Tải bản đầy đủ
TỈNH HUA PHĂN CHDCND LÀO

TỈNH HUA PHĂN CHDCND LÀO

Tải bản đầy đủ

+ Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tiếp tục tăng trưởng nhanh, tạo
nền tảng cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy phát triển dịc vụ, đô thi
và chuyển dịch lao động ở khu vục nông thôn. Sản xuất công nghiệp có bước
chuyển dịch tích cực trong cơ cấu kinh tế cũng như cơ cấu sản xuất nội
ngành, giá trị sản xuất tăng bình quân hàng năm 11,6%, giai đoạn 2006-2010
là 16,3%). Chất lượng sản phẩm được nâng cao; tỷ trong công nghiệp khai
khoáng từ 21,5% giảm xuống còn 15,2%, công nghiệp chế biến và phân phối
điện, nước tăng 53,4% lên 75,2%. Tỷ ngành dịc vụ tương đối, dao động từ
16,3%, lên mức 29,5% năm 2011 - 2015. trong khi vẫn tăng trưởng về gía trị
vời tốc độ trung bình 10-15%.
Bảng 2.1: Tổng sản phẩm trong tỉnh.
(đơn vị: tỷ kíp)
Chỉ tiêu

2011

2012

2013

2014

2015

TT BQ

10417,97

19021,36

21627,36

26024,33

519545,82

11,9

ngư

3642,54
4246,21

4553,63
4985,37

5943,12
5215,54

7986,74
5864,72

9247,32
6523,35

6,27
6,67

nghiệp(tỷ kíp)
-Dịch vụ (tỷ kíp)
-thuế nhập khẩu
Cơ cấu GDP (giá tt)
-công nghiệp, xây

2464,10
6523,12
100
23,50

2748,13
6734,23
100
25,20

3534,25
6934,45
100
26,25

4236,43
7936,42
100
25,00

4956,40
8135,15
100
25,00

3,59
7,25

dựng(%)
-Nông, lâm, ngư

57,20

57,45

51,14

50,48

50,68

4,73

nghiệp(%)
-Dịch vụ (%)
-Thuế nhập khẩu

16,10
3,20

17,00
3,50

18,50
4,11

19,00
5,52

18,20
6,12

1,77
4,45

Tổng sản phẩm
trong tỉnh-GDP
(giá tt) (tỷ kíp)
-Công nghiệp, xây
dựng(tỷ kíp)
-Nông, lâm,

2,49

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hua Phăn, 20011-2015.
+ Sản xuất nông nghiệp đạt kết quả toàn diện cả về cây trồng và vật
nuôi, giá trị sản xuất tăng bình quân hàng năm 6,4%; sản lượng lương thực
bình quân đạt 130 vạn tấn/năm, Cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển đổi theo
hướng sản xuất hàng hóa; nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật đã được ứng dụng,
góp phần tăng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm. tỉnh hua Phăn đã có
84

những bước tiến đáng kể trong khu vục nông, lâm, trồng cây, chăn nuôi và
ngư nghiệp. Theo giá cố định, GDP khu vục này tăng 6,33% trong giai đoạn
2006-2010, từ khoảng gần 5,600 tỷ kíp. là 29,72 ỷ kíp năm 2016 - 2015. So
với 2006 - 2010 lên 5 lần. Điều này cho thấy năng suật của khu vực đã tăng
trong thập niên qua.

