Tải bản đầy đủ
kết quả đầu tra và khuôn khổ chi tiêu trung hạn của các nước phát triển

kết quả đầu tra và khuôn khổ chi tiêu trung hạn của các nước phát triển

Tải bản đầy đủ

duy về cách thức quản lý chi NSNN. Thay việc quản lý tài chính công mà cụ
thể là nguồn lực lớn nhất - NSNN - theo các dự toán chi thiết lập theo khả
năng nguồn lực hiện có hoăc dự kiến có được (dựa theo nguồn lực đầu vào)
bằng việc lấy kết quả đầu ra làm trong tâm, làm mục tiêu chủ yếu, làm căn
cứ chủ yếu khi xây dựng, khi thẩm định và phe chuẩn dự toán ngân sách.
Điều đó dẫn đến các trò lưu đổi mới toàn diện về quản lý ngân sách, từ khâu
lập, thẩm định, phe chuẩn, phân bổ ngân sách đến chấp hành, quản lý, sử
dụng và quyết toán ngân sách; Tất cả đều có tầm nhìn trung hạn trong một
khuôn khổ chi tiêu trung hạn, lấy tiêu thức kết quả đầu ra (của quá trình
phân phối, sử dụng nguồn lực công) làm căn cứ chủ yếu cho toàn bộ quy
trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách.
Ba dạng thức của chương trình chi tiêu trung hạn cầu được xem xét là:
- Một dự báo kỹ thuật đơn thuần các tiêu trong tương lai của
những chương trình đang diễn ra (bao gồm những chi tiêu thường xuyên của
các khoản đầu tư)
- Một phương thức lên kế hoạch chặt chẽ, bao gồm: (i) lên kế hoạch
để tiết kiệm đối với các khu vực không được ưu tiên để dành chỗ cho các
chương trình được ưu tiên hơn, nhưng (ii) them vào trong các chương trình
diễn ra trong nhiều năm cả những chương trình đang diễn ra, và cả những
chương trình mới mà được tính vào ngân sách hàng năm và đã có chuẩn bị
ngân sách chắc chắn. Những hoạch này chỉ gồm một vài dự án mới đã đi
dược hơn một năm kế hoạch (ví dụ Dự án đầu tư công được chuẩn bị tại Sri
Lanka cho đến năm 1998).
- Một phương thức lên kế hoạch kiểu “truyền thống”, chỉ ra một cách
rõ ràng những chương trình mới và chi tiêu của những chương trình này cho
toàn bộ thời kỳ. phương thức này bao gồm “các kế hoạch phát triển” bao
gồm tất cả các chi tiêu, hoặc nhiều chương trình đầu tư công đang được
chuẩn bị ở một vài nước đang phát triển cũng như các kế hoạch chi tiêu được

74

chuẩn bị ở các nước phát triển trong suốt những năm 70 ở nơi mà cơ chế của
các tổ chức cho việc quyết định các chính sách hợp lý và lập ngân sách
không phù hợp thì phương thức này sẽ dẫn tới sự quá tải các chương trình
chi tiêu.
Tính khả thi của việc áp dụng các phương pháp này và mối liên hệ
của chúng với ngân sách hàng năm phụ thuộc vào khả năng và hoàn cảnh thể
của từng nước. Tuy nhiên, ngân sách hàng năm cần phải được nhìn nhận
theo quan điểm xuyên suốt trong nhiều năm ngay cả khi chương trình chi
tiêu trung hạn không khả thi. Vì vậy hai hoạt động cần phải thực hiện là: (i)
những dự toán có hệ thống về các chi tiêu tương lai của các chương trình
đang diễn ra khi xem xét những yêu cầu về chi tiêu từ bộ cùng cấp; (ii) tập
hợp những dự toán về kinh phí phù hợp với cơ cấu kinh tế vĩ mô trung hạn.
Thường thì những dự toán về các chi tiêu tương lai là rất khó đặc biệt là
những chi tiêu thường xuyên của các dự án đầu tư công mới.
Vì vậy, để thực hiện theo phương thức quản lý chi NSNN theo kết
quả đầu ra găn với khung khổ chi tiêu trung hạn, cần chuẩn bị rất chu đáo,
trước hết cần nâng cao nhận thức chung của các cơ quan chức năng về
phương pháp quản lý mới. Tiếp đến là xây dựng được hệ thống các chỉ số
đánh giá kết quả hoạt động; phải nâng cao được năng lực cung cấp thông tin
về tài chính - ngân sách của các cơ quan liên quan, từ trung ương đến cơ sở.
Thực hiện đổi mới quy trình xây dựng dự toán và phương pháp phân bổ ngân
sách dựa theo kết quả đầu ra gắn với tầm nhìn trung hạn, sẽ là một cách làm
thích hợp để các cơ quan tài chính và kế hoạch đầu tư phối hợp tốt với nhau
trong việc xây dựng các phương án sử dụng nguồn lực công của đất nước
một cách có hiệu quả nhất, đồng thời, giúp cho Quốc hội và HĐND chủ
động thực hiện vai trò giám sát có nhiệu quả đối với quá trình xây dựng dự
toán, phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính của đất nước. Cách thức và mô

