Tải bản đầy đủ
Bảng 2.9: Cấp phát thanh toán vốn đầu tư qua Kho bạc nhà nước tỉnh.

Bảng 2.9: Cấp phát thanh toán vốn đầu tư qua Kho bạc nhà nước tỉnh.

Tải bản đầy đủ

nhiều công trình hoàn thành đưa vào sử dụng nhiều năm mới lập hồ sơ quyết
toán hoặc chưa thực hiện quyết toán vốn đầu tư theo quy định.
Thông qua công tác quyết toán vốn đầu tư giai đoạn 2005 - 2015 tại tỉnh
Hua Phăn cho thấy.
+ Một số chủ đầu tư chưa chỉ đạo kịp thời, quyết liệt đối với Ban Quản
ly dự án và các nhà thầu để đẩy nhanh tiến độ thi công, giải ngân, hoàn tạm
ứng và thanh quyết toán. Công tác quản lý nhà thầu trong quá trình thi công
chưa chặt chẽ, bố trí nhân lực, thiết bị, tài chính không đúng với hồ sơ dự
thầu và hợp đồng đã ký kết.
+ Chế độ, chính sách tiền lương của Nhà nước có biến động dẫn đến
phải điều chỉnh, bổ sung hồ sơ nhiều. Giá cả vật tự, nguyên vật liệu trượt giá
nhanh, trong khi đó vốn đầu tư không đáp ứng tiến đọ thanh toán gây khó
khăn cho việc đẩy nhanh tiến độ thi công, nhất là các công trình trọng điểm.
2.4.

THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH QUA KHO

BẠC NHÀ NƯỚC.
KBNN kiểm tra, kiểm soát chi NSNN theo nguyên tắc; Mọi khoản chi
phải có trong dự toán NSNN được giao đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức
do cấp có thẩm quyền quy định và đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân
sách hoặc người được ủy quyền quyết định chi, Việc thanh toán các khoản
chi NSNN qua KBNN phải được thực hiện trực tiếp từ KBNN cho người
hưởng lương, trợ cấp xã hội và người cung cấp hàng hóa dịch vụ (trừng hợp
chưa thực hiện được việc thanh toán trực tiếp, KBNN thực hiện thanh toán
qua đơn vị sử dụng NSNN); Trong quá trình kiểm soát, thanh toán, quyết
toán chi các khoản chi sai phải thu hồi giảm chi hoặc nộp ngân sách.
Trong công tác kiểm soát, thanh toán các khoản chi thường xuyên trên
địa bàn tỉnh, KBNN tỉnh Hua Phăn đã thực hiện chi khi co đầy đủ điều kiện;
Các khoản chi đã có dự toán chi NSNN được giao. Đúng chế độ, tiêu chuẩn,
định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền qui định, Đã được thủ trưởng

120

đơn vị sử dụng ngân sách người được uy quyền quyết định chi, Có đầy đủ hồ
sơ, chứng từ thanh toán theo quy định.
KBNN tỉnh Hua Phăn kiểm soát các hồ sơ, chứng từ chi và thực hiện
thanh toán kịp thời các khoản chi ngân sách đủ điều kiện thanh toán, Tham
gia với cơ quan tài chính, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong
việc kiểm tra tình hình sử dụng ngân sách.
Thời gian qua , công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư và vốn sự
nghiệp có tính chất đầu tư và xây dựng trong nước được thực hiện theo Luật
NSNN, và các Nghị định, Quyết định đã đề ra.
Trên cơ sở hồ sơ đề nghị thanh toán của chủ đầu tư, kho bạc nhà nước
căn cứ vào các điều khoản thanh toán được quy định trong hợp đồng (số lần
thanh toán, giai đoạn thanh toán, thời điểm thanh toán và các điều kiện thanh
toán) và giá trị từng lần thanh toán để thanh toán cho chủ đầu tư. Chủ đầu tư
tự chịu trách nhiệm về tính chính xác, hợp pháp của khổi lượng thực hiện,
định mức, đơn giá, dự toán các loại công việc, chất lượng công trình, Kho
bạc nhà nước không chịu trách nhiệm về các vấn đề này. Kho bạc nhà nước
căn cứ vào hồ sơ thanh toán và thực hiện thanh toán theo hợp đồng.
Kho bạc nhà nước thực hiện kiểm soát thanh toán theo nguyên tắc,
“thanh toán trước, kiểm soát sau”, cho từng lần thanh toán và “kiểm soát
trước, tính toán sau”. Đối với lần thanh toán cuối cùng của hợp đồng. Căn cứ
vào nguyên tắc này, Kho bạc nhà nước hướng dẫn cụ thể phương thức kiểm
soát thanh toán trong hệ thống kho bạc nhà nược, đảm bảo tạo điều kiện
thuận lợi cho chủ đầu tư, nhà thầu và đúng quy định của nhà nước.
Số vốn thanh toán cho từng công việc, hạng mục công trình, công trình
không dược vượt dự toán được duyệt hoặc giá gói thầu, tổng số vốn thanh
toán cho dự án không được vượt tổng mục đầu tư đã được phe duyệt. Số vốn
thanh toán cho dự án trong năm (bao gồm cả thanh toán tạm ứng và thanh
toán khổi lượng hoàn thành) không được vượt kế hoạch vốn cả năm đã bố trí

