Tải bản đầy đủ
Đồ thị 2.2: Cơ cấu chi thường xuyên trong tổng chi NS và GDP nội tỉnh.

Đồ thị 2.2: Cơ cấu chi thường xuyên trong tổng chi NS và GDP nội tỉnh.

Tải bản đầy đủ

hướng NSNN tại tỉnh Hua Phăn CHDCND Lào được thực hiện theo luật
ngân sách năm Nhà nước sửa đổi số 02/QH Lào; ngày 26/12/2006. Nhị định
của Chính phủ số 80/TT Lào; ngày 28/02/2007 về sự tổ chức và hoạt động
của Bộ tài chính bao gồm ngân sách Trung Ương và ngân sách địa phương.
Căn cứ Nghị quyết số 03/TT Lào; ngày 15/2/2012 hướng dẫn thực hiện về
lập tỉnh là chiến lược, lập huyện là mạnh mẽ toàn diện và lập làng là phát
triển. Vì vậy các khoản chi thường xuyên việc lập dự toán phải tiến hành
theo một quy trình từ cơ sở, trên cơ sở dự kiến chi theo mục lục ngân sách.
Phương thức quản lý chi ngân sách tại tỉnh Hua Phăn trong thời
gian này chủ yếu là quản lý theo yêu tố đầu vào, lạp dự toán chi thường
xuyên được tiến hành trong thời gian cố định mỗi năm một lần, Hàng năm,
căn cứ vào nguồn ngân sách dự báo tăng trưởng một tỷ lệ nhất định cộng với
tỷ lệ trượt giá, cơ quan dự thảo ngân sách thông báo số kiểm tra chi trên cơ
sở nguồn thu có được, thông thường cũng tăng một tỷ lệ nhất định, cộng với
tăng chi do bổ sung ngân sách. Số phân bổ được thông báo xuống cơ quan
thụ hưởng ngân sách địa phương và các đơn vị sử dụng ngân sách từ bộ
ngành tới các đơn vị cơ sở, Căn cứ vào số được phân bổ và như cầu thực tế,
các đơn vị tiến hành lập ngân sách.
Toàn bộ quy trình này, không yêu cầu thể hiện kế hoạch công việc, các
bản giải trình về kết quả công việc, không phản ánh được với lượng chi phí
như vậy thì kết quả đạt được như thế nào, không biết cơ quan nào hoàn thành
nhiệm vụ ở mức độ nào, có tương xứng với mức chi phí bỏ tra hay không.
Giai đoạn 2011 - 2015:
Được đánh dấu mốc bởi các quy định vầ quản lý tài chính ở các cơ
quan thụ hưởng ngân sách, đó là: Nghị định số 241/NĐ-CP ngày 12/9/2013
của Chính Phủ quy định về tổ chức thực hiện quản lý kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội và quản lý NSNN năm 2013, Nhị định số 813/GĐ;STC Lào;
Ngày 5/12/2013 về thực hiện quản lý chi NSNN cấp tỉnh và cấp huyện năm

92

2013. Quy định quyề tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ
chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập.
Các nghị định trên đã mở đường cho việc áp dụng quản lý NSNN theo
kết quản đầu ra. Tuy nhiên, trên thực tế ở tỉnh Hua Phăn, phương thức quản
lý chi NSNN theo kết quả đầu ra được áp đụng chưa phổ biến, Vì đây là
phương thức quản lý gắn liền với nền kinh tế thị trường, mới mẻ ngay cả với
các nước phát triển và chỉ có thể áp dụng ở các nước, địa phương có trình độ
quản lý cao, thông tin đầy đủ, minh bạch cơ sở hạ tầng tin học, cùng với các
phương tiện hỗ trợ kỹ thuật và hệ thống chính sách đồng bộ. Các yêu tổ đó là
cơ sở để xác định kết quả đầu ra cụ thể, có đo lường về số lượng, thời gian,
chi phí….Điều đó cho phép đánh giá hiệu quả sử dụng ngân sách, lựa chọn
phương án tối ưu, coi lĩnh vực cung cấp hàng hóa, dịch vụ công bình đẳng
như đối với hàng hóa tư nhân. Có thế nói đây là yêu cầu và xu hướng tất yếu
cần thường tới của đất nước có nền kinh tế thị trường.
Thực trạng này đã và đang được khắc phục dần bằng cách khoản biên
chế hành chính và giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho thủ trưởng đơn
vị sử dụng ngân sách Nghi quyết và Nghi định của các cấp ban hành. Ở tỉnh
Hua Phăn đã thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên
chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Các đơn vị được tự chịu
tự chủ biên chế và khoản chi. Thông qua việc dự toán đầu năm, UBND tỉnh
giao quyền tự chủ, tự chị trách nhiệm cho các cơ quan quản lý hành chính
trực thuộc và các đơn vị sự nghiệp.
Một phương thực quản lý chi NSNN mới được quan tâm mà một số
quốc gia trên thế giới áp dụng đó là Quản lý chi ngân sách theo khuôn khổ
chi tiêu trung hạn. Phương thực này có thể nói là có nhiều ưu điểm. Nó được
coi như một kể hoạch trượt, kế hoạch cuốn chiếu trong nhiều năm (từ 3-5
năm), sau mỗi năm căn cứ vào dự báo vĩ mô thay đổi thì lại điều chỉnh kể