Đồ thị 2.1: Thu ngân sách nội địa thực hiện giai đoạn 2005-215
Nguồn Sở Tài chính Hua Phăn.
Năm 2015 đạt trên 67,00 tỷ kíp, chiểm 3,21%GDP của tỉnh, Trong đó:
Thuế và lệ phí, thu khác đạt trên 51,200 tỷ kíp, tiền sử đụng đất đạt 2,90 tỷ
kíp, thu tài sản đạt 5,50 tỷ kíp, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 7,60 tỷ
kíp, tăng 11,51% so với năm 2014. Tổng nguồn vốn huy động và quản lý của
các ngân hàng trên địa bàn đến cuối năm 2015 đạt 25,12 tỷ kíp, thấp hơn
25% so với năm 2014. Tổng dư nợ 19,23 tỷ kíp, tăng 15% so với 2014. Nhìn
chung, hột động ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho vay đối với nền phát
triển kinh tế địa phương nhất nhanh.
- Hoạt động thương mại - dịc vụ được mở rộng cao chất lượng, đáp
ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất và tiêu dùng; Đối với quan hệ kinh
tế quốc tế, tỉnh tăng cường cả xuất và nhập khẩu trong suốt thời kỳ qua.
Hàng hóa xuất khẩu qua các cửa khẩu tăng 3 lần từ 130,4 triệu USD năm
2005; lên 391,2 triệu USD năm 2015; so với kế hoạch tăng lên 9%; Hàng
hóa xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu trên địa bàn năm 2005 đạt 168 triệu
USD, lên 2015 đạt triệu USD 632 triệu USD tăng 4 lần so với kế hoạch
tăng lên 15%. Chủ yếu xuất nhập khẩu nhiều là máy móc trang thiết bị, vật
chất xây dựng và dụng cụ phục vụ thi công các dự án hỗ trợ của CHXHCN
Việt Nam anh em và các tổ chức Quốc tế khác. Thương mại nội địa chuyển
biến tích cực; tốc độ tăng trưởng bình quan hàng năm của các ngành dịc vụ
85

đạt 6%/năm; đóng góp 23,50%. Tăng trưởng GDP.Tổng mực bán hàng lẻ
hàng hóa và doanh thu dịch vụ xã hội bình quân hàng năm trên 6%/năm.
Đáp ứng tốt hơn như cầu về trao đổi hàng hóa, tiêu thụ sản phẩm cho người
sản xuất. Tổng mục bán lẻ hàng hóa, dịch vụ năm 2015 đạt 575,264 tỷ kíp,
tăng 23% so với năm 2014, tăng 7,80% kế hoạch.
- Đã tập trung huy động được nhiều nguồn vốn đầu tư, từng bước đáp
ứng nhu cầu xây dựng kết cấu hạ tầng KT-XH, tạo sự chuyên biến rõ rét
trong phát triển đô thị, từ thành phố đến địa phương, đầu tư các công trình
trọng điểm, dự án đầu tư xây dựng các khu kinh tế và khu công nghiệp, giao
thông vận tải và khu sản suốt thực phẩm. Tổng vốn đầu tư từ NSNN trong
giai đoạn này đạt được 378,019 tỷ kíp, Trong đó năm 2005 đạt 30,00 tỷ kíp,
năm 2006 đạt 31 tỷ kíp, năm 2007 đạt 35,00 tỷ kíp, năm 2008 đạt 41,428 tỷ
kíp, 2009 đạt 15,795 tỷ kíp, 2010 đạt 21,106 tỷ kíp, 2011 đạt 27,ô tỷ kíp,
2012 dật 37,00 tỷ kíp, 2013 đạt 54,200 tỷ kíp, 2014 đạt 78,600 tỷ kíp, năm
đạt 2015 85,500 tỷ kíp; Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Hua
Phăn giai đoạn 2005 - 2015 là 157 dự án với tổng vốn đạt được 157 triệu
USD, trong đó vốn đã thực hiện đạt 100%, tổng số vốn đầu tư toàn xã hội
trong thành phố đến nông thôn trên địa bàn tỉnh. Cơ cấu nguồn vốn đầu tư từ
ngân sách hàng năm có xu hướng tăng lên bình quân 3,50%/năm. Trong đó
nguốn vốn đầu tư từ doanh nghiệp chiểm 25%. Tổng vốn đầu tư xã hội
trong năm 2015. Kết cấu hạ tầng nông nghiệp - nông thôn, các khu kinh tế,
hệ thống giao thông vận tải và xóa đói giảm nghèo…được tăng lên.
Năng lượng và Mỏ: Từ năm 2011 đến nay mạng lưới năng lượng sản
xuất đạt 67,59 kw, đã được phát huy năng lượng từ đô thị đến địa phương tỷ
lệ tiêu dùng năng lượng đạt 67% trong số lượng nhà toàn tỉnh. Hiện nay đang
tiêu dùng năng lượng mạnh cao 115 KW. Từ tỉnh Xiêng Khoảng sang tỉnh
Hủa Phăn, giá trị đầu tư 32 triệu USD; bằng 25.600 tỷ kíp, hiện nay đang đầu
tư 2 dự án thủy điện ở tỉnh Hua Phăn, giá trị 45 triệu USD. Cho doanh

