Tải bản đầy đủ
HUA PHĂN GIAI ĐOẠN 2005 - 2015.

HUA PHĂN GIAI ĐOẠN 2005 - 2015.

Tải bản đầy đủ

cho ngân sách cấp dưới.
+ Ủy ban nhân dân các cấp.





Lập dự toán ngân sách địa phương.
Quyết định giao nhiệm vụ chi ngân sách cho các cơ quan trực thuộc.
Quyết định giao nhiệm vụ ch icho ngân sách cấp dưới.
Quyết định nguyên tắc bố trí và chỉ đạo thực hiện dự toán ngân sách

địa phương đối với một số lĩnh vực được Hội đồng nhân dân quyết định.
+ Các đơn vị sử dụng ngân sách.




Tổ chức lập và thực hiện dự toán chi ngân sách thuộc phạm vi quản lý
Chi đúng mục đích, đúng đối tượng và tiết kiệm.
Các đơn vị sự nghiệp được quyền chủ động sử dụng nguồn sự nghiệp

để phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động.
Việc phân cấp tài chính đã góp phần nâng cao tính tư chủ của chính
quyền địa phương, qua đó tạo điều kiện cho chính quyền địa phương hoạt
động độc lập hơn trong khả năng của mình để xây dựng chính sách chi tiêu,
mà còn hướng tới việc nâng cao tính trách nhiệm về chính trị, tính hiệu quả
và mịnh bạch trong quản lý tài chính công. Các dịch vụ công cộng được
cung cấp trong hệ thống thống nhất của Chính phủ, nay đã được phân cấp
cho tới chính quyền tỉnh, huyện, xã. Chính quyền địa phương ngày càng có
vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển con người, gần ¾ trong chi tiêu
giáo dục và đào tạo là do địa phương đảm nhận, trong chi y tế, chi ngân sách
địa phương chiếm khoảng 2/3.
Thứ hai, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực.
+ Hình thành hệ thống định múc làm cơ sở phân bổ ngân sách.
Sau khi ban hành Luật NSNN sửa đổi năm 2006, Chính phủ đã ban
hành hệ thống định mức chi tiêu ngân sách hàng năm và các định mức
thường xuyên sửa đổi. Nhưng định mức được tiêu chuẩn hóa và áp dụng cho
các mục chi trong lĩnh vực quốc phòng an nịnh, giáo dục, y tế, văn hóa xã
hội thể dục thể thao.

129

Dựa vào hệ thống định mức, chính quyền địa phương dự toán nhu cầu
chi tiêu và phân bổ nguồn lực tài chính… Có thể nói, phương pháp xác lập
hệ thống định mức chi tiêu một yếu tố quan trọng trong việc xác định hiệu
quả về phân bổ và hiệu quả về mặt kỹ thuật trong chi NSNN.
Về chi thường xuyên; Kế hoạch chi thường xuyên là một bộ phận quan
trọng của kế hoạch chi ngân sách của tỉnh do đó khi lập kế hoạch chi thường
xuyên, tỉnh đã căn cứ vào chủ trương của nhà nước về duy trì, phát triển các
hoạt động thuộc bộ máy quản lý nhà nước, các hoạt động sự nghiệp, hoạt
động quốc phòng an nịnh và các hoạt động xã hội khác trong từng giai đoạn
nhất định. Căn cứ vào Quyết định mức phân bổ dự toán chi ngân sách hàng
năm, căn cứ khả năng tài chính ngân sách và đặc điểm tình hình ở địa
phương, Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành quy
định định mức phân bổ ngân sách để làm căn cứ xây dựng dự toán và phân
bổ ngân sách địa phương cho từng năm. Trong việc ch icho các sự nghiệp y
tế, sự nghiệp kinh tế, sự nghiệp giáo dục, chi đào tạo, sự nghiệp quốc phòng,
sự nghiệp an ninh…. Đã quy định định mức phân bổ cho cấp tỉnh, cấp huyện
và cấp xã theo đơn vị kíp/người dân/năm. Định mức phân bổ ngân sách chi
thường xuyên cho đơn vị trực thuộc và các huyện thị được quy định theo
từng năm. Về chi quản lý hành chính nhà nước, Đảng, đoàn thể, đơn vị sự
nghiệp đã phân bổ tùy theo số lượng biên chế trong cơ quan, tùy theo từng
cấp tỉnh, cấp huyện thị và đơn vị sự nghiệp, có tính đến hệ số cho các cán bộ
công tác ở các huyện miền núi. Chẳng hạn, năm 2005 định mức ở cấp tỉnh
đối với đơn vị dự toán cấp I, tổ chức chính trị xã hội được phân bổ mức là 5
triệu kíp/ biên chế/năm; đơn vị dự toán cấp II, các đơn vị hành chính sự
nghiệp khác được phân bổ mức 3 triệu kíp/ biên chế/năm. Các hội xã hội,
nghề nghiệp định mức là 2.5 triệu kíp/biên chế/năm. Đối với các đơn vị dự
toán cấp I, các tổ chức chính trí nếu đơn vị có số biên chế dưới 30 người thì
bổ sung thêm khoảng kinh phí thường xuyên 6 triệu kíp/năm/đơn vị. Điều