93

hoạc những năm tiếp theo và tính thêm một năm nữa, vì vậy lúc nào cũng
tồn tại kế hoạch trung hạn và luôn được cập nhận cho phù hợp với thực tiễn.
Hiện nay phương thức quản lý chi tiêu theo khuôn khổ trung hạn chưa
được áp dụng ở tỉnh Hua Phăn, bởi yêu tố cơ bản là công cụ dự báo vĩ mô,
yếu tố quan trọng nhất quyết định về việc thực hiện theo phương thực quản
lý này thì Hua Phăn chưa xây dựng được. Hua Phăn hiện cũng đang xây
dựng kế hoạch chi ngân sách giai đoạn 2015 - 2016, Tuy nhiên Hua Phăn gọi
là thời kỳ ổn định ngân sách, nó là bản kế hoạch chi tiêu ngân sách, có thể
được điều chỉnh và bổ sung hàng năm không chứ không phải kế hoạch chi
tiêu trung hạn. Bởi xây dựng kế hoạch trung hạn thời gian tương đối dài với
dự kiến mang nhiều yếu tố chủ quan như vậy không mang tính khả thi và
thường không đạt được kết quả như dự tính ban đầu hay những biến động
ảnh hưởng đến mục tiêu hầu như không được quan tâm cập nhật nhằm điều
chỉnh cho phù hợp trên địa bàn tỉnh Hua Phăn CHDCND Lào.
2.2.2. Quản lý chấp hành dự toán chi thường xuyên của ngân sách
giai đoạn 2005 - 2015
Chấp hành dự toán chi tường xuyên của ngân sách trong giai đoạn này
tại tỉnh Hua Phăn được quản lý theo chu trình ngân sách hay còn gọi là chi
ngân sách theo kế hoạch hàng năm. Bao gồm các giai đoạn:
- Cấp phát các khoản chi thường xuyên
- Kiểm soát chi thường xuyên
- Điều chỉnh dự toán chi thường xuyên (nếu có)
Việc quản lý thường xuyên của ngân sách theo kế hoạch hành năm cho
phép tính toán tương đối sát nguồn lực tài chính có thể có được, từ đó giúp
cho việc bố trí chi tiêu tương ứng với năng lực thực tế. Các làm đó có thuận
lợi là dễ làm, ít phải điều chỉnh dự toán và nếu có thì mức độ điều chỉnh
không lớn so với khi xây dựng dự toán. Song trong điều hành ngân sách khó
khăn vì có nhiều công việc kéo dài trong nhiều năm, nhưng kết thúc từng