121

cho dự án. Riêng đối với dự án ADB việc thanh toán tạm ứng và thanh toán
khổi lượng hoàn thành, không bị hạn chế bởi kế hoạch tài chính hàng năm
của dự án nhưng không vượt quá kế hoạch tài chính chung của toàn dự án.
Tuy nhiên, một điều thực tế đễ nhận thấy rằng, dự toán XDCB phức
tạp hơn nhiều so với dự toán chi phí của một đơn vị sự ngiệp. Đr có một dự
toán XDCB phải đị từ khâu khảo sát thiết kế, ráp định mức, đơn gái, đặc biết
có dự án phải xây dựng định mức riêng huy động nhiều ngành tham gia.
Song chịu trách nhiệm đến đâu, như thế nào lại chưa có quy định cụ thể. Và
trên thực tế hiện nay chất lượng thiết kế, dư án chưa cao, có nhiều dự án thiết
kế kỹ thuật và tổng dự toán đã được phê duyệt nhưng khi triển khai thi công
lại phải bổ sung thiết kế, phải tiến hành xử lý rất tồn kém. Nhiều dự án,
nhiều công trình lập dự toán không chính xác do áp sai định mức, đơn giá
hoặc bóc tiên lượng, dự toán sai. Cũng tương tự như thế đối với cơ quan Nhà
nước được giao thẩm quyền phê duyệt các thủ tục đầu tư nhu thẩm định dự
án, thẩm định thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán, thẩm định quyết toán vốn
đầu tư để trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt. Thực tế cho thấy nhiều dự
án thời gian thẩm định chậm hơn nhiều so với quy định, thẩm định chưa
chính xác; thẩm định rồi. duyệ rồi nhưng vẫn bổ sung sửa đối, bổ sung xong
thẩm định vẫn đúng và vẫn phe duyệt; thậm chí dự toán chi tiết đã được
thẩm định và phe duyệt song qua thành tr tài chính hoặc kiểm soát thanh toán
vốn đầu tư của KBNN vẫn phát hiện sai sót và phải giảm trừ. Về phía chủ
đầu tư, có những dự án triển khai trước, ký hợp đồng sau; bên B thay đổi
chủng lại vật tư dùng cho công trình nhưng bên A vẫn ký phiếu giá đề nghị
thanh toán theo dự toán được duyệt, cả biệt vẫn có trường hợp A - B tiến
hành nghiệm thu trước khi có khổi lượng hoàn thành. Với thực tế đó nếu
KBNN chỉ căn cứ trên cơ sở dự toán được duyệt để thanh toán, không tiến
hành kiểm tra, sẽ gây thất thoát vốn NSNN. Đánh rằng chủ đầu tư là người
chịu trách nhiệm chính về việc sử dụng vốn ngân sách, cơ quan duyệt dự