130

này đã giúp các đơn vị có kế hoạch chi tiêu hợp lý, tiết kiệm, phân bổ định
mức cụ thể cho từng cán bộ công chức được hưởng tránh tình trạng sử dụng
lãng phí tài sản công. Tương tự như vậy Quyết định số 2501/TT-BTC, ngày
15/10/2007 về sự tổ chứ và hoạt động của Sở Tài chính tỉnh và Phòng Tài
chính huyện, cũng quy định rõ định mức phân bổ dự toán ngân sách cấp
huyện, xã theo tiêu chi biên chế, cơ cấu huyện xã theo khu vực và một số
tiêu chí bổ sung đối với một số lĩnh vự cụ thể. Định mức trên chưa bao gồm
tiền lương, có tính chất lương, các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
kinh phí công đoàn, các khoản khác theo quy định của pháp luật trích theo
lương, chi nghiệp vụ, tiếp khách và các khoản mau sắm, sửa chữa thường
xuyên. Chi thường xuyên khác định mức phân bổ cho cấp huyện dựa trên số
đơn vị hành chính trong huyện, cấp xá tính bính quân, có ưu tiên cho huyện,
xã miền núi.
+ Xác lập thứ tụ ưu tiên trong phan bổ chi NSNN.
Xây dựng ngân sách theo chương trình đầu tư công giai đoạn 2005 -2010
Việc xây dựng chương trình đầu tư công cộng đã tạo ra một khuôn khổ
thiết lập chương trình chi NSNN toàn diện, bao gồm chi đầu tư và chi
thường xuyên, qua đó giúp cho Chính quyền địa phương kieermsoast tốt việc
phân phố và sử dụng nguồn lực tài chính trong dài hạn.
Chính sách của Chính quyền địa phương ưu tiên chi đầu tư hơn là chi
thường xuyên. Điều này được thể hiện khá rõ nét ở quan điểm đã nêu trong
phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu năm 2010 - 2015 của BCH Đảng Bộ tỉnh
khóa IX “ tập trung huy động mọi nguồn lực phát triển CNH-HĐH”. Thực tế
cũng cho thấy, trong giai đoạn 2006-2010, mặc dù nguồn thu ngân sách tỉnh
tăng không đáng kể, nhưng Chính quyền địa phương vẫn duy trì tỷ trong chi
đầu tư trong tổng chi NSNN ở mức 7,9% GDP. Trong cơ cấu chi đầu tư, các
khoản cấp phát đầu tư xây dựng cơ bản cho các cong trình phi sản xuất, công
trình kinh doanh không hiệu quả được loại bỏ dần, thực hiện hình thức cho

131

vay ưu đãi thông qua các quỹ hỗ trợ tài chính. Ưu tiên kinh phí thực hiện
nhiệm vụ xây đựng cơ sở hạ tầng, tập trung đầu tư những dự án, công trình
trọng điểm của địa phương, xư lý dứt điểm các khoản nợ XDCB, ưu tiên
tăng vốn đầu tư thực hiện công cuộc CNH, HĐH các huyện miền núi, các xã
biên giới khó khăn, vùng đồng bào dân tộc vùng sâu vùng xa vùng khó khăn.

