Tải bản đầy đủ
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TỈNH HUA PHĂN CHDCND LÀO.

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TỈNH HUA PHĂN CHDCND LÀO.

Tải bản đầy đủ

địa cách mạng Anh hùng, điểm trọng tâm chiến lược quân sự; có đường biên
giới giáp (tỉnh Thanh Hóa; Sơn La và Nghệ An ) CHXHC Việt Nam.
Diện tích đất tự nhiên 17.504 km 2, trong đó có diện tích rừng chiếm
74%, núi cao chiếm 18%, đồng bằng, đồng ruộng chiếm 8%). Trong đó, đất
nông nghiệp 131,800 ha. Chiếm 7,52%; trong đó đất trồng láu 1 màu
118,800 ha. Chiếm 90,13%; sản lượng ước đạt 535.000 tấn thóc. đất trồng
láu 2 màu 13,000 ha, chiếm 9,87%; sản lượng 52.000 tấn thóc. Tính bình
quân đầu người toàn tỉnh năm ước đạt 200/kg/năm. Đất trồng ngô 140,17
ha. Sản lượng đạt 843.230 tấn. đất trồng đậu 10.14 ha. Sản lượng đạt 12,17
tấn. đất trồng vừng 1,32 ha, đạt 1.320 tấn. Ngoài ra còn trồng các cây ăn quả
khác đạt 1,806 ha, sản lượng đạt 7.694 tấn và trồng cây lượng thực ngắn hạn
đạt 540 ha, sản lượng đạt 954.00 tấn.
Nhân dân các bộ tộc đã vượt qua các vấn đề thiên tai và vấn đề xã hội
để phấn đấu sản xuất hàng hóa cung cấp theo nhu cầu của xã hội trong nội
địa và xuất khẩu, đồng thời để tạo thu nhập cho gia đình nhằm hoàn toàn xóa
đói giảm nghèo trong năm 2030 và vận động toàn dân tham gia công tác
quốc phòng an ninh; quản lý hộ khẩu, quản lý công tác xuất - nhập khẩu, giải
quyết các vấn đề tiêu cực, tham nhũng làm cho chính trị và xã hội có sự ổn
định, trật tự an ninh. Khôi phục cảnh quan thiên nhiên ngày càng phong phú,
môi trường sạch đẹp và tương xứng với tỉnh căn cứ cách mạng, vừa là cầu
nối giữa chính quyền, doanh nghiệp và bà con nhân dân đi lại trao đổi hàng
hóa vừa là điểm kết nối giữa các tỉnh, huyện và nước ngoài đặc biệt là nước
CHXHCN Việt Nam. Chính vì vậy, Tỉnh Hủa Phăn là một tỉnh có tiềm năng
về thu hút các nhà đầu tư sang đầu tư và khách du lịch sang thăm quan du
lịch nghỉ mát do thời tiết mát mẻ. Quan điểm vừa là tỉnh căn cứ cách mạng
(thủ đô cách mạng của Lào) đặc biệt là khu di tích lịch sử tại huyện Viêng
Say. Các hang động của các vị lãnh tụ Lào tại huyện Viêng Say là nơi để các
lãnh đạo cách mạng hoạt động chiến đấu kẻ thù xâm lược nước ngoài trong