86

nghiệp ngoài nước nhượng theo quyết định, ngoài ra còn được cho phép các
công ty trong và ngoài nước khai thác tài nguyên như; than, chì, mỏ thiếc,
kẽm, mỏ sắt và v.v… Tổng 17 công trình.
Giao thông -Vận tải: Tỉnh Hủa Phăn đã chú ý phát triển nền kinh tế hạ
tầng trong hệ thống đường bộ, đường thủy để thuận lợi cho vận chuyển hàng
hóa từ đô thị đến nông thôn tổng 149 công trình theo Quốc hội phê duyệt, giá
trị 155,29 tỷ kíp. Trong đó vốn trong nước 92,67 tỷ kíp, vốn nước ngoài
62,63 tỷ kíp, dự án đường đạt 470 km, sửa chữa đường nhựa 187 km, sửa
chữa đường cấp phối 629 km, dự án mới đạt 138 km, dự án cầu 10 nơi. Hiện
nay có đường dài cả 3.539 km, trong đó có đường nhựa 420 km. Cao đường
cấp phối 662 km và đường đất đỏ 2.456 km, đường đi được 02 mùa 1.810
km, có đường đi đến 706 làng, thực hiện đạt 100%, so với kế hoạch 2010
tăng 34%. hiện nay nhà nước đã khuyến khích công ty trong và ngoài đầu tư
dự án công trình chiến lược, nơi hoạt động của cán bộ lãnh đạo thời kỳ chiến
tranh mô hình đầu tư trước.
+ Bưu điện - giao thông: Đã tiếp tục phát huy, phục vụ xã hội và sự
vận chuyển tiền trong hệ thống Bưu điện trong và ngoài nước. Hệ thống giao
thông đã được phát huy mạng lưới mạnh mẽ từ đô thị đến huyện, từ huyện
đến nông thôn cho toàn xã hội được tiêu dùng điện thoại, hiện nay toàn xã
hội sử dụng 45.956 số. Quản lý tư liệu có chất lượng, có khả năng phục vụ
khách hàng, tiêu dùng và toàn xã hội trong và ngoài nước đảm bảo an toàn.
Hiện nay toàn tỉnh có 65.342 xe ô tô, so với năm 2010 tăng lên 200%.
2.1.2. Tổng quan về tình hình xã hội
Cùng những thành tựu kinh tế trong giai đoạn 2005 - 2015, tỉnh Hua
Phăn đã đạt được hầu hết các mục tiêu xã hội đề ra. Nhìn chung, tỉnh đã có
những bước tiến đáng kể trong giảm nghèo, giáo dục, chăm sóc sức khẻo,
Những thành tích trên có được đã nhờ đã bảo vệ và duy trì được một môi
trường trong lành và hạn chế ô nhiễm từ phát triển công nghiệp.Tỉnh Hua

87

Phăn đã tổ chức thực hiện chỉ tiêu phấn đấu xóa đói giảm nghèo từ năm
2005 đến 2010 dân số tỷ lệ 30% và số hộ gia đình nghèo chiếm 22,3%, năm
2011 đến 2015 số hộ gia đình nghèo 17,10%, giảm xuống 5,2% năm 2015.
Của tổng số hộ gia đình cả tỉnh.
+ Về An ninh- quốc phòng
Vì tỉnh Hủa Phăn là tỉnh căn cứ địa cách mạng, vị trí chiến lược quan
trọng việc An ninh quốc phòng là việc có ý nghĩa rất quan trọng trong mối
quan hệ hòa bình việc phát triển cơ sở kinh tế-xã hội của tỉnh. Do thay đổi
hình thức xuống xây dựng nền tảng để củng cố lực lượng An ninh - quốc
phòng có chất lượng về chính trị, tổ chức chiến lược chiến đấu vững chắc ở
địa phương vận động nhân dân các dân tộc là người đứng lên tham gia công
tác phòng chống các vấn đề tiêu cực…, ổn định trật tự và an ninh trong xã hội.
+ Giáo dục-thể thao: Tiếp tục thực hiện phát triển 3 chiến lược ngành
giáo dục đi trước một bước, theo kế hoạch thực hiện quốc gia giáo dục để cá
nhân, kế hoạch phát triển các cán bộ mở có phẩm chất đạo đức, năng lực
chuyên môn, năng lực tổ chức quản lý và thái độ chính trị... của ngành giáo
dục, phấn đấu thực hiện mục tiêu chủ yếu giáo dục phân bố giáo viên cho
phù hợp với tình hình cụ thể của khả năng công tác giáo dục. Đánh giá chất
lượng của hệ thống giáo dục thể thao như vậy có dự án đầu tư 207 công
trình, giá trị 91,46 tỷ kíp, xúc tiến huy động nhân dân các bộ tộc tham gia
bảo vệ và phát triển trường tiểu học ở địa phương vùng sâu, vùng xa, cho trẻ
em được vào học, tỷ lệ vào tiểu học đạt 98,43% đến năm 2030 sẽ xóa bỏ sự
không biết chữ độ tuổi từ 15-45 trong toàn tỉnh. Và có công trình dự án đầu
tư sân bóng của tỉnh giá trị 27 tỷ kíp, để tạo điều kiện thực tập và thi đấu thể
thao trong cấp tỉnh và cấp huyện trong tương lai.
+ Về y tế: Để y tế tiếp tục động viên toàn dân tham gia thực hiện 6 kế
hoạch chiến lược, công tác giáo dục và bảo vệ sức khỏe, thay thế công tác y tế
xuống cơ sở nhiều hơn do bắt đầu từ bản mô hình kinh tế, đào tạo được cán bộ