Đồ thị 2.10: Tỷ trọng chi ngân sách trên địa bàn Tỉnh Hua Phăn.
Nguồn: Sỏ Tài chính tỉnh Hua Phăn.
Trong thời gian qua các công trình, dự án trong điểm được triển khai
tích cực nhiều mô hình trong chi đầu tư xây dựng cơ bản tỉnh đã chú trọng
vào các lĩnh vực khác nhau. Các tuyến đường quốc lộ, hệ thống cầu đường
đều được nâng cấp, đầu tư xây dựng từng bước hoàn thiện hệ thống hạ tầng
cơ sở từ thành phố đến các nơi như: Quốc lộ 6A, 6B và Quốc lộ 7; hệ thống
cầu cống tại các huyện, các địa phương và giao thông nông thôn được cải
thiện, đặc biệt là các tuyến các vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế, khu chiến
lược đặc biệt khó khăn.
Nâng cao định hướng phục vụ người nghèo của chi NSNN. Thực hiện
các chương trình xóa đói giảm nghèo, xóa nhà tranh tre dột nát, phổ cấp giao
dục tiêu học một cách có hiệu quả. Các khoản chi giáo - dục đào tạo đảm bảo
thực hiện các yêu cầu về chi trả lương, phụ cấp giáo viên, chi thực hiện một
số mục tiêu như phổ cập giáo dục đảm bảo tiêu chi biên chế sự nghiệp giáo
dục, chi nâng cao chất lượng giáo dục như thay sách giáo khoa và thiết bị
dạy học….. Kết quả sử dụng nguồn lực tài chính công đã đạt được nhiều
thành tựu như đã nâng cao mức sống hộ gia đình, tăng tỷ lệ trẻ em đến
trường; dinh dưỡng, sức khỏe được cải thiện, nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực, công bằng về giới, tỷ lệ nữ tham gia lao động ngày càng nhiều và
đa dạng trong các ngành nghề. Chi sự nghiệp y tế chủ động trong phân bổ

132

dành kinh phí cho việc mua sắm trang thiết bị phục vụ cho việc khám chữa
bệnh, đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong việc khám chữa bệnh.
Tập trung vốn để đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế (nhất là
nhành nông nghiệp, thủy sản, dịch vụ và du lịch), đầu tư cho các công trình
thủy lợi, kiên cố hóa kênh mương nội đồng, tu bổ để điều.
Cùng với việc xác lập và tập trung nguồn lực cho các ưu tiên phát triển
của địa phương, tỉnh Hua Phăn cũng tiến hành phân cấp sâu rộng cho các
huyện, địa phương tạo điều kiện cho các huyện, địa phương chủ động quyết
định và phân bổ nguồn lực theo nhu cầu địa phương.
Đối với các nguồn thu được định hướng đầu tư cơ sở hạ tầng, tỉnh đã cố
gắng phân cấp tối đ acho huyện, cụ thể là nguồn tiền cho thue mặt đất, mặt
nước, tiền thu cấp quyết sử dụng, tiền thuế sử dụng đất nông nghiệp, tiền bán
nhà thuốc sỏ hữu nhà nước, tiền thuế bán hàng,v.v….Đối với các lĩnh vực
chi khác, tỉnh đã thực hiện phân cấp nhiệm vụ chi, đồng thời áp dụng
phương châm phân cấp tối đa nguồn thu để các cấp chính quyền huyện, địa
phương đảm bảo được các nhiệm vụ chi thường xuyên.
Thứ ba, triển khai các hiệu quả các nghị định về tự chủ, tự chịu
trách nhiệm về biên chế và tài chính đối với các cơ quan nhà nước và đơn
vị sự nghiệp công lập.
Trên cơ sở định mức biên chế các đơn vị được khoán chi ngân sách
hàng năm, các cơ quan quản lý hành chính nhà nước và các đơn vị sự nghiệp
công lập xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, xây dựng các đinh mức chi tiêu,
quy chế quản lý tài sản công theo đúng quy định. Nếu chi không hết các đơn
vị tiết kiệm được số tiền đó. Một ưu điểm của cơ chế khoán chi và giao
quyền tự chủ là tạo động lực thúc đẩy đơn vị sử dụng NSNN ngoài số được
cấp tích cực huy động các nguồn lực khác hoạch sử dụng nguồn được cấp
hợp lý hơn để tăng thu nhập.

