quản lý tài sản công theo đúng quy định. Nếu chi không hết các đơn
vị tiết kiệm được số tiền đó. Một ưu điểm của cơ chế khoán chi và giao
quyền tự chủ là tạo động lực thúc đẩy đơn vị sử dụng NSNN ngoài số được
cấp tích cực huy động các nguồn lực khác hoạch sử dụng nguồn được cấp
hợp lý hơn để tăng thu nhập.

133