75

hình quản lý mới cũng đảm bảo nâng cao vai trò giám sát của các cơ quan
dân cử trong phân bổ sử dụng ngân sách bền vững.
1.4.3. Kinh nghiệm quản lý chi NSNN của một số địa phương.
1.4.4. Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Hua Phăn CHDCND Lào.
Qua nghiên cứu kinh nghiệm cải cách ngân sách của một số quốc gia,
ngoài và trong nước. tỉnh thành phố, có thế rút ra những bài học kinh nghiệm
thiết thực cho tỉnh Hua Phăn CHDCND Lào:
1.4.4.1. Cần có sự nỗ lực kiểm soát các khoản chi NSNN.
- Để thực hiện mục tiêu giảm chi phí thì cần có sự lựa chọn nhiều hơn
những vấn đề mà chính quyền các cấp nên can thiệp, cũng như việc giảm
quy mô bộ máy chính quyền.
- Tăng cường tính hiệu quả hoạt đông của chính quyền trong khi các
nguồn lực còn hạn chế, hợp lý hóa việc điều tiết, tăng cường việc trao quyền
tự quyền cao hơn cho các nhà quản lý liên quan đến ngân sách và nhân sự.
trong thời gian tới cần mở rộng hơn việc khoán biên chế và kinh phí quản lý
hành chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước.
- Cần có nỗ lực hơn nhằm nâng cao sự đáp ứng về hành chính và
chất lượng dịch vụ và đưa các dịch vụ đến gần với người sử dụng hơn. Tức
là người dân cần được thông báo về công việc của chính quyền, chính quyền
cũng cần phải có sự hợp tác voái công dân để hoàn thành nhiệm vụ của
mình, cung cấp các dịch vụ phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của người dân hay
tạo điều kiện thuận lợi để họ có thể tiếp cận trực tiếp với chính quyền. Chính
quyền cũng cần đề ra các tiêu chuẩn về dịch vụ bằng các văn bản chính thức
hay thực hiện đơn giản hóa gánh nặng hành chính nhằm giảm nhẹ gánh nặng
đối với người dân, nhất là đối với người doanh nghiệp.
- Tăng cường hơn nữa việc trao thêm trách nhiệm cả về tài chính
lẫn chính trị, mang lại cho nhà quản lý sự tự do và linh hoạt hơn. Thực hiện
việc đánh giá kết quả công việc mà địa phương thực hiện căn cứ vào hiệu
76

quả và hiệu năng mà công việc mang lại, từ đó đòi hỏi chính quyền phải có
định hướng làm việc có hiệu quả hơn.
- Phân cấp mạnh hơn việc cung cấp các dịch vụ công cho chính quyền
Cơ sở gắn với việc chuyển giao nguồn lực tài chính cho họ để làm cho việc
cung cấp các dịch vụ sát với yêu cầu của người dân, hạn chế được sự lãng
phí nguồn lực.
1.4.4.2. Cải cách quản lý chi NSNN
- Hình thành một khung chính sách kinh tế nhiều năm, khung kinh
tế trung hạn hay kế hoạch phát triển nhiều năm.
- Cần phải có sự cam kết về chính trị và sự ửng hộ của các lãnh đạo
ở cấp cao nhất để đưa ra quyết định liện quan đến cải cách chính sách chi
NSNN theo kết quả đầu ra. Nếu không có sự ủng hộ mạnh mẽ của các nhà
lãnh đạo cấp cao thì hệ thống quản lý theo kết quả đầu ra không được thể chế
hóa và phổ biển áp dụng trong thực tiễn.
- Khởi đầu cho cải cách là nên thực hiện thí điểm ở một vài đơn vị
điển hình, sau đó rút ra những kinh nghiệm thành công và kiểm ra những
cách tiếp cận khác nhau trước khi thể chế hóa và phổ biến áp dụng rộng rãi
phương thức quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra.
Cách tiếp cận từ từ như thế có thể khắc phục được những tư tưởng
nóng vội, chủ quan và khắc phục những kém hiệu quả trong quá trình thực
hiện. Mặt khác, cách tiếp cận này còn tạo lập nền tảng vững chắc cho sự ủng
hộ phương thức quản lý mới “từ dưới lên”, bới vì nó đáp ứng được 2 yêu cầu
đó là: tính hợp pháp và tính thích hợp.
Sự thể chế hóa và phổ biến áp dụng rộng rãi phương thức quản lý ngân
sách theo kết quả đầu ra nên được thực hiện bằng việc ban hành các văn bản
hướng dẫn rõ ràng, dẽ thực hiện, bao gồm các bản báo cáo về vai trò và trách
nhiệm của những người liên quan đến hệ thống lập ngân sách theo kết quả
đầu ra.
77