133

Thông qua thực hiện cơ chế tự chủ các đơn vị chủ động sử dụng kinh
phí, tài sản, nguồn nhân lực có hiệu quả để thực hiện nhiệm vụ; công tác
quản lý, sử dụng kinh phí được thực hiện chặt chẽ, công khai, dân chủ, góp
phần tăng nguồn thu, tiết kiệm chi để bổ sung nguồn kinh phí hoạt động,
trích lập các quỹ, đầu tư trang thiết bị, nâng cao chất lượng dịch công, tăng
thu nhập cho người lao động.
Thứ tư, cải thiện tính minh bạch chi ngân sách.
Tính minh bạch chi tiêu ngân sách có tầm quan trọng trong việc giải
trình trước công dân về việc phân bổ nguồn lực tài chính của Nhà nước và
giải trình về chất lượng chi tiêu ngân sách tổng thể. Tính minh bạch chi ngân
sách được thể hiện thông qua quyết định số 282/2011/QĐ-TTg ngày 7/9/2011
Của thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế công khai tài chính đối
với các cấp NSNN, các đơn vị dự toán ngân sách, các tổ chức được NSNN hỗ
trợ, các dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn NSNN, các doanh
nghiệp nhà nước, các quỹ có nguồn từ NSNN và các quỹ có nguồn từ các
khoản đóng góp của nhân dân, Thông tư số 1765/TT-BTC ngày 04/7/2013 của
Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện quy chế công khai tài chính đối với các cấp
NSNN và chế độ báo cáo tình hình thực hiện công khai tài chính.
2.5.2. Hạn chế:
Thứ nhất, quy trình phân bổ nguồn lực tài chính công.
Quy trình phân bổ nguồn lực tài chính công (soạn lập ngân sách) thiếu
mối liên kết chặt chẽ giữa kế hoạch phát triển KT - XH trung hạn (3-5 năm)
với nguồn lực trong một khuôn khổ kinh tế vĩ mô được dự báo, không mang
lại hiệu quả cao nhất thúc đẩy quá trình phát triển KT-XH trên địa bàn.
Tỉnh Hua Phăn vẫn đang thực hiện quản lý các khoản chi NSNN theo
phương thức truyền thống, lấy kiểm soát đầu vào là chủ yếu, quản lý theo
niên độ từng năm một. Thực tiễn cho thấy cách thức quản lý tiêu công truyền