94

năm, phải quyết toán chi tiêu năm đó trong khi công việc chưa kết thúc; mặt
khác không cho phép tính toán nguồn lực tương đối chính xác trong trung
hạn vì không căn cứ vào dự báo vĩ mô, điều đó gây khó khăn cho việc xây
dựng chính sách chi tiêu trung hạn.
Giai đoạn 2005 2010: Tỷ trọng chi NSNN cho công việc mang tính
chất thường xuyên chủ yếu tính yếu tố chi phí đầu vào lại không gắn với
trách nhiệm hiệu quả công việc của người sử dụng kinh phí với số kinh phí
được thụ hưởng, cách quản lý chi thường xuyên ở các lĩnh vực đều na ná như
nhau, bắt đầu từ chi phí cho con người dựa trên biên chế được giao vẫn còn
mang tính chủ quan áp đặt, sau đó là chi phí đi kèm để thực hiện nhiệm vụ
dựa trên chế độ ch icho từng lĩnh vực, song cũng có cơ chế quản lý tiên tiến
hơn ngoài việc dựa theo số biên chế được giao.
Giai đoạn 2011 - 2015: Quản lý chấp hành dự toán chi thường xuyên
của ngân sách được thực hiện theo các nội dụng chi gắn với các chức năng,
nhiệm vụ của các đơn vị thụ hưởng ngân sách. Trong quá trình thực hiện,
đơn vị được điều chỉnh các nội dung chi, các nhòm mục chi trong dự toán
chi được cấp có thẩm quyền giao cho phù hợp với tình hình thực tế của đơn
vị, đồng thờ gửi cơ quan quản lý cấp trên và Kho bạc Nhà nước nơi đơn vị
mở tài khoản để theo đõi, quản lý, thanh toán và quyết toán. Kết thúc năm
ngân sách, kinh phí do ngân sách chi hoạt đông thường xuyên và các khoản
thu sự nghiệp chưa sử dụng hết, đơn vị được chuyển sang năm sau để tiếp
tục sử dụng. Tính đến cuối năm 2015, rà soát lại tính hính thực hiện chế độ
tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo các Quy định như trên tỉnh Hua Phăn cho
thấy: Các cơ quan hành chính được giao quyền tự chủ là 45/130 đơn vị,
trong đó, cấp tỉnh là 31 đơn vị đạt 85%, cấp huyện còn 109 đơn vị chưa giao
quyền tự chủ do các huyện, thì thành phố chưa quan tâm thực hiện; các đơn
vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ là 66/140 đơn vị trong đó cấp
tỉnh đạt 56/135 đơn vị, đạt 89%: cấp huyện đã giao 59 đơn vị. Các đơn vị

95

thực hiện chế độ tự chủ đã triển khai các biên pháp để thực hành tiết kiểm,
chống lãng phí trong sử dụng kinh phí, quản ly, sử dụng tài sản như: Ban
hành Quy chế quản lý và sử dụng xe ô tô, định mức phân bổ và sử dụng văn
phòng phẩm….từ đó đã tiết kiệm kinh phí, tăng thu nhập cho các bộ, công
chức.

Bảng 2.3. Kinh phí tiết kiệm và thu nhập bình quân tăng thêm từ
việc thực hiện chế độ tự chủ của các đơn vị cấp tỉnh.
(đơn vị: 1000 kíp).
Đơn vị hành chính
KP Tiết
TN BQ tăng

Năm

Kiệm
2011
2012
2013
2014
2015

2.014.000
3.291.000
4.643.000
5.251.000
6.524.000

Đơn vị sự nghiẹp
KP Tiết
TN BQ tăng

Thêm(/người)
Kiệm
Thêm(/người)
1.300
4.322.000
3.472
1.924
3.365.000
4.314
2.000
3.860.000
6.192
2.300
4.100.000
6.500
2.900
4.920.000
6.825

(Nguồn: Sở Tài chính Hua Phăn)
Trong qua thực hiện cơ chế tự chủ các đơn vị chủ động sử dụng kinh
phí, tài sản, nguồn nhân lực có hiệu quả để thực hiện nhieejmvuj, công tác
quản lý, sử dụng kinh phí được thực hiện chặt chẽ, công khai, dan chủ, góp
phần tăng nguồn thu, tiết kiệm chi để bổ sung nguồn kinh phí hoạt động,
trích lập các quỹ, đầu tư trang thiết bị nâng cao chất lượng dịch vụ công,
tăng thu nhập cho ngời lao động.
Cụ thể, quá trình chấp hành chi thường xuyên của ngân sách tỉnh Hua
Phăn ở một số lĩnh vục điện hình diễn ra như sau:
Về quản lý chi sự nghiêp giáo dục đào tạo
Hệ thống giáo dục tỉnh Hua Phăn những năm 2005 - 2015 cho thấy,
ngân sách vốn đã nhỏ bé lại dàn trải từ các trường mầm non đến trường Đại
học. Tỷ trong khoản chi này tương đối cao, đạt bình quân là
96

