Tải bản đầy đủ
Đồ thị 2.4: Cơ cấu chi y tế.

Đồ thị 2.4: Cơ cấu chi y tế.

Tải bản đầy đủ

Thứ nhất: chi còn dàn trải, không trong điểm, từ đó tính hiệu quả
không cao đặc biệt là những khoản chi nâng cấp trạm xá, phòng khám tại các
địa phương vùng sâu vùng xa. Điều này đã đến thực trạng quá tải cho bệnh
viện tỉnh, do người dân thiếu tin tượng vào chất lượng phục vụ của các cơ sở
y tế tại các huyện.
Thứ hai: định mức phân bổ trên cơ sở giường bệnh hiên nay cũng còn
một số bất cập. Trong nhiều trường hợp quá tải hoặc sử dụng không hết công
suất giường bệnh rất khó khăn đối với việc thực hiện điều chỉnh ngân sách
đã phân bổ trông năm. Bên cạnh đó định mức phân bổ theo giường bệnh còn
thấp đã gây khó khăn trong hoạt động đặc biệt đối với các bệnh viện tuyến
huyện. Tính riêng tiền lương và phu cấp theo chế độ đã chiếm đến 80 - 85%
số kinh phí ngân sách phân bổ dẫn đến nhiều bệnh viện chỉ đủ chi trả lương
và chế độ cho cán bộ công nhân viện y tế không có đủ kinh phí để ch icho
hoạt động chuyên môn. Trong khi đó tại các bệnh viện này nguồn thu khác
từ bảo hiểm y tế, thu tư cung cấp các dịch vụ y tế lại rất thấp. Điều này đã
gây khó khăn lớn trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng họat động của
các bệnh viện. Như vậy, cơ chế phân bổ này mới chỉ chú trọng tới các yếu tố
đầu vào chứ chưa thực sự quan tâm đến chất lượng đầu ra, chưa sát và gắn
với hiệu quả hoạt động của mỗi đơn vị sự nghiệp y tế. Phương pháp này
chưa phù hợp với chủ trương đổi mới trong chính sách phân bổ ngân sách
nhà nước hiện nay mà mới chỉ thực hiện hỗ trợ trực tiếp cho đơn vị cung cấp
dịch vụ chưa chưa cấp cho đối tượng thủ hưởng sử dụng dịch vụ. Hình thức
phân bổ này vẫ mang tính bao cấp chưa thực sự thúc đẩy sự đổi mới cơ chế
hoạt động của các bệnh viện công hướng đến tính hiệu quả và thích hợp với
cơ chế thị trường, chưa khuyến khích được các bệnh viện hoạt động có hiệu
quả và nâng cao chất lượng dịch vụ.
Thực tế, cơ chế phân bổ ngân sách y tế hiện nay vẫn chủ yếu phân bổ
theo khả năng ngân sách chưa thực sự đảm bảo nhu cầu ch icho ngành y tế

103

và chưa thực sự phù hợp với cơ chế thị trường. Nguyên nhân chủ yếu cho
NSNN tỉnh có hạn, chưa có cơ chế phân bổ một cách phù hợp hiệu quả, chưa
thực hiện tốt được việc tập trung ngân sách cho những nhiệm vụ trộng tâm
dẫn đến việc phân bổ dàn trải giữa các vùng, các đối tượng…. Việc phân bổ
NSNN chủ yếu vẫn là hình thực phân bổ trực tiếp cho các đơn vị cung cấp
dịch vụ.
Với cơ chế dàn trải chi ngân sách từ tuyến xã, huyện đến tuyến tỉnh nên
không thể còn nguồn để cải thiện chất lượng y tế. Nên chăng thay thế cách
bố trí chi dàn trải như vậy bằng cách tăng cường đầu tư tuyến cơ sở và khu
vực y tế dự phòng, dành ngân sách đầu tư trang thiết bị hiện đại khám chữa
bệnh và chi trả tiền lương cao cho các bác sỹ giỏi cho một số bệnh viện trọng
điểm như bệnh viện tỉnh và một vài bệnh viện tuyến huyện. Nhà nước sẽ hỗ
trợ thông qua hệ thống bảo hiểm y tế đồng thời điều tiết thông qua viện phí,
nâng mức viện phí ở những bệnh viện được đầu tư tốt hơn cho mọt số nhóm
không thuộc diện ưu tiên trên địa bàn tỉnh.
Quả lý chi sự nghiệp kinh tế.
Xuất phát từ mục đích hoạt động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế
không phải là hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận, do đó áp dụng chế độ cấp
phát như một đơn vị dự toán. Quy mô chi sự nghiệp kinh tế tăng mạnh, giai
đoạn năm 2005 - 2010 chi ngân sách tỉnh cho sự nghiệp kinh tế bình quân là
174.290 tỷ kíp, giai đoạn 2011 - 2015 đạt 282.300 tỷ kíp, tăng bình quân
61,73% là 1,62 lần. Từ đó, góp phần tích cực trong việc tăng cường các hoạt
động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, bảo vệ thực vật, nghiên cứu và
áp dụng nhiều giống mới phục vụ cho nông nghiệp.
Ngoài ra một số chương trình được nghiên cứu triển khai như: đẩy
mạnh xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường đầ r acho nông sản, chương
trình dự án trồng mới 1679 ha rừng (năm 2005 là 15,200 tỷ kíp, năm 2010 là