134

thống, kiểm soát đầu vào mang tính chủ quan, duy ý chid, áp đặt từ phí các
cơ quan cung cấp nguồn lực điều đó thường dẫn đến các kết cục là.
+ Hiệu lực quản lý thấp.
+ Ít gắn kết giữa kinh phí cấp ra với mục tiêu phải đạt được.
+ Tầm nhìn ngắn hạn và thiếu chủ động.
+ Bất cập ngay từ khâu chuẩn bị xây dựng dự toán.
+ Phân bổ dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả sử dụng
nguồn lực thấp.
Hiệu lực quản lý thấp: Trong quá trình soạn lập ngân sách, kiểm soát
các yếu tố đầu vào được coi trọng hơn cải thiện kết quả hoạt động của ngành
thông qua thực thi các mục tiêu và nhiệm vụ của ngành. Do đó ngân sách
tỉnh Hua Phăn CHDCND Lào hiện nay có thể gọi là ngân sách đầu vào. Các
thông số về đầu ra cũng như về kết quả thương ít được quan tâm, nên ngân
sách thiếu thực tế dễ bị điều chỉnh và có thể tạo ra một kết quả ngoại ý. Ngân
sách được lập hàng năm vừa tốn thời gian, ngân lực và tiền bạc vừa không
dự liệu hết mọi biến cố trung hạn có thể ảnh hưởng đến dự toán. Ngân sách
năm sau được soạn lập trên cơ sở ngân sách năm trước mà không xét đến
việc có nên tiếp tục duy trí hoạt động đang được cung cấp tài chính hay
không. Ngân sách chi thường xuyên và ngân sách chi đầu tư phát triển được
soạn lập một cách riêng rẽ làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực công. Tinh
minh bạch và trách nhiệm giải trình thể hiện chưa rõ nét làm xuất hiện nhưng
không công bố, đông thời hạn chế sự tham gia của các tổ chức xã hội trong
quy trình ngân sách.
Ít gắn kết giữa kinh phí cấp ra với mục tiêu phải đạt được.
Do quản lý chi NSNN theo kiểu truyền thống không gắn kết việc cấp
phát nguồn lực tài chính với việc thực hiện các mục tiêu chính trị nên đã dẫn
đến trách nhiệm giải trình trong quản lý và sử dụng ngân sách không rõ,

135

không nêu bật được việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực đã mang lại kết
quả và hiệu quả cụ thể như thế nào đối với đời sống KT-XH.
Dưới góc độ chính trị, quản lý và kiểm soát nguồn lực tài chính công
theo kiểu truyền thống, ngay từ lập kế hoạch cũng như ki kết thúc, đều
không gắn kết cụ thể, không chỉ ra được mối liên hệ định lượng giữa các
khoản kinh phí được cấp ra với việc thực hiện (mức độ, kết quả và hiệu quả)
các nhiệm vụ chính trị - KT-XH mà đơn vị tiếp nhận kinh phí phải hoàn
thành. Do vậy, các cấp các ngành chỉ có thể công bố tổng các khoản chi
NSNN một cách rời rạc, không thể gắn liền được với các mục tiêu phát triển
đã đề ra. Các cấp, các ngành không thể công bố một cách rõ ràng rằng trong
năm N, đã có bao nhiêu nguồn lực đã được sử dụng và đã xóa được bao
nhiêu hộ đói, nghèo? Bao nhiêu được sử dụng để đầu tư tăng năng suất lao
động? Bao nhiêu đã được sử dụng để nâng cao chất lượng cuốc sống nguồn
dân đến mức nào?....
Đây chính là một trong bất cập lớn nhất đòi hỏi phải đổi mới quản lý
chi NSNN nhằm gắn kết và thúc đẩy phát triển KT-XH trên địa bàn tỉnh Hua
Phăn nước CHDCND Lào.
Tầm nhìn gắn hạn và thiếu chủ động:
Quy trình xây dựng dự toán và quản lý NSNN theo kiểu truyền thống
dường như chỉ có thể quan tâm đến lợi ích trước mắt, từng năm một, chưa có
tầm nhìn trung hạn. Theo đó, ngân sách chỉ được xây dựng trong khoảng thời
gian một năm. Cứ hết năm ngân sách thì dự toán ngân sách sẽ hết hiệu lực,
người ta lại tiếp tục lập kế hoạch ngân sách cho (một) năm tiếp theo. Đến
cuối năm, kinh phí được cấp nhưng chưa sử dụng hết (cho dú vẫn có nhu cầu
chi) thì phải huy bỏ. Các báo cáo quyết toán ngân sách thường chỉ chủ trọng
đến việc thực hiện chi ngân sách có hết dự toán hay không? Những cuộc
thanh tra, kiểm soát cũng chỉ xem xét việc chi tiêu có đúng định mức hay
không? Có sai phạm gì về chế độ tài chính hay không? Trên thực tế, người ta