154

thời kỳ kháng chiến cho đến khi thắng lợi giành độc lập. Nhân dân các bộ tộc
Lào có truyền thống đoàn kết từ lâu đời, cần cù lao động và có truyền thống
anh dũng đấu tranh chống bọn xâm lược nước ngoài và luôn giành được
thắng lợi hạnh phúc cho nhân dân.
Tỉnh Hủa Phăn là tỉnh miền núi, hiểm trở, có thời tiết phù hợp với
trồng trọt chăn nuôi, có nhiều sông suối thuận lợi cho công tác xây dựng
thủy điện, có đường giao thông 6B; dài 137 Km.từ thành phố Sâm Nua đến
biệ giới Pa Hàng - Mộc Châu tỉnh Sơn La; đường số 6A; dài 82km. Từ Sâm
Nua - Na Mèo của khẩu Quốc tế CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam. Vì
vậy đã có điều kiện rất thuân lợi cho giao lưu văn hóa phát triển KT-XH.
Xác lập một số chỉ tiêu chủ yếu của tỉnh Hua Phăn về phát triển
KT-XH trong vòng 5 đến 15 năm.
Bối cảnh KT-XH thời gian tới có nhiều thời cơ đan xen với thách
thức, Tỉnh Hua Phăn phải tập trung thực hiện nhiệm vụ trung tâm là phát
triển KT-XH, đồng thời phải đảm bảo sự ổn định về an ninh, chính trị trật tự
an toàn xã hội. Trong giai đoạn này, phải tạo được chuyển biến mạnh mẽ đưa
tỉnh Hua Phăn ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật
chất và tình thần, văn hóa tình thần của nhân dân; tạo đà cho phát triển cho
những năm sau, để đến năm 2030 tỉnh Hua Phăn cơ bản trở thành tỉnh có nền
CNH, HĐH; nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu
hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng an ninh có sự bền vững và dân chủ,
tình đoàn kết dân tộc và các dân tộc cho chặt chẽ, xã hội ổn định và trật tự có
sự công bằn về pháp luật đều được tăng cường; Do vậy, trong triển được
phát triển KT-XH đến năm 2030 tỉnh Hua Phăn CHDCND Lào đã xác định
rõ các mục tiêu:
Đưa GDP 8% đến năm 2030 phấn đấu tăng thu nhập bình quân 9.500
USA/người/năm tăng lên 6 lần; so với năm 2015. Nâng cao hiệu quả và năng
lực cạnh tranh của sản phẩm, doanh nhiệp, và nền kinh tế. thúc đẩy sản xuất

155

hàng hóa phát triển, tăng số lượng, chủng loại và chất lượng đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
- Phát triển kinh tế phải gắn kết đồng bộ với các chương trình chính
Sách phát triển xã hội từng bước nâng cao dân trí, giảm thất nghiệp, cải thiện
đời sống không ngừng nâng cao thu nhập dân cư. Chất lượng đời sống vật
chất, văn hóa tinh thần được nâng lên rõ rệt trong môi trường xã hội an toàn,
lành mạnh; môi trường tự nhiên được bảo vệ và cải thiện.
-

Phát triển KT-CN hiện đại đáp ứng yêu cầu của công cuộc CNH,HĐH.

-

Hệ thống kết cấu cơ sở hạ tầng phải đi trước một bước để đáp ứng

nhu cầu phát triển cân đối bền vững của nền KT-XH, quốc phòng, an ninh.
- Ngâng cao chất lượng giao dục - đào tạo, phát triển nguồn nhân lực.
- Nâng cao chất lượng công tác y tế và các dịch vụ chăm sóc, bảo vệ
sức khẻo của nhân dân các dân tộc.
Từ phương hướng, mục tiêu tổng quát, xác định các chi tiêu đạt được là:
- Đạt tăng trưởng GDP ở mức 8% giai đoạn 2016 - 2020, bình quân
1.700 USA/người/n; và 7,5% giai đoạn 2021 - 2025, bình quân 3.500
USA/người/n; giai đoạn 2025 - 2030 phấn đấu đạt 6.507 USA/người/n. Có
nghĩa là tăng trưởng GDP trung bình quân trong suốt giai đoạn 2016 - 2030
là 7,5% - 8%. Điều này sẽ dẫn đến kết quả là đạt tăng trưởng GDP, bằng
3.595.655 tỷ kíp năm 2016 - 2020; 11.690.501 tỷ kíp năm 2021-2025;
27.382.485 tỷ kíp năm 2025 - 2030; so với năm 2015. Thu nhập bành quân
đầu người đạt 52 triệu kíp 8 lần Năm 2030.
- Tiếp tục đa dạng hóa đáng kể nền kinh tế bằng cách tăng cường
tập trung vào công nghiệp, đặc biệt là khai khoáng, sản xuất kim loại và sản
xuất tuyến dưới tọa giá trị gia tăng, đồng thời tập trung vào nâng cao năng
suất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Cơ cấu GDP của nền kinh tế sẽ
đạt: Nông nghiệp 40%, công nghiệp 25%, dịch vụ 35% tính đến năm 2020.

