Tải bản đầy đủ
Đồ thị 2.3: Cơ cấu chi giáo dục đào tạo.

Đồ thị 2.3: Cơ cấu chi giáo dục đào tạo.

Tải bản đầy đủ

+ Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, đặc biệt là các
trường phổ thông.
+ Đời sống của giáo viên được quan tâm hơn qua các bước cải cách chế
độ tiền lương; đặc biệt địa phương đã thực hiện chính sách đãi ngộ cho giáo
viên, cán bộ quản lý giáo dục….
+ Hoàn thành chương trình xóa mù chữ theo đúng mục tiêu Nghị quyết
Trung ương đề ra đồng thời đang thực hiện triển khi chương trình phổ cấp
tiểu học trong cả nước, chương trình dụ học bằng nguồn vốn ngân sách…..
Trong thời gian qua thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục đã và
đang được triển khai mạnh mễ nhằm mục địch xây dựng cộng đồng trách
nhiệm của tất cả các tầng lớp dan cư, mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác
các tiềm năng về nhân tài vật lực trong xã hội để phát triển sự nghiệp giáo
dục. Chủ trương này xét trên một góc độ nhất định đã góp phần giảm áp lực
cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo, từ đó tạo điều kiện để Nhà nước thực hiện
những chương trình trong điểm của ngành giáo dục như: xóa mù chữ, phổ
cấp tiểu học, mở rộng giáo dục miền núi… tăng quy mô chi vầ đào tạo và
huấn luyện cán bộ ngành giáo dục, cải cách chính sách lương bổng… Tỉnh
Hua Phăn có tỷ lệ biết chữ cao (78,5%) và tỷ lệ tuổi đi học 6 năm vào trường
học 86%, tỷ lệ người lớn biết chữ tăng 73% của tổng dân số trong năm 2011,
đã xoá bỏ mù chữ và tốt nghiệp cấp tiểu học bồi dưỡng 10 huyện. Năm 2011
có trường mầm non và mẫu giáo 650 trường, có trẻ em vào học 69.717 người
so với năm 2010 tăng 19%/năm; Trường tiểu học 830 trường, số học sinh
1.250 người, bình quân tăng 0,5%/năm; Trường phổ thông trung học 1.052
trường, số học sinh 255.083 người, bình quân tăng 2,4%/năm. Học viện sư
phạm có 10 Học viện, số sinh viên 17,481 người, bình quân tăng 5,4%/năm,
số lượng sinh viên học ở Học viện đào tạo cấp cao và đại học 1.509 người,
trong nhưng năm qua:

98

Tuy nhiên, Tỉnh có một số thách thức liên quan đến giáo dục đại học và
đào tạo nghề. Thứ nhất, chỉ có 30% dân số trẻ của tỉnh Hua Phăn (18 - 20
tuổi) đi học đại hoc/cao đẳng, so với mức trung bình của cả nước là 35% hơn
nữa, trong 30% này, hơn 65% đi học ngoài tỉnh. Những lý do chính của thực
trạng này gồm: (i) Thiếu đội ngũ giảng viên đạt chất lượng. (ii) cơ sở vật
chất còn nghèo nàn, (iii) cơ sở phát triển hệ thống giảng dạy còn thiếu chất
lượng.
Mặc dù có những chuyển biến tích cực và đóng góp nhất định cho việc
phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo trong thời gian qua, thuy nhiên thực
trạng quản lý chi sự nghiệp giáo dục - đào tạo hiện đang tồn tại mốt số vấn
đề cần giải quyết, đó là:
Thứ nhất:Phân bổ ngân sách cho giáo dục - đào tạo chưa hợp lý.
+ Đối với giáo dục phổ thông: dựa vào định mực được phân bổ cho
ngành giáo dục, Sở giáo dục, phòng giáo dục tiến hành tính toán mức kinh
phí cấp cho các trường. Số kinh phí cấp dựa vào số lượng biên chế nhân với
định mức trên một biên chế (phục vụ chi thanh toán cá nhân), công nguồn
thu từ học phí (nếu có) cộng kinh phí được cấp trên đầu học sịnh,(phục vụ
chủ yếu cho chi hoạt động), số kinh phí này được sử dụng 80% để chi lương
và 20% chi khác.
Cơ sở phân bổ dựa trên quyết toán vài năm trước để tính ra mức bình
quan cho các trường; Mức chi chung cho các trường, Mức chi theo lớp: Lập
định mức cho lốp (điện, nước, phục vụ,.v.v…); Mức chi theo giáo viên: văn
phòng phẩm, nước uống, công tác phí, thường,….và Mức chi theo đầu học
sinh ( điện, nước, khen thưởng,….).
Trong thực tế xảy ra tình trạng có trường các trường ở thành phố hoặc
một số trường điểm số lượng học sịnh nhiều nhưng số lượng giáo viên ít, dẫn
đến số học sịnh trên một lớp đônh, hoặc ở các huyện, xã miền núi số lượng
học sịnh ít, số lượng biên chế giáo viên không đổi, định mức học sinh trên