104

45,250 tỷ kíp, năm 2015 đạt 65,542 tỷ kíp, so với 2005 tăng 4,31 lần, so với
2010 tăng 1,44 lần), đặc biệt là sự gia tăng mạnh khoản chi để nâng cấp cơ
sở hạ tầng, phục hồi các công trình giao thông, thủy lợi,…. Như đã hoành
thành và đưa vào sử dụng đường mới từ Sâm Nua đến cửa khẩu quốc tế
Xiêng Khương biên giới tỉnh Sơn La CHXHCN Việt Nam 130 km. Trị giá
65 triệu USD. và hiên nay đang triển khai chương trình xây dựng đường
nhựa mới từ Sâm Nua đến cửa khẩu quốc tế Pa Hàng huyện Mộc Châu tỉnh
Sơn La dài 120 km. Tri giá 210 triệu USD. do vốn của ADB; và chương
trình phát triển nông thôn mới trong toàn tỉnh đạt 261,000 tỷ kíp, trong đó có
vốn nước ngoài hỗ trợ không trả lại là 160,000 tỷ kíp. Vốn của Chính phủ
100.000 tỷ kíp.
Tuy nhiên do quá trình quản lý và kiểm soát chi không được chặt chẽ nên
tình trạng dàn trải thất thoạt lãng phí nguồn vốn của Nhà nược hiện vẫn còn
phổ biến đáng kể là các khoản chi tu sửa cơ sở hạ tầng trong thời gian qua.

Quản lý chi hành chính Nhà nước.
Là khoản chi nhằm bảo đảm sự hoạt động của hệ thống các cơ quan
quản lý Nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Đáp ứng yêu cầu đổi mới
nền kinh tế sang cơ chế thị trường, mục tiêu xây dựng bộ máy quản lý hành
chính gọn nhẹ và hiệu quả, trong thời gian qua chương trình cải cách hành
chính đã được triển khai riêng về lĩnh vực tài chính, tỉnh Hua Phăn đã thực
hiện rà soát lại toàn bộ các khoản chi hành chính một cách chặt chẽ trên tình
thần của pháp lệnh tiệt kiệm, chống lãng phí, theo đó các khoản chi phí hội
nghị, tiếp khách, chi phí có liên quan đến chế độ sử dụng tài sản công được
hạn chế và tiết kiệm. Do đó, tỷ trọng chi hành chính nhà nước tuy tăng về số
tuyệt đối nhưng đã có giảm về số tương đối, nếu từ năm 2005 - 2010 tỷ trọng
bình quân chi hành chính/tổng chi thường xuyên đạt khoảng 16,91%, thì tư

105

2011 - 2015 đật 10,42%; Đặc biệt trong năm 2015 do quá trình cải cách hành
chính được thực hiện nghiêm túc nên tỷ lệ chi quản lý hành chính chiếm
trong tổng chi thường xuyên giảm rõ rệt (giảm 6,20% so với 2014).