156

Nông nghiệp 37%, công nghiệp 28%, dịch vụ 35% tính đến năm 2025. Và
Nông nghiệp 33%, công nghiệp 30%, dịch vụ 37% năm 2030.
- Chuyển dịc lao động từ các khu vực năng suất thấp như công
nghiệp sang khu vực có khả năng suất cao hơn như công nghiệp. Cơ cấu việc
làm sẽ đạt: nông nghiệp 50,38%, công nghiệp 18,62%, dịch vụ 31% năm
3016 - 2020, Nông nghiệp 51%, công nghiệp 20,%, dịch vụ 29% năm 2021 2025. Và nông nghiệp 48%, công nghiệp 21%, và dịch vụ 31% trong năm
2026 - 2030; Nâng cao năng suất lao động ở mức 5% một năm trong nông
nghiệp, từ 15 triệu kíp. năm 2016 - 2020. lên 25 triệu kíp. năm 2020 - 2025.
Và năm 2026 - 2030 đạt 35 triệu kíp. Thông quả những nỗ lực không ngừng,
về đào tạo nông dân đa dạng hóa sản phẩm và tăng cường sự tham gia của
khu vực tư nhân.
- Đảm bảo sự phát triển các ngành chủ chốt theo quy hoạch tổng thể để
tạo ra 1.000 việc làm trong giai đoạn 2016 - 2020; 1.500 việc làm trong giai
đoạn 2021 - 2025. Và 2.000 việc làm trong giai đoạn

2021 - 2030. Đảm

bảo luôn sẵn có lao động đã qua đào tạo bằng cách ngăn chặn di cư và thu
hút lao động từ các tỉnh khác và nược làng giềng.
- Đảm bảo tổng vốn đầu tư đạt khoảng 321 tỷ kíp, trong giai đoạn
2016 - 2020, trong đó 45 tỷ kíp là đầu tư công, Trong giai đoạn 2021 - 2025,
đảm bảo vốn đầu tư đạt 558 tỷ kíp, trong đó 35 tỷ kíp là đầu tư công. Giai
đoạn 2026-2030 đảm bảo vốn đầu tư đạt khoảng 649 tỷ kíp.
- Phát triển đồng bộ, cân đối giữa các vùng kinh tế, vừa phát huy lời
thế so sánh giữa các vùng trong điểm, vừa tạo điều kiện cho các vùng nghèo
có cơ hội phát triển.
- Đẩy mạnh thực hiện các chương trình xóa đói giảm nghèo và giải
quyết việc làm, từng bước nâng cao đời sống nhân dân, nhất là các huyện
vùng sâu, vùng xa.

157

3.1.2. Mục tiêu hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước tỉnh
Hua Phăn CHDCND Lào.
Mục tiêu cơ bản của việc hoàn thiện quản lý chi NSNN trên địa bàn
tỉnh Hua Phăn thời gian tới là khăc phục nhược điểm hiện nay và từng bước
hướng tới việc quản lý nguồn lực tài chính theo các chuẩn mực hiện đại.
Quản lý chi NSNN trước hết phải nhằm thiết lập và duy trì được kỷ
luận tài khóa chặt chẽ. Muốn vậy, cần phải cải cách cơ bản công tác phân
tích, dự báo tổng nguồn lực dành cho khu vục công. Trên cơ sở giới hạn tổng
nguồn lực, quản lý chi phải kiểm soát được tổng nhu cầu trong phạm vi
nguồn lực cho phép.
Quản lý chi NSNN phải hướng tới việc phân bổ các nguồn lực có hạn
đã được xác định cho các ưu tiên phát triển KT-XH trên địa bàn, khắc phục
cơ bản việc phân chia ngân sách dàn trải, không thông nhất giữa các năm.
Phân bổ ngân sách phải thúc đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế
nhất là chuyển đổi cơ cấu trong nội bộ từng nhanh. Cải cách tiền lương cũng
vẫn là một trong những lĩnh vực ưu tiên trong giai đoạn tới vì đây là gốc rễ
để nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nược. Lĩnh vực không kém
phần quan trọng là việc nâng cao chất lượng và tính công bằng trong việc
cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản như giao dục, y tế, hướng tới sự phát
triển bền vũng của địa bàn…
Quản lý chi NSNN cũng phải tập trung cải thiện cơ bàn hiệu quả sử
dụng ngân sách. Thực hiện phân bổ ngân sách theo các ưu tiên chiến lược
địa phương, ở những góc độ nhất định, sẽ khắc phục được những bất cập về
hiệu quả sử dụng vốn gắn với việc phân chia nguồn ngân sách dàn trải,
không kịp thời, không gắn với các kết quả hoạt động. Tuy nhiên, để sử dụng
ngân sách thực sự có hiệu quả cần phải cải tổ cơ bản cả về cơ chế, chính sách
và phương thức lựa chọn các đề án, dự án chi ngân sách. Đối với những lĩnh
vực khu vực tư nhân có thể đảm nhiệm thì nên điều chỉnh lại phạm vi can