7,80%/GDP/năm, 16,0%/tổng chi NSNN và 40,50% tổng chi thường xuyên,
con số này đạt mức cao so với các tỉnh, thành phố khác trong cả nước và cao
hơn nhiều so với mức bình quan chung của cả nước, khoảng trên 26,87%
trong tổng số chi thường xuyên của NSNN. Tuy nhiên nền xét về mặt tương
đối thì khoản chi ngân sách cho giáo dục tỉnh lại có chiều hướng giảm trong
giải đoạn hiện nay. Giại đoạn 2005 - 2010, tỷ khoản chi này chiếm bình quân
19,10%/chi NSNN tỉnh và 41,73%/chi ngân sách thường xuyên; Giai đoạn
2011 - 2015 cao hơn bính quân 22,25%/chi NSNN; và 43,52%/chi thường
xuyên. Nhân nhân là do các khoản chi ngân sách tỉnh hàng năm tăng, có chế
khoán chi mang tính đã làm cho tỷ trọng chi NSNN cho lĩnh vực giáo dục và
đào tạo chiều hướng tăng lên.
Bảng 2.4: Tình hình chi sự nghiệp giáo dục đào tạo Tỉnh Hua Phăn
(đơn vị tỷ kíp)
Năm
Tổng chi GDĐT (tỷ kíp)

2011
870,79

2012
1121,23

2013
1526,20

2014
1693,20

2015
2242,5
0

Tỷ lệ chi GDĐT chiếm trong
tổng chi thường xuyên (%)

33.2%

38.2%

39,1%

39.5%

41.3%

tổng chi NS tỉnh (%)
12,3%
Tỷ lệ chi GDĐT chiếm trong

12,50%

13,1%

13,5%

14,3%

tổng GDP (%)

7,1%

8,1%

8,5%

9,3%

Tỷ lệ chi GDĐT chiếm trong

6,6%

Nguồn: Sở Tài chính tỉnh Hua Phăn, Niên giám thống kê tỉnh Hua Phăn.

Đồ thị 2.3: Cơ cấu chi giáo dục đào tạo.
Với chủ trương tăng quyết tự chủ cùng với sự phát triển về quy mô và
tỷ trọng chi sự nghiệp dáo dục đào tạo trong thời gian qua đã góp phần đem
lại một số thành tựu nhất định trong hệ thống giáo dục đào tạo của tỉnh, cụ
thể là.
97

+ Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, đặc biệt là các
trường phổ thông.
+ Đời sống của giáo viên được quan tâm hơn qua các bước cải cách chế
độ tiền lương; đặc biệt địa phương đã thực hiện chính sách đãi ngộ cho giáo
viên, cán bộ quản lý giáo dục….
+ Hoàn thành chương trình xóa mù chữ theo đúng mục tiêu Nghị quyết
Trung ương đề ra đồng thời đang thực hiện triển khi chương trình phổ cấp
tiểu học trong cả nước, chương trình dụ học bằng nguồn vốn ngân sách…..
Trong thời gian qua thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục đã và
đang được triển khai mạnh mễ nhằm mục địch xây dựng cộng đồng trách
nhiệm của tất cả các tầng lớp dan cư, mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác
các tiềm năng về nhân tài vật lực trong xã hội để phát triển sự nghiệp giáo
dục. Chủ trương này xét trên một góc độ nhất định đã góp phần giảm áp lực
cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo, từ đó tạo điều kiện để Nhà nước thực hiện
những chương trình trong điểm của ngành giáo dục như: xóa mù chữ, phổ
cấp tiểu học, mở rộng giáo dục miền núi… tăng quy mô chi vầ đào tạo và
huấn luyện cán bộ ngành giáo dục, cải cách chính sách lương bổng… Tỉnh
Hua Phăn có tỷ lệ biết chữ cao (78,5%) và tỷ lệ tuổi đi học 6 năm vào trường
học 86%, tỷ lệ người lớn biết chữ tăng 73% của tổng dân số trong năm 2011,
đã xoá bỏ mù chữ và tốt nghiệp cấp tiểu học bồi dưỡng 10 huyện. Năm 2011
có trường mầm non và mẫu giáo 650 trường, có trẻ em vào học 69.717 người
so với năm 2010 tăng 19%/năm; Trường tiểu học 830 trường, số học sinh
1.250 người, bình quân tăng 0,5%/năm; Trường phổ thông trung học 1.052
trường, số học sinh 255.083 người, bình quân tăng 2,4%/năm. Học viện sư
phạm có 10 Học viện, số sinh viên 17,481 người, bình quân tăng 5,4%/năm,
số lượng sinh viên học ở Học viện đào tạo cấp cao và đại học 1.509 người,
trong nhưng năm qua:

98