88

y tế, có tinh thần phục vụ tốt và có kinh nghiệm về chuyên môn nghiệp vụ,
củng cố cơ sở y tế đặc biệt là bệnh viện tỉnh, huyện, trạm y tế. Đi đôi việc với
củng cố chất lượng dịch vụ y tế do bắt đầu từ sử dụng khoa học y tế hiện đại,
đầu tư dự án y tế năm 2015; có 35 công trình, giá trị 65,08 tỷ kíp, trạm y tế
225 làng, tỷ lệ 31,12% làng trên toàn tỉnh. Năm 2015 tỷ lệ tiêu dùng nước
sạch 91% tăng 30% so với năm 2010, tỷ lệ sử dụng nhà vệ sinh sạch 84,8%
năm 2015; so với 2010 tăng 11,8% của hộ toàn tỉnh, Huy động dân tham gia
công tác bảo hiểm y tế đạt được 9,50% năm 2015, so với 2010 tăng 3,4%.
Tiiesp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nhân dân các dân tộc, đã được cải
thiện đáng kể và nhìn chung đã cao hơn chuẩn chung của cả nước. Nếu như
năm 2005 tỉnh có 9 bệnh viện và 15 trạm y tế. có bác sỹ 75 người. Năm 2015
có 10 bệnh viện và 95 trạm y tế. có bác sỹ 235 ngừơi. Tăng đến hơn 3 lần. chỉ
mới có bác sỹ/10.270 dân.
+ Thông tin văn hóa - du lịch:
Tiếp tục tuyên truyền bằng nhiều hình thức kịp thời với sự kiện, thành
thông tin và hiểu biết nội dung nhiều hơn như: về pháp luật khoa học và kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội quan trọng của đất nước. Củng cố kỹ thuật
và chất lượng chương trình phát thanh và truyền hình tốt hơn. Phát huy
truyền thống sẵn có, giữ gìn giá trị văn hóa tốt đẹp của đất nước, đồng thời
phổ biến văn hóa phong tục tập quán tốt đẹp của mỗi địa phương và xúc tiến
công tác hoạt động văn hóa văn nghệ có nội dung phản ánh đến việc giáo
dục tuyên truyền. Để tạo cơ sở vật chất và tinh thần, tạo được văn hóa đạt 80
làng, tạo nhà hộ đạt 8.280 hộ, đã có được đầu tư dự án tổng 5 công trình giá
trị 13,85 tỷ kíp. Để ý phát triển du lịch thiên nhiên, văn hóa và hang động
lịch sử của huyện Viêng Xay và các điểm khác tại tỉnh cùng có lợi và xây
dựng cơ sở hạ tầng về du lịch có trọng điểm để thu hút khách du lịch đến
ngày một nhiều hơn, có được vốn đầu tư 10 công trình, giá trị 12,29 tỷ kíp,
đã được mở dịch vụ mới 29 nơi, toàn tỉnh có: 10 khách sạn, 150 nhà nghỉ,