158

thiệp của Nhà nước, tăng cường áp dụng các động cơ kinh tế thị trường trong
từng khâu, từng giai đoạn của việc cung cấp dịch vụ, hàng hóa công cộng.
Ngay cả đối với các lĩnh vục Nhà nước phải đứng ra cung cấp, cũng xần áp
dụng các công cụ phân tích kinh tế(Phân tích chi phí - lợi ích) để lựa chọn
các cách thức có chi phí thấp nhất. Gắn ngân sách với các kết quả đầu ra và
tạo ra các hình thức thưởng - phạt trên cơ sở kết quả đạt được cũng cần phải
từng bước áp dụng nhằm nâng cao trách nhiệm của đơn vị sử dụng ngân
sách…
Quản lý chi NSNN phải hướng tới mục tiêu phát triển KT-XH địa
phương trong khi ưu tiên các lĩnh vực thiết yếu cho sự phát triển kinh tế mỗi
giai đoạn, quản lý chi NSNN cần phải đứng trên mục tiêu phát triển KT-XH.
3.1.3. Những yêu cầu đặt ra khi hoàn thiện quản lý chi ngân sách
nhà nước tỉnh Hua Phăn.
Để đạt được mục tiêu phát triển KT-XH địa phương và trở thành một
trung tâm linh tế các tỉnh Hua Phăn đã xã định hướng đ icho mình và đặt ra
các nhiệm vụ tương đối cao. Trong đó, quản lý chi NSNN của tỉnh cần phải
đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:
Một là, Quản lý chi NSNN địa phương phải đảm bảo kinh phí kíp thời
cho tỉnh thực hiện các nhiệm vụ, sứ mệnh tương ứng của mình trong công
cuộc phát triển KT-Xh trên địa bàn.
Để thúc đẩy kinh tế tỉnh tăng trưởng và phát triển bền vững, trong khi
chưa có những thay đổi mạnh ở các thành phần kinh tế khác, tất yếu phải
tăng chi đầu tư công. Một mặt, tăng đầu tư công trực tiếp làm tằng tổng cầu
trong nền kinh tế. Mặt khác, tăng chi sẽ tác động, lôi kéo các thành phần
kinh tế khác mở trộng sản xuất kinh doanh. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để
có thể tăng chi NSNN trước khi tăng trưởng cao tạo ra các nguồn thu mới?
Liệu cá cách nào đó để tăng nguồn? Hay đổi mới phương thức can thiệp cảu
tỉnh hay nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách? Hay vay nở?....