122

toán nếu duyệt sai, gây lãng phí cũng phải chịu trách nhiệm, nhưng chịu
trách nhiệm về mặt vật chất như thế nào chưa được quy định cụ thể, hơn nữa
thời gian qua các vi phạm này chỉ thấy kiểm điểm trách nhiệm, chưa thấy xử
phạt. Điều đó dẫn đến tình trạng làm thất thoát vốn, gây lãng phí của xã hội
là một hiện tượng phổ biến trên địa bàn Tỉnh Hua Phăn. Qua thực tế như
vậy, cho thấy, quá trình kiểm soát thanh toán vốn đầu tư qua KBNN không
thể tách rời việc kiểm tra dự toán. Vấn đề quan trọng là phạm vi, mức độ
kiểm tra của KBNN đến đâu để chưa vào cơ chế và quy trình cho phù hợp,
trành sự trùng lặp hoặc bỏ sót, tránh ỷ lại của các cơ quan có thẩm quyền
duyệt thiết kế kỹ thuật và dự toán, cũng như chủ đầu tư vào cơ quan KBNN.
Như vậy, đòi hỏi cán bộ thanh toán vừa phải có chuyên môn về nghiệp vụ
kho bạc, vừa phải có hiểu biết đúng mức về XDCB để việc kiểm tra được
trung thực, kết quả là không gây phiền hà cho đầu tư và cũng không gây thất
thoát, lãng phí vốn ngân sách. Tuy nhiên trên thực tế, chất lượng của cán bộ
kho bạc nói chung và cán bộ thanh toán nói riêng chưa đáp ứng được yêu
cầu. Do vậy, vẫn cần sự hỗ trợ của cascn bộ kiểm tra có chuyên môn về kỹ
thuật XDCB. Tuy nhiên, nhìn vào quy trình kiểm soát chúng ta thấy người
chịu trách nhiệm về kết quả kiểm tra lại là cán bộ thanh toán, bản thân cán
bộ thanh toán khi nhận hồ sơ cũng phải tiến hành kiểm tra để trả lời cho chủ
đầu tư. Như vậy, ngây trong khâu kiểm soát này đang có sự trùng lặp.
+ Về công tác thẩm định dự án, đầu thầu; Công tác lập, thẩm định dự án
đã có chuyển biến tích cực, chất lượng hồ sơ dự án được cải thiện; sự phối
hợp giữa các ngành và các địa phương từ chủ trương đầu tư, tổ chức lập và
thẩm định dự án khá chặt chẽ. Nhờ vậy công tác thẩm định được nâng lên,
rút ngắn thời gian chuẩn bị đầu tư của dự án.
+ Đối với công tác thẩm định dự án (công trình có tổng mức đầu tư >2,5
tỷ kíp, từ năm 2005 lại nay công trình có tổng mức đầu tư trên 5 tỷ kíp). Hồ
sơ thủ tục được nhận qua bộ phân một cửa của Sở kế hoạch và đầu tư, sau

123

khi nhận đủ hồ sơ, chuyển 01 bộ về phòng Quản lý dự án và đầu tư XDCB
(nay là phòng Thẩm định dự án) để tham mưu chủ trì thẩm định và đồng thời
gửi hồ sơ về phòng quản lý chuyên ngành để phối hợp thẩm định. Sau khi
xem xét hồ sơ, sở kế hoạch và đầu tư tổ chức phối hợp với các cơ sở, ngành
có liên quan đi kiểm tra thực tế các dự án, tổ chức họp thẩm định để bàn
thống nhất về quy mô, nội dung đầu tư, những dự án chưa cần thiết thì giảm
quy mô đầu tư, cắt bỏ những hạng mục đầu tư chưa thực sự cần thiết hoặc
chọn những giải pháp hợp lý nhằm đạt được mục tiêu đầu tư với phương án
kinh tế - kỹ thuật hợp lý nhất. Khi đã thống nhất cơ bản về quy mô, nội dung
dự án, Sở kế hoạch và Đầu tư có văn bản gửi tới sở xây dựng chuyên ngành
cho ý kiến về thiết kế cơ sở, đồng thời gửi đến các cơ quan liên quan để xin
ý kiến phản biện dự án. Sau khi có ý kiến về thiết kế cơ sở, các ý kiến của cơ
quan có liên quan, Phòng thẩm định dự án phối hợp với phòng chuyên ngành
soát xét lại định mức, đơn giá, xác định tổng mức đầu tư và thống nhất báo
cáo lãnh đạo sở trình UBND tỉnh quyết định.