89

210 quán cơm, 85 quán ăn-uống. 5 năm có khách du lịch bình quân
42%/năm, tạo thu bình quân 13,90 tỷ kíp.
+Thông tin văn hóa - dụ lịch:
Tiếp tục tuyên truyền tốt lên bằng nhiều hình thức kịp thời với sự kiện,
thành thông tin và biết hiểu có nội dụng nhiều hơn như: về pháp luật khoa
học và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quan trọng của nước củng cố kỹ
thuật và chất lượng chương trình phát thanh và truyền hình tốt hơn. Phát huy
truyền thống sẵn có, giữ gìn giá trị văn hóa tốt đệp của đất nước, đồng thời
phổ biến văn hóa phong tục tập quản tốt đệp của mỗi địa phương và xúc tiến
công tác hoạt động văn hóa văn nghệ mà có nội dụng phản ánh đến việc giáo
dục tuyên truyền. để tạo cơ sở vật chất và tình thần, tạo được văn hóa đạt 80
làng, tạo nhà hộ đạt 8.280 hộ, đã có được đầu tư dư án tổng 5 công trình giá
trị 13,85 tỷ kíp.để ý phát triển du lịch thiên nhiên, văn hóa và hang động lịch
sử của lãnh tự huyện Viêng Xay và các điểm khác tại tỉnh củng cố lợi và xây
dụng cơ sở hạ tầng về du lịch có trọng điểm để thu hút khách du lịch đến
ngày một nhiều hơn, có được vốn đầu tư 10 công trình, giá trị 12,29 tỷ kíp,
đã được mở dịch vụ mới 50 nơi, toàn tỉnh có khách sản 10 nơi, nhà nghị 150
nơi, quản cơm 210 nơi, quản ăn - uống 235 nơi. 5 năm có khác dụ lich bình
quân 42%/năm. Tạo thu bính quân 13,90 tỷ kíp.
2.2. THỰC HIỆN QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN CỦA NGÂN
SÁCH TỈNH HUA PHĂN GIAI ĐOẠN 2005 - 2015.
Mang tính chất là các khoản ch icho tiêu dùng xã hội, chi thường
xuyên của ngân sách tỉnh đã gắn liền với chức năng quản lý xã hội của nhà
nước. Bao gồm các khoản chi đa dạng, chi thường xuyên của ngân sách tỉnh
có phạm vi tác động khá rộng chứa đựng nhiều mục tiêu khác nhau: từ giải
quyết chế độ xã hội đến chi sự nghiệp phát triển kinh tế. Với ý nghĩa đó, chi
thường xuyên chiếm tỉ trọng đáng kể trong tổng chi NSNN của tỉnh.
Bảng 2.2: Tỷ lệ chi thường xuyên so với tổng chi NSNN và so với GDP
90

Năm
Chỉ tiêu
1.Tổng chi NS tỉnh (tỷ kíp)
2.GDP nội tỉnh
(tỷ kíp)

2011
187.600
731.100

2012
207.600
773.100

2013
405.800
907.050

2014
451.500
1164.080

2015
501.300
1673.22

3.Chi thường xuyên (tỷ kíp)
4. Chi thường xuyên/Tổng chi

141.700

150.326

329.821

352.997

0
389.900

NS Tỉnh (%)
5. Chi thường xuyên/GDP nội

75,53

72,41

81,27

78,18

77,77

19,38

19,44

36,36

30,32

33,30

Tỉnh (%)