159

Vì việc tăng nguồn trong gắn và trung hạn rất hạn chế, nên yêu cầu đặt
ra đầu tiên đối mới quản lý chi NSNN của tỉnh là phải kế hoạch hóa được
nhu cầu chi trên cơ sở đảm bảo các cân đối vững chắc về thu - chi, về vay nợ
thì thì mới đảm bảo thúc đẩy KT-XH phát triển được.
Hai là, do nguồn lực hạn chế trong khi nhu cầu lại tương đối lớn, nên
quản lý chi NSNN của tỉnh phải bố trí phân bổ tập trung, trực tiếp cho các
nội dung và mục tiêu phát triển của địa phương. Rút kinh nghiệm giai đoạn
trước, do phân bổ ngân sách địa phương phân tán, dàn trải, nhiều công trình,
dự án không được phân đủ vốn theo tiến độ, không có chất lượng sử dụng,
hiệu quả sử dụng ngân sách hạn chế, việc phân bổ ngân sách giai đoạn tới
cần thực hiện nghiêm ngặt vấn đề ưu tiên hóa.
Ba là, khi đã lựa chọn được các ưu tiên chi tiêu, vấn đề tiếp theo của
quản lý chi NSNN là phải lựa chọn các phương thức sử dụng đem lại hiệu
quả kinh tế, hiệu quả xã hội cao nhất.
Năm lả, quản lý chi NSNN cần phải hướng tới các mục tiêu dài hạn
của địa phương. Trong khi thực hiện các mục tiêu phát triển KT-XH của giai
đoạn tới, quản lý chi NSNN đồng thời phải tính đến mục đích phát triển bền
vững lâu dài trên địa bàn, ưu tiên cho chi đầu tư phát triển ở vùng sâu, vùng
xa, miền núi, thúc đẩy phát triển đồng đều giữa các vùng, miền trên địa bàn,
Nâng cao mức sống của nhân dân các dân tộc các vùng này, thúc đẩy tăng
trưởng, giảm dần sự chênh lệch so với các vùng đô thị, tạo môi trường sống
của con người gần gũi với thiên nhiên và đảm bảo xanh, sạch đẹp. Vấn đề
không kép phần quan trong là phải chủ động, linh hoạt trước các biến động
của nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh mở cửa và kinh tế thế giới đối mặt
với nhiều bất ổn kinh tế, chinh trị, xã hội.
3.2. CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC TỈNH HUA PHĂN CHDCND LÀO ĐẾN NĂM 2030.

160

Quản lý chi NSNN là công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc thực thi có hiệu
quả chính sách tài khóa, đặc biệt là phân bổ nguồn lực tài chính để thực hiện
các nhiệm vụ phát triển KT-XH. Trong điều kiện tỉnh Hua Phăn, nguồn lực
tài chính cho phát triển KT-XH còn hạn chế thì vấn đề phân bổ và quản lý có
hiệu quả chi NSNN có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Cơ chế quản lý chi chặt
chẽ và hợp lý sẽ ngăn ngừa các sai pham, đồng thời biên pháp buộc các cơ
quan công quyền và đơn vị sủ dụng NSNN tôn trọng các nhiệm vụ thu, chi
được Quốc hội phê chuẩn. Để thực hiện tốt vấn đề này quản lý chi NSNN
trong thời gian tới cần phải hướng tới:
- Xây dụng một dự toán chi ngân sách toàn diện, chi tiết theo đúng mục
lục NSNN hiện hành, bảo đảm nguồn lực tài chính cho các bộ, ngành, địa
phương thực hiện các nhiệm vụ phù hợp với định hướng phát triển trong năm
tài chính. Thực hiện quản lý và điều hành NSNN theo dự toán và dự toán
NSNN đã được duyệt là cơ sở pháp lý xác định trách nhiệm của các bộ,
ngành, địa phương, các tổ chức và cá nhân trong việc sử dụng NSNN có hiệu
quả.
- Toàn bộ quy trình NSNN phải luôn tuân thủ các nguyên tắc và trình
tự luật định, bảo đảm việc kiểm tra, kiểm soát một cách hiệu quả các chủ thể
tham gia vào quá trình quản lý chi ngân sách.
3.2.1. Lựa chọn quyết định danh mục và thứ tự ưu tiên các sản
phẩm đầu ra, các mục tiêu phát triển KT-XH và các hoạt động cần triển
khai để phân bổ tối ưu nguồn lực tài chính địa phương.
3.2.1.1. Sắp xếp thứ tự ưu tiên các sản phẩm đầu ra, mục tiêu kế
hoạch và các hoạt động tương ứng.
Những năm tới. muốn chi NSNN đóng vai trò tốt nhất cho việc thực
hiện phát triển KT-XH trên địa bàn, Hua Phăn cần phải tiến hành lựa chọn,
quyết định và sắp xếp thứ tự ưu tiên giữa các sản phẩm đầu ra, mục tiêu kế
hoạch và các hoạt động tương ứng. Xác định những hoạt động có mức độ ưu