- Cần tạo ra cơ chế hỗ trợ đa dang cho tiến trình cải cách ngân sách.
Để hỗ trợ cho việc thực hiện các chính và thủ tục mới của hệ thống lập
ngân sách theo kết quả đầu ra, trước hết những nỗ lực thuộc về bên trong của
tổ chức là các cơ quan, đơn vị công quyền phải tăng cường đào tạo, nâng cao
năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ. Các cơ quan, đơn vị công quyền công
quyền cần tạo lập bộ phận hỗ trợ khác nhau để đẩy mạnh tiến trình triển khai
hệ thống lập ngân sách theo kết quả đầu ra trong đơn vị một cách thông suốt.
1.4.4.3. Kiểm tra, giám sát, đánh giá quá trình quản lý ch NSNN
- Cần kiểm tra toàn bộ công việc thực hiện cùng với những đánh
Giá khác nhau để đảm bảo cho việc đưa ra các quyết định một cách hợp lý.
Kiểm tra và đánh giá công việc thực hiện - cả hai được xem là công cụ
quan trọng của hệ thống lập ngân sách theo kết quả đầu ra, chúng bổ sung và
hỗ trợ cho nhau. Dữ liệu kiểm tra quá trình thực hiện sẽ cung cấp cho người
quản lý những vấn đề còn hạn chế, và nếu không có phân tích thêm thì có lẽ
không thể đưa ra những giải pháp để khắc phục. Kinh nghiệm cho thấy chỉ
một mình dữ liệu kiểm tra thực hiện thường không cung cấp đầy đủ thông tin
để đưa ra quyết định khôn ngoan. Đánh giá với mục đích là kiểm tra tại sao
thực hiện tốt hay xấu bằng việc phân tích những mối quan hệ nhân quả và
đưa ra các kiến nghị hành động là những bổ sung rất hữu ích, làm đơn giản
hóa sự biểu thị các dữ liệu kiểm tra.
- Cần đảm bảo việc sử dụng thông tin thực hiện, không chỉ cho mục
Đích báo cáo, mà còn cho mục đích học tập quản lý và đưa ra quyết định.
Những nhà quản lý cần nhận thấy những hữu ích này trong hệ thống lập
ngân sách theo kết quả đầu ra.
- Tránh lạm dụng hệ thống đo lường thực hiện trong đánh giá kết quả.
Sử dụng hệ thống đo lường thực hiện không hợp lý, có thể gây ra những
hành vi tiêu cực của người quản lý như: báo cáo không trung thực, hoặc tập
trung vào những hoạt động dễ đo lường hơn là những hoạt động có tính chất
78