Nguồn: Sở tài chính tỉnh Hua Phăn, Niên giám thống kê tỉnh Hua Phăn.
Từ 2005 - 2010, tổng chi thường xuyên đạt dược 69.689 tỷ kíp,
chiếm 37,40% trong tổng chi ngân sách tỉnh, Chiếm 9,53% trong tổng GDP
nội tỉnh năm 2011.
Giai đoạn từ 2010 - 2015 phục vụ cho chủ chương của Đảng và Nhà
nước như đối mới chích sách tiền lương, tăng chi cho giáo dục đào tạo, y tế,
quốc phòng, an ninh, khoa học công nghệ và dự án xây dựng,….Quy mô chi
thường xuyên của ngân sách tỉnh đã có sự tăng đáng kể về số tuyệt đối, năm
2011 chi ngân sách ở mức 141.700 tỷ kíp đến năm 2015 tăng lên với mức chi
389.900 tỷ kíp. Tăng cấp 2,75 lần.
(đơn vị tỷ kíp)
Đồ thị 2.2: Cơ cấu chi thường xuyên trong tổng chi NS và GDP nội tỉnh.
Quản lý chi thường xuyên của ngân sách tại tỉnh Hua Phăn thuân thủ
theo chu trình quản lý NSNN do Nhà nước quy định, gồm các giai đoạn: Lập
dự toán chi ngân sách, Chấp hành, thực hiện dự toán chi ngân sách và Quyết
toán chi ngân sách.
2.2.1. Quản lý lập dự toán chi thường xuyên của ngân sách giai
đoạn 2005 - 2015.
 Giai đoạn 2005 - 2010:
Công tác lập dự toán chi NSNN thường xuyên trong các đơn vị thụ
91

hướng NSNN tại tỉnh Hua Phăn CHDCND Lào được thực hiện theo luật
ngân sách năm Nhà nước sửa đổi số 02/QH Lào; ngày 26/12/2006. Nhị định
của Chính phủ số 80/TT Lào; ngày 28/02/2007 về sự tổ chức và hoạt động
của Bộ tài chính bao gồm ngân sách Trung Ương và ngân sách địa phương.
Căn cứ Nghị quyết số 03/TT Lào; ngày 15/2/2012 hướng dẫn thực hiện về
lập tỉnh là chiến lược, lập huyện là mạnh mẽ toàn diện và lập làng là phát
triển. Vì vậy các khoản chi thường xuyên việc lập dự toán phải tiến hành
theo một quy trình từ cơ sở, trên cơ sở dự kiến chi theo mục lục ngân sách.
Phương thức quản lý chi ngân sách tại tỉnh Hua Phăn trong thời
gian này chủ yếu là quản lý theo yêu tố đầu vào, lạp dự toán chi thường
xuyên được tiến hành trong thời gian cố định mỗi năm một lần, Hàng năm,
căn cứ vào nguồn ngân sách dự báo tăng trưởng một tỷ lệ nhất định cộng với
tỷ lệ trượt giá, cơ quan dự thảo ngân sách thông báo số kiểm tra chi trên cơ
sở nguồn thu có được, thông thường cũng tăng một tỷ lệ nhất định, cộng với
tăng chi do bổ sung ngân sách. Số phân bổ được thông báo xuống cơ quan
thụ hưởng ngân sách địa phương và các đơn vị sử dụng ngân sách từ bộ
ngành tới các đơn vị cơ sở, Căn cứ vào số được phân bổ và như cầu thực tế,
các đơn vị tiến hành lập ngân sách.
Toàn bộ quy trình này, không yêu cầu thể hiện kế hoạch công việc, các
bản giải trình về kết quả công việc, không phản ánh được với lượng chi phí
như vậy thì kết quả đạt được như thế nào, không biết cơ quan nào hoàn thành
nhiệm vụ ở mức độ nào, có tương xứng với mức chi phí bỏ tra hay không.
Giai đoạn 2011 - 2015:
Được đánh dấu mốc bởi các quy định vầ quản lý tài chính ở các cơ
quan thụ hưởng ngân sách, đó là: Nghị định số 241/NĐ-CP ngày 12/9/2013
của Chính Phủ quy định về tổ chức thực hiện quản lý kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội và quản lý NSNN năm 2013, Nhị định số 813/GĐ;STC Lào;
Ngày 5/12/2013 về thực hiện quản lý chi NSNN cấp tỉnh và cấp huyện năm