161

tiên thấp để có thể giảm bớt hoạch ngừng thực hiện cho phù hợp với mức
trần ngân sách quy định.
Mặt khác, để hỗ trợ cho việc lựa chọn ưu tiên, cần phải đánh giá tác
động của việc giảm quy mô các hoạt động và xây dựng các đề xuất để có thể
đối phó với bất ký tác động tiêu cực nào. Cũng cần xác địnhcác ưu tiên cao
để bố trí đủ vốn.
Tổng chi phí dự toán cho tất cả các hoạt động có khả năng sẽ lớn hơn
rất nhiều so với mức trần do Bộ Tài chính xác định. Bước đầu tiên trong việc
giảm dự toán cho phù hợp với mức trần là sắp xếp các đầu ra và hoạt động
theo thứ tự ưu tiên, Do đó, những hoạt động có mức độ ưu tiêu cao hơn sẽ
được duy trì mức dự toàn, trong khi những hoạt động có mức độ ưu tiên thấp
hơn cần phải giảm bớt dự toán ngừng thực hiện.
Khi xếp thứ tự ưu tiên giữa các đầu ra và hoạt động, cần phải xem xét
các yếu tố được miêu tả trong đoạn “Đánh giá và kiểm nghiệm tính khả thi
của các hoạt động” và xem xét các dự án. Các yếu tố được tóm tắt như sua:
Thứ nhất, tác động trực tiếp: Những đầu ra và các hoạt động trực tiếp
đóng góp vào việc đạt được các mục tiêu đã xã định. Những hoạt động trực
tiếp giải quyết được vấn đề hoặc cải thiện được tình hình phải được ưu tiên
nhiều hơn. Những đầu ra và hoạt động chỉ giải quyết được một phần của vấn
đề hay phụ thuộc vào những hoạt động và/hoặc các khoản chi tiêu từ các cơ
quan khác sẽ được ưu tiên ít hơn.
Thứ hai. Khung thời gian: các đầu ra và hoạt động có thể giải quyết
được vấn đề một cách mau chóng nhất và có tác động lâu dài sẽ được ưu tiên
nhiều hơn.
Thứ ba, hiệu suất chi phí: các đầu ra và hoạt động có thể đạt mục tiêu
với mức chi tiêu thấp nhất cần được ưu tiên nhiều hơn.
Thứ tư, năng lực thực hiện: năng lực của các trung tâm chi phí cần được
coi như là một yêu tố quan trọng trong việc sắp xếp thứ tự ưu tiên giữa các