99

mỗi lớp rất ít thì với việc cấp kinh phí theo lớp học định mức bình quân cho
trường sẽ công bằng.
+ Đối với giáo dục đại học, cao đẳng: hiện nay việc giao dự toán
NSNN cho trường Đại học tỉnh Hua Phăn và các trường cao đẳng trên địa
bàn tỉnh được thực hiện theo cơ chế khoán, việc giao khoán được căn cứ vào
khả năng của ngân sách, dự toán được giao năm trước để làm căn cứ giao
khoán năm sau. Do hàng năm có sự thay đổi nhiều số lượng, cơ cấu đào tạo,
giả cả,… nhưng việc giao khoán không gắn với số lượng, chất lượng, cơ cấu
ngành nghề và quy mô đào tạo. Bên cạnh đó, việc giao tự chủ tài chính (theo
các nghị định nhưng không được giao tụ về mức thu học phí, các cơ sở đào
tạo vẫn phải thực hiện mức thu học phí trong trường quy định thấp, không bù
đắp đủ chi phí hoạt động thường xuyên nên việc thực hiện tự chủ tài chính
không thực chất.
Thứ hại:Chế độ tiền lương hiện hành vẫ chưa đáp ứng mục tiêu nâng
Cao đời sống vật chất cho độ ngữ giáo viên.
Mặc dù thời gian qua tiền lương đã có cải cách qua các thời điểm
1986 - 2001, đặc biệt là năm 2002 áp dụng chế độ tiền lương mới, trong đó
quy định lại hệ số lương cho cán bộ viên chức, sau đó mức lượng tối thiểu
lần lượt được tăng lên trong các năm. 2005 - 2010 (650.000 kíp); 2011 2014 (760.000 kíp); trên địa bàn tỉnh thu nhập bình quân đầu người tăng
khoảng gấp đôi so với năm 2004 (thu nhập GDP bình quân đầu người năm
2010 ước khoảng 2.460.000 kíp; 2011 đạt 2.720.000 kíp; 2012 đạt
2.800.000 kíp; 2013 đạt 3.200.000 kíp; 2014 đạt 4.500.000 kíp và năm 2015
đạt 5.600.000 kíp/người/năm. Tuy nhiên, chế đọ tiền lương hiện vẫn chưa là
nguồn soodng chủ yếu cho người hưởng lương từ NSNN nói chung và độ
ngũ giáo viên nói riêng. Hiện nay Chính phủ đã có chính sách đặc biệt giáo
viên tính them lương 15% - 25%/người/tháng. Theo khu vực thành phố, địa
phương và khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa; Bình quan hiện nay lương