136

ít quan tâm đánh giá xem những khoản chi đó đã tạo ra được kết quả gì phục
vụ cho quá trình phát triển KT-XH? Và do vậy, năm tiếp theo cũng vẫn như
thế. Nhiệm vụ chính trị có được tiếp tục hay tạm dừng? Được cấp bao nhiêu
kinh phí? Công việc sẽ được tiến hành đến mức nào là tùy thuộc vào nguồn
kinh phí được ghi trong dự toán được duyệt của năm mới.
Trong hoạt động thực tiến, da số các nhiệm vụ, các hoạt động đều tiếp
diễn từ năm này qua năm khác, nhiều nhiệm vụ cần có khoảng thời gian trên
một năm mới hoàn thành, nhiều khoản chi tiêu được kéo dài hơn một năm
ngân sách. Chính vì vậy, các cơ quan quản lý không lương được nguồn thu
và không có sự bố trí ngân sách trung hạn. Các cơ quan quản lý cũng như
các ban ngành địa phương cũng không được đảm bảo về tổng nguồn kinh phí
sẽ được cấp trong những năm tới. Các bên đều bị động trước những diễn
biến kinh tế - tài chính, trước tổng mức thu - chi trong các dự toán hàng năm,
công việc thì bị động về nguồn lực, thậm chí còn bị ngưng lại.
Bất cập ngay tư khâu chuẩn bị xây dựng dự toán:
Việc sử đụng cơ sở nguồn lực hiện có làm căn cứ lập dự toán tuy có
tính hiện thực về mặt tài chính, dễ làm, phù hợp với tác phong và tư duy
quản lý hiện thời nhưng cũng bộ lộ nhiều bất cập. Trong quá trình lập dự
toán ngân sách hàng năm, việc thương thuyết ngay từ khi chuẩn bị, soạn thảo
đến trình duyệt, điều chỉnh ngân sách thường phúc tạp và kẻo dài giữa các
bên. Bên chi tiêu - luôn có nhiều nhu cầu tài chính để đảm bảo hoàn thành
các nhiệm vụ được giao và bên quản lý nguồn lực - luôn chịu áp lực bởi tổng
số nguồn thu ngân sách chỉ có hạn trong khi còn nhiều đơn vị khác nữa cũng
có nhu cầu chi cần thiết tương ứng. Do đó, thảo luận dự toán ngân sách
thường kẻo dài, khó có sức thuyết phục thực sự và thường kết thúc bằng việc
thỏa hiệp giữa các bên. Hơn nữa, việc cấp phát ngân sách như vậy cũng
mang dấu ấn của sự “ban phát” từ phía các cấp lãnh đạo quản lý nguồn lực

137

công. Đó chính là bất cập lớn nhất của quy trình quản lý ngân sách theo kiểu
truyền thống.
Trong quá trình hình thành dự toán ngân sách, những yêu cầu chi tiêu
đầu dựa trên cơ sở những định mức được quy định cụ thể. Sau khi Luật
NSNN được sửa chữa ban hành năm 2006 Sở tài chính tỉnh Hua Phăn đã
trình UBND tỉnh xây dựng hệ thống định mức chi tiêu ngân sách, có thay đổi
hàng năm dựa vào tình hình cụ thể. Trong điều kiện nguồn lực tài chính còn
giới hạn, không đáp ứng đầy đủ nhu cầu thì định mức chi tiêu là căn cứ rất
tốt để phân bổ nguồn lực tài chính. Tuy vậy, cơ chế phân bổ nguồn lực tài
chính dựa vào định mức cũng đã bộc lộ những bất cập.
Các định mức hiện dùng đều dựa trên phương pháp phân bổ chi tiêu
kinh điển, tức là dựa chủ yếu trên nguồn lực đầu vào, chúng không tạo ra cầu
nối ràng buộc giữa việc sử dụng ngân sách và hiệu quả chi tiêu.
Định mức phức tạp và xở cứng, thiếu tính linh hoạt cần thuyết để
khuyến khích tính chủ động sáng tạo của đơn vị sử dụng ngân sách đồng thời
chưa ràng buộc về trách nhiệm chi tiêu với kết quả đầu ra.
Một số định mức còn mâu thuẫn với nhau và lạc hậu; hơn nữa, các định
mức chi này, dù thích hợp hay không, cũng chi được sử dụng để xây dựng
các dự toán Ngân sách ban đầu. Còn việc phân bổ ngân sách cuối cùng vẫn
phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa, chẳng hạn như “thương lượng”. Mặc
dù hệ thống giao ngân sách ổn định từ 3 đến 5 năm, song hệ thống phân bổ
dựa trên kết quả hỗn hợp giữa định mức và thương lượng như vậy vẫn tỏ ra
kém hiệu quả và ít công bằng trong việc phân bổ chi tiêu.
Lập ngân sách gắn hạn, chủ yếu ngân sách hàng năm, do đó không
được đánh giá, xem xét sự phân bổ nguồn lực gắn kết với những chương
trình phát triển KT-XH hàng năm. Thiếu vằng hệ thống các tiêu chi thích
hợp để xác định thứ tự ưu tiên chi tiêu. Cách phân bổ ngân sách hiện nay
không dựa trên nền tảng lý luận tài chính Nhà nước trong nền kinh tế thị