92

2013. Quy định quyề tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ
chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập.
Các nghị định trên đã mở đường cho việc áp dụng quản lý NSNN theo
kết quản đầu ra. Tuy nhiên, trên thực tế ở tỉnh Hua Phăn, phương thức quản
lý chi NSNN theo kết quả đầu ra được áp đụng chưa phổ biến, Vì đây là
phương thức quản lý gắn liền với nền kinh tế thị trường, mới mẻ ngay cả với
các nước phát triển và chỉ có thể áp dụng ở các nước, địa phương có trình độ
quản lý cao, thông tin đầy đủ, minh bạch cơ sở hạ tầng tin học, cùng với các
phương tiện hỗ trợ kỹ thuật và hệ thống chính sách đồng bộ. Các yêu tổ đó là
cơ sở để xác định kết quả đầu ra cụ thể, có đo lường về số lượng, thời gian,
chi phí….Điều đó cho phép đánh giá hiệu quả sử dụng ngân sách, lựa chọn
phương án tối ưu, coi lĩnh vực cung cấp hàng hóa, dịch vụ công bình đẳng
như đối với hàng hóa tư nhân. Có thế nói đây là yêu cầu và xu hướng tất yếu
cần thường tới của đất nước có nền kinh tế thị trường.
Thực trạng này đã và đang được khắc phục dần bằng cách khoản biên
chế hành chính và giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho thủ trưởng đơn
vị sử dụng ngân sách Nghi quyết và Nghi định của các cấp ban hành. Ở tỉnh
Hua Phăn đã thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên
chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Các đơn vị được tự chịu
tự chủ biên chế và khoản chi. Thông qua việc dự toán đầu năm, UBND tỉnh
giao quyền tự chủ, tự chị trách nhiệm cho các cơ quan quản lý hành chính
trực thuộc và các đơn vị sự nghiệp.
Một phương thực quản lý chi NSNN mới được quan tâm mà một số
quốc gia trên thế giới áp dụng đó là Quản lý chi ngân sách theo khuôn khổ
chi tiêu trung hạn. Phương thực này có thể nói là có nhiều ưu điểm. Nó được
coi như một kể hoạch trượt, kế hoạch cuốn chiếu trong nhiều năm (từ 3-5
năm), sau mỗi năm căn cứ vào dự báo vĩ mô thay đổi thì lại điều chỉnh kể

93

hoạc những năm tiếp theo và tính thêm một năm nữa, vì vậy lúc nào cũng
tồn tại kế hoạch trung hạn và luôn được cập nhận cho phù hợp với thực tiễn.
Hiện nay phương thức quản lý chi tiêu theo khuôn khổ trung hạn chưa
được áp dụng ở tỉnh Hua Phăn, bởi yêu tố cơ bản là công cụ dự báo vĩ mô,
yếu tố quan trọng nhất quyết định về việc thực hiện theo phương thực quản
lý này thì Hua Phăn chưa xây dựng được. Hua Phăn hiện cũng đang xây
dựng kế hoạch chi ngân sách giai đoạn 2015 - 2016, Tuy nhiên Hua Phăn gọi
là thời kỳ ổn định ngân sách, nó là bản kế hoạch chi tiêu ngân sách, có thể
được điều chỉnh và bổ sung hàng năm không chứ không phải kế hoạch chi
tiêu trung hạn. Bởi xây dựng kế hoạch trung hạn thời gian tương đối dài với
dự kiến mang nhiều yếu tố chủ quan như vậy không mang tính khả thi và
thường không đạt được kết quả như dự tính ban đầu hay những biến động
ảnh hưởng đến mục tiêu hầu như không được quan tâm cập nhật nhằm điều
chỉnh cho phù hợp trên địa bàn tỉnh Hua Phăn CHDCND Lào.
2.2.2. Quản lý chấp hành dự toán chi thường xuyên của ngân sách
giai đoạn 2005 - 2015
Chấp hành dự toán chi tường xuyên của ngân sách trong giai đoạn này
tại tỉnh Hua Phăn được quản lý theo chu trình ngân sách hay còn gọi là chi
ngân sách theo kế hoạch hàng năm. Bao gồm các giai đoạn:
- Cấp phát các khoản chi thường xuyên
- Kiểm soát chi thường xuyên
- Điều chỉnh dự toán chi thường xuyên (nếu có)
Việc quản lý thường xuyên của ngân sách theo kế hoạch hành năm cho
phép tính toán tương đối sát nguồn lực tài chính có thể có được, từ đó giúp
cho việc bố trí chi tiêu tương ứng với năng lực thực tế. Các làm đó có thuận
lợi là dễ làm, ít phải điều chỉnh dự toán và nếu có thì mức độ điều chỉnh
không lớn so với khi xây dựng dự toán. Song trong điều hành ngân sách khó
khăn vì có nhiều công việc kéo dài trong nhiều năm, nhưng kết thúc từng

94