100

giáo viên trên địa bàn tỉnh Hua Phăn đạt Khoảng 30 triệukíp/năm. 3000
USD/năm.
Về quản lý chi sự nghiệp y tế:
Trong cơ chế cấp toán bộ nhu cầu tài chính của các tổ chức ý tế đều
do NSNN đài thọ, tuy nhiên sự tài trợ này chỉ đáp ứng khoảng 50% - 60%
nhu cầu thiết yếu. Trong điều kiện xóa bỏ bao cấp của NSNN đối với sự
nghiệp y tế, bên cạnh nguồn viên phí được động viên từ người bệnh, Nhà
nước đã thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội. Đây là hình thức huy động phí
bảo hiểm của các cả nhân, tập thể để hình thành quỹ bảo hiểm xã hội. Trong
thời gian qua chi NSNN cho sự nghiệp y tế được sử dụng vào các hoạt động
chủ yế sau:
+ Cấp phát kinh phí cho các hoạt động phòng chống các dịch bệnh, an
toàn thực phẩm.
+ Thực hiện các chương trình trọng điểm của ý tế.
+ Chi về khám chữa bệnh cho những đối tượng đựac biệt, thực hiện các
biện pháp hỗ trợ người nghèo, đồng bào dân tộc miền núi, vùng khó khăn
như: khám và chữa bệnh miễn phí, cấp thẻ bảo hiểm y tế.
+ Chi về tăng cường cơ sở vật chất khám và chữa bệnh ch ocho các
trạm xá, bệnh viện, phòng khám,….

Bảng 2.5: Tình hình sự nghiệp y tế.
Năm
Tổng chi y tế (tỷ kíp)
Tỷ lệ chi y tế chiếm trong

2011
350,23

2012
420,10

2013
450,50

2014
550,00

2015
650,30

tổng chi thường xuyên (%)
Tỷ lệ chi y tế chiếm trong

5,60

7,20

7,23

8,12

10,04

101

tổng chi ngân sách (%)
Tỷ lệ chi y tế chiếm trong

1,87

2,10

2,35

3,23

3,80

tổng GDP (%)

1,35

1,50

1,57

2,30

2,45

Nguồn: Sở Tài chính Tỉnh Hua Phăn, Niên giám thống kê tỉnh Hua Phăn.
Tỷ lệ chi cho y tế hàng năm chiếm trong tổng GDP tỉnh biển đổi
không đáng kể. Chi sự nghiệp y tế chiếm bình quân tổng 1,45% trong torn
GDP tỉnh giai đoạn 2005 - 2010, và năm 2011 - 2015 đạt 1,83%. Tuy nhiên
tỷ lệ chi y tế chiếm trong tổng chi ngân sách cũng như lĩnh vực giáo dục tào
tạo, tỷ trọng khoản chi này trong các năm trở lại đây có xu hướng tăng lên so
với trước đây. Giai đoạn 2005 - 210 tỷ trọng chi y tế chiếm trong tổng chi
ngân sách tỉnh là 4,54%, nhưng từ 2011-2015 tỷ lệ này đến 7,13%. Vì vậy,
chi NSNN ở các vực tăng vọt làm cho tỷ trọng chi cho y tế năm 2015 tăng
lên 7,87%.
Đồ thị 2.4: Cơ cấu chi y tế.
Hiện nay, với chủ trương xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp trong
đó có các hoạt động của ngành y tế không nằm ngoài mục đích nâng cao chất
lượng hoạt động khám chữa bệnh và năng suất lao động của cán bộ ngành y,
tăng cường trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật cho một nền y tế cả 3 tuyến; khởi
công xây dựng bệnh viện tâm thần, tập trung đầu tư xây dựng và nâng cấp
Bệnh viện Đa khoa tỉnh và các bệnh viện đa khoa huyện, thành phố, thị xã.
Công tác xã hội hóa trong lĩnh vực y tế có nhiều chuyển biển tích cực, đã
thành lập 1 bệnh viện, nhiều phòng ở tỉnh để khám tư nhân và triển khai các
hoạt động liên doanh, liên kết mua sắm trang thiết bị, góp phần nâng cao
năng lực chẩn đoàn, điều trị.
Tuy nhiên, hiện nay chi ngân sách cho lĩnh vực y tế còn thấp, nó chỉ
chiếm khoảng 31% so với ch icho sự nghiệp giáo dục. Mặc dù đã có những
đóng góp nhất định cho sự phát triển của hoạt động y tế trong đời sống xã
hội, tuy nhiên, quản lý chi sự nhiệp y tế tỉnh Hua Phăn vẫn còn một số tồn tại
102