138

trường, thiếu chiến lược rõ ràng, không cho phép đạt được các mục tiêu chi
NSNN đề ra mà còn góp phần làm cho nguồn chi eo hẹp càng cạn kiệt hơn.
Phân bổ ngân sách theo yếu tố đầu vào đã tạo ra điểm yếu cơ bản là không
khuyến khích đơn vị chi tiết kiệm ngân sách, vì nó không đặt ra yêu cầu ràng
buộc hợp lý, chặt chẽ giữa số kinh phí được phân bổ với kết quả đạt được ở
đầu ra do sử dụng ngân sách đó.
Lập ngân sách theo yếu tố đầu vào đã tạo ra những ưu tiên trong phân
bổ bị lệnh lạc, méo mó. Nguồn lực của cải xã hội được đầu tư vào những dự
án, mang lại lợi ích xã hội rất tấp, trong khi ngân sách thiếu nguồn lực cho
những nhu cầu thiết yếu như: y tế, văn hóa, giao dục.
Tạo ra những quy định đặc biệt, hình thành những quỹ tiền tệ riêng biệt
tách ra khỏi ngân sách để thực hiện những chương trình có tính ưu tiên. Từ
đó giảm đi rất nhiều vai trò của ngân sách và vi phạm những nguyên tắc
thống nhất trong quản lý ngân sách.
Phân bổ dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả sử dụng nguồn
lực thấp: Thông thường, bố trí các khoản chi NSNN trên cơ sở nguồn lực
hiện cơ sở không thể thực sự triển khai được ý đồ chiến lược về bố trí đủ
nguồn tài chính cho các ưu tiên trọng điểm chi đã được lựa chạn.
Do không có tầm nhìn trung hạn nên không chỉ có cơ quan tài chính,
UBND tỉnh bị động về nguồn thu mà các cơ quan ban ngành, địa phương và
các đơn vị thụ hưởng cũng bị động về nguồn lực. Các đơn vị chi tiêu không
thể và cũng không có quyền chủ động bố trí ưu tiên chi tiêu theo trọng tâm,
trọng điểm. Hiệu quả sử dụng các nguồn lực công, do vậy mà bị giảm đáng
kể. Thường đó thiếu nguồn nhưng nhu cầu lại nhiều nên nguồn lực buộc phải
bố trí dàn trải, nhiều khoản được chi “cầm chừng”, nguồn lực tài chính công
không được bố trí tới ngưỡng cần thiết. Do đó, thời gian đầu tư bị kéo dài
quá mức cần thiết, các công trình chậm phát huy hiệu quả, nhiều lĩnh vực do
thiếu vốn nên không thể đầu tư “cho ra tầm, ra mòn”, không tạo được các cú

139