Bảng 2.10: Kết quả thẩm định và phe diệt dự án đầu tư.
T/T

A
1
2
3
4
5
B
1
2

Năm

DA ĐẦ TƯ
2010
2011
2012
2013
2014
2015
BCKT-KT
2010
2011

Chủ đầu tư trình

Kết quả thẩm định

Chênh

Số dự án và

Tổng mức đầu

Số dự án và

Tổng mức đầu

lệch

BCKT-KT

tư (tỷ kíp)

BCKT-KT

tư (tỷ kíp)

(tỷ kíp)

125
97
67
88
56
77

5,809,230
18,213,105
7,421,521
12,695,430
7,654,253
2,469,540

125
97
67
88
56
77

5,805,210
18,036,105
7,334,870
12,519,350
7,570,531
2,330,210

4,020
177,000
86,651
176,080
83,722
139,330

123
119

85,980,110
85,780,230

123
119

65,897,110
85,691,200

83,000
89,030

124

3
4
5
6

2012
2013
2014
2015

96
68,439,541
96
68,330,225
83
95,312,684
83
95,095,300
72
10,234,320
72
9,654,210
85
5,690,540
85
5,595,230
Nguồn: KBNN, Sở kế hoạch và Đầu tư. Tỉnh Hua Phăn.

109,316
217,384
580,110
95,310

+ Đới với công tác thẩm định Báo cáo kinh tế - kỹ thuật (công trình có
tổng mức đầu tư < 2,5 tỷ kíp, từ 2005 lại nay < 5 tỷ kíp); Hồ sơ thủ tục được
nhận qua bộ phận một cửa của Sở kế hoạch và đầu tư, sau khi nhận đủ hồ sơ,
chuyển về phòng quản lý chuyên ngành để thẩm định. Sau khi xem xét hồ
sơ, nếu thấy cần thiết thì tổ chức cùng các sở, ngành có liên quan đi kiểm tra
thực tế các dự án, thống nhất về quy mô, nội dụng đầu tư. Phòng chuyên
ngành soát xét lại định mức, đơn giá, xác định tổng mức đầu tư và báo cáo
lãnh đạo sở trình UBND tỉnh quyết định.
Quy trình thẩm định dự án được thực hiện công khai, kịp thời các
trương trình, dự án trọng điểm của tỉnh, bám sát chủ trương, đường lối, tiêu
chuẩn, quy phjm, đơn giá và trình tự, KBNN thực hiện việc kiểm soát chi
tiêu đối với các dự án thi công đã được thẩm định. Giai đoạn 2010 - 2015 Sở
Kế hoạch và đầu tư phối hợp với KBNN tỉnh tiến hành thẩm định một số Dự
án đầu tư và Báo cáo kinh tế kỹ thuật của các chủ đầu tư đã phát hiện ra
tương đối nhiều sai lệch ở tổng mức vốn đầu tư do chủ đầu tư trình và tổng
mức vốn đầu tư sau khi thẩm định.
Công tác tổ chức đầu thầu cơ bản đã được thực hiện nghiêm túc, tiết
kiệm, hiệu quả và theo đúng quy trình của Nhà nước, tỷ lệ tiết kiệm bình
quân trong đầu thầu đạt trên 5%. Năng lực các chủ đầu tư, Ban Quản lý dự
án trong tổ chức đầu thầu đã được nâng lên, chất lượng hồ sơ mới thầu, hồ sơ
yêu cầu đảm bảo.
Thực hiện Luật thầu thầu, công tác đầu thầu được thực hiện ngày càng
công khai, mịnh bạch. Hầu hết các gói thầu được tổ chức đầu thầu rộng rãi,
chỉ có một số gói thầu đầu thầu hạn chế hoặc chỉ định thầu thực hiện theo
văn bản của UBND tỉnh. Thông tin về gói thầu, mới thầu, kết quả đầu thầu
được công bố công khai trên tờ báo về đầu thầu, trang Web đầu thầu của Bộ
125