Đồ thị 2.5: Cơ cấu chi quản lý hành chính Nhà nước
Nguồn: Sở Tài chính tỉnh Hua Phăn, Niên giám thống kê tỉnh Hua Phăn.
Liên quan đến vấn đề quản lý hành chính nhà nước, ngày
12/9/2007Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 241/2012/CT-TTg về việc
tiếp tục đẩy mạnh công các cải cách hành chính Nhà nước nội dung chính:
cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy, cải cách tài chính công và đổi mới
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ mà chương trình hành động cụ thể là
thực hiện khoán chi trong các cơ quan hành chính. Điều này đem lại những
tác dụng cơ bản.
+ Bãi bỏ tính bình quân trong phân bổ ngân sách, nói cách khác là xóa
bỏ cơ chế “xin cho” đã tồn tại quá lâu trong cơ chế bao cấp.
+ Xây dựng dự toán ngân sách gọn, nhẹ, đặc biệt là không tách bạch
giữa phần khoán chi và phần không khoán chi. Từ đó góp phần tích cực cho
việc theo dõi, quản lý và quyết toán, giao dự toán kế hoạch hàng năm được
ổn định.
Tuy nhiên, so với yêu cầu và mục tiêu đề ra, nhìn chung công tác cải
cách hành chính ở Tỉnh Hua Phăn vẫn còn bộc lộ nhiều khuyết điểm,yếu
kém, tiến độ cải cách còn chậm, hiệu quả thấp, chưa động bộ. Tình trạng quy
định và thực hiện các thụ tục hành chính trên nhiều định vực, nhất là trong
quan hệ với dân và doanh nghiệp vẫn còn phức tạp, phiền hà, chậm được
khắc phục cơ bản. Công tác quản lý, xây dựng và nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ, công chức chưa có chuyển biến đáng kể. Việc triển khai phân
cấp cụ thể trên từng ngành, lĩnh vực và công tác xã hội hóa thực hiện chậm

106

và còn nhiều yếu kém. Yêu cầu về điều chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy theo
hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả chưa được tuân thủ nghiêm túc, số lượng
các đầu mối trực thuộc tăng lên. Đổi mới quản lý tài chính công chưa theo
kịp với cải cách trên các lĩnh vực khác.
Trong tổn chi hành chính Nhà nuwoasc thì chi quỹ tiền lương là chiếm
tỷ trong lớn nhất (bình quân 70%/tổng chi hành chính Nhà nước). Để phù
hợp với biến động của cơ chế thị trường, đồng thời đảm bảo chính sách tiền
lương, tiền lương phải là động lực nâng cao chất lượng dịch vụ công, do đó
từ năm 2005 đến nay mức lương tối thiểu liên túc được tăng: mức lương tối
thiểu năm 2005 - 2007 là 500.000 kíp/tháng; 2008 - 2010 là 750.000
kíp/tháng; 2011 - 2015 là 1.500.000 kíp/tháng. Việc tăng tiền lương đã làm
cho tổng quỹ lương của Nhà nước nói chung và tổng quỹ lương của tỉnh Hua
Phăn nói riêng tăng mạnh. Mỗi đợt điều chỉnh lương, khoản chi tiền lương
lại tăng. Năm 2010 dự tính bổ sung từ cân đối ngân sách trung ương cho
ngân sách tỉnh về việc tiền lương là 112,100 tỷ kíp; năm 2014 là 324,500 tỷ
kíp và năm 2015 là 359,300 tỷ kíp. Trong khi với mức tăng trưởng kinh tế
hiện nay mỗi năm trên địa bàn tỉnh tăng thu 200,000 tỷ kíp. Từ thực trạng
trên có thể thấy rằng, quá trình cải cách tiền lương hiện đang củ yếu trông
nhờ vào nguồn NSNN cấp. Do đó, chủ chương cải cách hành chính thông
qua khoản chi tài chính là giải pháp tích cực để thực hiện cải cách tiền lương
trong khu vực hành chính đồng thời giảm bớt gành nặng cho ngân sách.
Tóm lại, trong thời gian qua chi quản lý hành chính đã góp phần trong
việc thực hiện chức năng quản lý của Nhà nước, bảo đảm thực hiện thành
công các nhiệm vụ chính trị, duy trì sự ooen định vĩ mô và vai trò quản lý
kinh tế của Nhà nước. Tuy nhiên do khả năng tài chính còa hạn chế nên
chính sách cải cách tiền lương vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra, mặt khác do vấn
đề kiển soát chi chưa đảm bảo chất lượng nên trình trạng thất thoát, gây lãng

107