quan trọng hơn nữa, nếu như sự phân phối nguồn lực quá phụ thuộc vào các
dữ liệu thực hiện, có thể tạo ra động cơ báo cáo thiên vị hoặc sai lệch bởi vì
người quản lý cố gắng trình bày công việc thực hiện một cách tốt nhất.
- Cần gắn kết chặt chẽ quyền tự chủ và trách nhiệm của người quản
lý trong hệ thống lập ngân sách theo kết quả đầu ra.
Người quản lý phải chịu trách nhiệm về kết quả đầu ra, đi đôi với đó là
họ được trao quyền tự chủ trong việc ra quyết định thay đổi phân bổ nguồn
lực từ những hoạt động kém hiệu quả sang những hoạt động có hiệu quả cao
hơn, không có quyền tự chủ, người quản lý không thể đưa ra các giải pháp
hữu hiệu nhằm cải thiện kết quản và sự thực hiện sẽ trỏ nên hoài nghi, mơ hồ.
- Cần tạo điều kiện cho công chúng, những nhà tài trợ, những người thụ
hưởng… tham gia tất cả các giai đoạn của hệ thống lập ngân sách theo đầu ra
như: xây dựng kể hoạch chiến lược, phát triển hệ thống đo lường công việc
thực hiện và tiến trình và ra quyết định theo kết quả đầu ra.
Các tiếp cận tham gia như vậy sẽ tạo ra nhiều động lực tiềm năng làm
gia tăng tính hiệu quả của sự phát triển và thiết lập cam kết của nhiều chủ thể
trong việc thực hiện của mục tiêu đề ra.
- Minh bạch ngân sách: Đây là nguyên tắc đòi hỏi các cơ quan Chính
phủ giải trước người dân về việc sử dụng các nguồn thu của Chính phủ cũng
như; giải trình về quản lý tổng thể. Minh bạch ngân sách cũng là vấn đề rất
quan trọng đối với các nhà tài trợ là những người muốn có đầy đủ thông tin
để đánh giá hiệu quả và tác động của các khoản đã tài trợ, ngoài ra, đối với
các cơ quan và bộ ngành Chính phủ, điều này cũng tạo điều kiện quản lý
ngân sách hiệu quả hơn.
Chương trình đầu tư công: Chương trình đầu tư công phản ánh mức độ
và phân bổ chi đầu tư của nhà nước được đánh giá là cần thiết để đạt được
các mục tiêu quan trọng nhất trong chiến lược phát triển KT-XH và kế hoạch
dài hạn đã được Quốc hội phe duyệt. Mặt khác, chương trình đầu tư công

79

cũng tổng hợp các nguồn vốn nhà nước có thể huy động được, thông qua đó
đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và đồng viên các nguồn vốn
khác cùng đầu tư, tạo điều kiện thực hiện những mục tiêu phát triển KT-XH
của đất nước.
Dựa trên việc xây dựng chương trình đầu tư công, có ánh hưởng của
chương trình này đối với ngân sách cũng được ước tính. Chương trình đầu tư
công là một bước đi trong quá trình tiến tới xây dựng khuôn khổ chi tiêu
trung hạn
- Khuôn khổ chi tiêu trung hạn có phạm vi rộng hơn, bao gồm một
đánh giá đầy đủ về khả năng thu và chi của Chíh phủ, cả chi đầu tư và chi
thường xuyên cho cả thời kỳ trung hạn được thể hiện trong một kế hoạch tài
chính trung hạn. Nhận thức được tính hữu ích và tầm quan trọng của khuôn
khổ chi tiêu trung hạn trong quản lý chi NSNN, hiện nay chính phủ đang cho
xây dựng khuôn khổ chi tiêu trung hạn một số ngành như giáo dục, y tế và
thể chế hóa đối với với các lĩnh vực khác.
1.4.4.4. Thực hiện các cơ chế quản lý chi ngân sách nhà
nước theo hướng kết quả đầu ra
- Thực hiện cơ chế khoán chi hành chính đồng thời với khoán biên
chế đối với cơ quan hành chính.
- Thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sư nghiệp.
- Xã hội hóa là biện pháp tíc cực trong việc tăng cường huy động
nguồn thu trong nước để bổ sung cho nguồn thu hạn hẹp của Chính phủ. Xã
hội hóa còn có tác dụng thu hút sự tham gia của người dân vào quản lý chi
NSNN, nâng cao tình thần trách nhiệm trong các quyết định về chi NSNN
cũng như có động cơ tiết kiệm chi phí, giữ gìn bảo quản tài sản chung và các
cơ sở hạ tầng có đóng góp của chính mình. Với việc áp dụng nguyên tắc
“Nhà nước và nhân dân cùng làm” và ban hành các chính sách khuyến khích
xã hội hó các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, xây dựng cơ sở hạ
80

tầng thông qua lệ phí người sử dụng và chương trình xã hội hóa, nhà nướ đã
tăng cường huy động đóng góp của người dân và của khu vực ngoài quốc
doanh vào các khu vực này.
Tóm lại, Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm của một số quốc gia và địa
phương như các nước của tổ chức OECD, nước đang phát triển, một số tỉnh
thành phố phát triển của nước CHDCND Lào trong hội nhập quốc tế và về
quản lý chi NSNN, tác giả đã đúc kết một số kinh nghiệm có giá trị như: quy
hoạch và quản lý nghiêm theo quy hoạch, bứt phá về cơ sở hạ tầng, đổi đất
lấy cơ sở hạ tầng. Người có đất ra mặt đường phải đóng tiền,… Mọi chính
sách thực thi có hiệu quả cần phải có sự đồng thuận từ phía nhân dân, cộng
động doanh nghiệp, nhà đầu tư… từ đó rút ra những bài học đối với quản lý
chi NSNN trên địa bàn tỉnh Hua Phăn CHDCND Lào.