162

đầu ra và các hoạt động. Những trung tâm chi phí với năng lực thực thi cao
hơn hoặc các đầu ra và hoạt động cá nhu cầu nguồn vốn thực thi thấp hơn
cần phải được ưu tiên nhiều hơn.
Thứ năm, nhu cầu về vốn: một số hoạt động có thể có nhu cầu về vốn
coa hơn ngay cả khi chúng là các hoạt động ít được ưu tiên hơn việc tu sửa
nâng cấp các con đường hiện tại, nhưng nhu cầu về vốn để xây dựng sẽ cao
hơn rất nhiều so với việc tu sửa lại con đường đó. Các hoạt đông được ưu
tiên nhiều có thể sẽ không cần các nguồn lực bổ sung.
3.2.1.2. Loại bỏ hoặc giảm bớt quy mô các khoản chi không cấn
thiết, xác định trật tự các ưu tiên hoặc giảm bớt mục tiêu để đạt hiệu quả
cao nhất.
Để đạt được hiệu quả cao nhất trong việc sử dụng vốn NSNN tỉnh
Hua Phăn cần lựa chọn một cách sáng suốt con đường phát triển và tập trung
vào một số lĩnh vực trong điểm. Trong thời gian tới, tỉnh Hua Phăn cần
chuyển đổi nền khinh tế lấy yếu tố sản xuất làm động lực đầu tiên sang nền
kinh tế lấy đầu tư làm động lực và cuối cùng là hướng tới nền kinh tế định
hướng lấy đổi mới làm động lực với công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trong
lớn. Điều này đòi hỏi tỉnh phải xác định loại bỏ hoạch giảm bớt quy mô các
hoạt động một số lĩnh vực chi chưa cấp thiết, thay đổi trật tự ưu tiên, xây
dựng và phát triển các cụm ngành có thể thúc đẩy và hỗ trợ quá trình chuyển
đổi này. Những cụm ngành này trong tương lai sẽ quyết định vị thế của tỉnh.
Để lựa chọn đúng thứ tự ưu tiên về các cụm ngành cần đầu tư, cần lưu ý một
số vấn đề sau:
- Sử dụng bền vững tối đa tiềm năng thế mạnh của tỉnh (tài nguyên,
quặng sắt, công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, vị trí. Khả năng xây dụng
các cụm công nghiệp tuyến dưới dựa trên nguồn lực và lới thế hiện có để
đảm bảo tăng trưởng và bền vững trong tương lai.
- Tận dụng các xu thế quốc tế và quốc gia, giúp tỉnh, huyện và

163

địa phương tiếp cận các thị trường trong nước và ngoài nước làng giềng.
- Các cụm ngành trong tỉnh có khả năng cạnh tranh ở cấp độ trong
nước và khu vực(hoặc) có thể liên kết và hỗ trợ các cụm khác có khả năng
cạnh tranh trên địa bàn tỉnh.
- Các cụm ngành ít bị ảnh hưởng từ những bất lợi về tự nhiên của tỉnh,
cụ thể là điều kiện thời tiết khắc nghiệt và địa phương.
Như vậy, xét theo các điều kiện trên cùng với các thế mạnh của tỉnh
Hua Phăn hiện có tỉnh cần chú trọng vào cá lĩnh vực chi như: nông nghiệp,
công nghiệp, thương mại, hậu cần, các sản phẩm chế biến máy mặc, xây
dựng, giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa, thể thao, du lịch, truyền thống, khai
khoảng, dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiệm và xuất nhập khẩu bảo vệ
môi trương và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, giao thông vận tải, thủy lợi,
cấp nước, hạ tầng liên quan đến sản xuất và truyền tải điện năng.
3.2.2. Các giải pháp hoàn thiện quản lý chi thường xuyên.
Điểm yếu quản lý chi thường xuyên của NSNN hiện nay tại tỉnh Hua
Phăn chủ yếu tập trung vào cơ chế phân bổ nguồn lực của NSNN; cơ chế tự
chủ, tự chịu trách nhiệm; quy mô chi thường xuyên, vấn đề kiểm soát và
chính sách chế độ còn một số bất cập. Cụ thể đối với từng lĩnh vực.
3.2.2.1. Giải pháp hoàn thiện quản lý chi sự nghiệp giáo dục - đào tạo.
Thứ nhất, đổi mới cơ chế phân bổ nguồn lực từ NSNN.
- Cần phải thực hiện tái cơ cấu phân bổ nguồn lực NSNN cho giáo dục
đào tạo theo hướng: NSNN ưu tiên cho việc xây dựng, tăng cường cơ sở vật
chất, trang thiết bị, cơ sở dùng chung,….đảm bảo chất lượng đầo tạo.
Đối với giáo dục phổ thông: tỉnh Hua Phăn cần phải tăng số lượng và
chất lượng giáo viên thông qua chính sách hỗ trợ về ăn ở, hỗ trợ cho việc đào
tạo thường xuyên và học hành trong tương lai ở trong và ngoài tỉnh. Tỉnh cần
tăng năng lực của các trường để đảm bảo tất cả huyện thị đều có đủ số lượng
trường, tập trung đặc biệt vào mở rộng năng lực giảng dạy ở các trường khu

164