=======0000=====

81

Kết luận chương 1
Chương 1 đã tập trung tổng hợp các vấn đề lý luận về chi NSNN; đã
làm rõ khá niệm, đặc điểm của chi NSNN, nội dụng, vai trò chi NSNN; đồng
thời đã cập nhật và phân tích được khái niệm, đặc điểm, các nhân tố ảnh
hưởng đến quản lý chi NSNN, nguyên tắc quản lý chi NSNN, tổ chức bộ
máy quản lý chi NSNN, nội dung quản lý chi NSNN gồm quản lý các khâu
của chu trình ngân sách: lập dự toán, chấp hành dự và quyết toán ngân sách,
nhằm tạo cơ sở lý luận cho việc gắn kết chi NSNN với các mục tiêu phát
triển kinh tế xã hội; đặc biệt chương 1 cũng đã phân tích các phương thức
quản lý chi NSNN gồm quản lý chi ngân sách theo kiểu hành chính, truyền
thống, quản lý chi ngân sách theo kết quả đầu ra và Quản lý chi ngân sách
theo đầu ra trong khuôn khổ chi tiêu trung hạn; kinh nghiệm quản lý chi
NSNN của một số nước trên thế giới và một số địa phương, trong đó, các
nghiên cứi về kinh nghiệm quản lý chi tiêu công của các nước thuộc tổ chúc
OECD, kinh nghiệm đổi mới quản lý chi NSNN theo kết quả đầu ra và
khuôn khổ chi tiêu trung hạn, kinh nghiệm của các bài học và tỉnh Bình
Dương nước CHXHCN Việt Nam; Từ đó rút ra các bài học đối với ở tỉnh
Hua Phăn CHDCND Lào.
Những luận giải lý ở chương 1 đã xác lập cơ sở lý luận cho việc đánh
giá thực trạng quản lý chi NSNN của tỉnh Hua Phăn; Trong chương 2 cũng
như xác định đúng hướng các nội dung và các giải pháp cần tiến hành để có
thể hoàn thiện quản lý chi NSNN trên địa bàn của Tỉnh Hua Phăn trong
chương 3 của luận án.

82

Chương 2
THỰC HIỆN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TỈNH HUA PHĂN CHDCND LÀO
2.1.TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA
TỈNH HUA PHĂN GIAI DOẠN 2005 - 2015
2.1.1..Tổng quan về tình hình kinh tế.
Trong bối cảnh quốc tế không thuận lợi, quá trình xây dựng phát
triển kinh tế ở tỉnh Hua Phăn đã đạt được những tựu quan trọng, tạo đà cho
tăng trưởng kinh tế giai đoạn sau, góp phần nâng cao đời sống nhân dân,
từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Trong giai đoạn 2005 - 2015 tỉnh Hua Phăn đã đạt được hầu hết các
mục tiêu phát triển kinh tế. Cụ thể.
- Nền kinh tế thị trường với sự đa dạng hóa sở hữu đã hình thành và
tạo ra những biến đổi chất lượng trong đời sống KT - XH.
Khu vực kinh tế Nhà nước thu hẹp và củng cố theo hướng nâng cao
hiệu quả và khẳng định vai trò chủ đạo trong các ngành, các lĩnh vực then
chốt. Kinh tế hợp tác địa phương trong quá trình đổi mới và tổ chức lại, kinh
tế hộ gia đình phát triển mạnh đóng góp một phần rất lớn vào thu nhập quốc
dân, còn kinh tế tư nhân đang phát triển theo hướng hình thành các công ty
sở hữu hỗn hợp. kinh tế tư bản Nhà nước đang trên đà phát triển mạnh mẽ,
đặc biệt là các công ty liên doanh với nước ngoài.
- Kinh tế liên tục tăng trưởng, cơ cấu chuyển dịch đúng định hướng;
kết cấu hạ tầng KT-XH được cải thiện; các công trình, dự án trong điểm
được tập trung đẩy nhanh tiến độ; thu hút đầu tư đạt kết quả cao.
- Tốc độ GDP tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm đạt 7,9%,giai
đoạn 2006 - 2010. 2011-2015 là 8,0%. bình quân đầu người đạt khoảng 6
triệu kíp, tăng 1,0 lần so với giai đoạn 2006 - 2010.

83