Tải bản đầy đủ
đến quản lý chi ngân sách nhà nước.

đến quản lý chi ngân sách nhà nước.

Tải bản đầy đủ

Quản lý chi NSNN là quá trình Nhà nước vận dụng các quy luật khách
quan sử dụng hệ thống các phương pháp, công cụ quản lý tác động đến các
hoạt động chi NSNN phục vụ tốt nhất việc thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ của Nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.
Đối tượng tác động của quản lý chi NSNN là toàn bộ các khoản chi
của NSNN được bố trí để phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ của Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.
Quản lý chi NSNN là sự liên kết hữu cơ giữa Nhà nước với tư cách là
chủ thể quản lý với khách thể quản lý là các đơn vị sử dụng NSNN và đối
tượng quản lý là các khoản chi NSNN.
Xét về phương diện cấu trúc, quản lý chi NSNN bao gồm hệ thống các
yếu tố sau:
Chủ thể quản lý: Nhà nước là người trực tiếp tổ chức, điều khiển quá
trình phân phối, sử dụng quỹ NSNN.
Mục tiêu quản lý:
Mục tiêu tổng quát: Thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh, bền vững và
ổn định.
Mục tiêu cụ thể: Quản lý chi NSNN về bản chất là cộng cụ tài chính
quan trọng của Nhà nước, quản lý chi NSNN phải tuân theo cả ba mục tiêu
chính sách kinh tế tổng thể, Bên cạnh những nhân tố khác, sự ổn định tài
chính đòi hỏi hình thức kỷ luật tài chính; sự tăng trưởng kinh tế và tính công
bằng phần nào được tuân thủ thông qua việc phân bộ khoản tiền công quỹ
cho các ngành khác nhau; Cả ba mục tiêu đều đòi hỏi việc sử dụng hợp lý và
hiệu quả các nguồn lực trên thực tế. Do đó cả ba mục tiêu của chính sách
tổng thể chuyên sang ba mục tiêu chính của quản lý chi NSNN hiệu quả:
nguyên tắc tài khóa ( kiểm soát chi tiêu), phân bổ nguồn lực phù hợp với các
ưu đãi chính sách (phân bổ“chiến lược”);và quản lý hoạt động hiệu quả.

35

Tiếp theo việc quản lý hoạt động hiệu quả đòi hỏi cả tính hiệu quả (tối thiểu
chi phí trên mỗi đơn vị đầu ra) và tính hợp lý(đạt được hiệu quả như dự tính)
Có những mối liên hệ giữa ba mục tiêu chính của quản lý chi NSNN,
chức năng chính tương ứng của những mục tiêu này và cấp bậc nhà nước mà
những mục tiêu này hầu hết là có hiệu quả. Nguyên tắc tài khóa yêu cầu hoạt
động kiểm soát tổng thể, phân bổ nguồn lực chiến lược. Nguyên tắc tài khóa
và quản lý hoạt động ở đây phụ thuộc vào cải tiến mang tính “ kỹ thuật” hơn
là việc phân bổ nguồn lực chiến lược.
Việc tập trung vào quản lý chi NSNN dựa trên mối liên quan trọng
giữa thu và chi. Bộ ba mục tiêu quản lý chi NSNN là (a) nguyên tắc tài khóa,
(b) phân bổ và huy động nguồn lực, (c) hiệu quả hoạt động có thể dễ dàng
được mở rộng thành bộ ba mục tiêu tài khóa. Trong đó: Nguyên tắc tài khóa
thực hiện chức năng kiểm soát chi tiêu, nguyên tắc tài khóa cũng do những
dự báo chính xác thu cũng như chi; Phân bổ và huy động nguồn lực thực
hiện chức năng lập kế hoạch chi tiêu, việc phân bổ chiến lược giồng như
trong thờ gian ưu đãi thuế trên các ngành khác nhau; và quản lý thuế rõ ràng
là khía cạnh thu quản lý hoạt động chi tiêu hiệu quả. Do vậy, hiệu quả hoạt
động thể hiện qua chức năng quản lý chi tiêu. Hiệu quả hoạt động được biết
đến dựa trên các chỉ số về kinh tế, hiệu suất, hiệu quả và đúng quy trình.
Trong thực tế, thứ nhất, ba mục tiêu có thể xung đột lẫn nhau trong gắn
hạn (và phải có đượ c những cân đối và đối chiều) nhưng rõ ràng những mục
tiêu này bổ sung cho nhau trong dài hạn. Ví dụ: nguyên tắc tài khóa trong
phân bổ nguồn lực không có kế hoạch và hoạt động không hiệu quả vốn đã
không ổn định. Thứ hai, toàn bộ kết quả ngân sách hiệu quả phải hình thành
từ những kết quả hoạt động hiệu quả tại từng cấp chính quyền. Ví dụ: trong
khi nguyên tắc tài khóa vế cơ bản phải được kê khai tại cấp tổng, thì lại xuất
hiện như tổng chi phí của hoạt động kiểm soát chi tiêu hiệu quả (và dự báo

36

thu đáng tin cậy) trong từng bộ và cơ quan chính quyền chứ không phải từ
trên xuống dưới.
Công cụ quản lý: Để thực hiện quản lý, Nhà nước cần phải sử dụng hệ
thống các công cụ, trong đó bao gồm các yếu tố: Các chính sách kinh tế - tài
chính, pháp chế kinh tế -tài chính, chương trình hóa các mục tiêu, dự án.
Cơ chế quản lý: Là phương thức mà qua đó Nhà nước sử dụng các công
cụ quản lý tác động vào quá trình phân phối và sử dụng các nguồn lực tài
chính để hướng vào đạt những mục tiêu đã định.
Nội dung quản lý chi NSNN: Bao gồm tất cả những thành phần của quy
trình ngân sách quốc gia, gồm: (i) Dự báo thu nhập và chi tiêu; ( được thiết
lập trong khuẩn khổ chi tiêu trung hạn; (ii) Gắn kết ngân sách với việc đưa ra
chính sách; (iii) Chuẩn bị ngân sách; (iv) Quản lý tiền mặt và kiểm soát chi
tiêu ngân sách; (v) Thực hiện kiểm ra bên trong và kiểm toán; (vi) kế toán và
báo cáo; (vii) Mau sắm hàng hóa công và tài sản; (viii) Đánh giá thực
hiện; (iv) Điều hành kiểm toán từ bên ngoài; (x) Đảm bảo sự giám sát của cơ
quan lập pháp và cơ quan khác.
1.2.1.2. Đặc điểm quản lý chi ngân sách nhà nước.
Chi NSNN được quản lý bằng pháp luật và theo dự toán. Bằng cách
này Nhà nược và các cơ quan chức năng đưa ra cơ chế quản lý, điều hành chi
NSNN đụng luật, đảm bảo hiệu quả và công khai, minh bạch.
Quản lý chi NSNN sử dụng tổng hợp các biện pháp, nhưng biên pháp
tối ưu nhất là biên pháp tổ chức hành chính. Đặc trưng của biên pháp này là
cưỡng chế đơn phương của chủ thể quản lý, thể hiện rõ nét trong cơ chế quản
lý chi NSNN ở Lào bởi NSNN Lào là ngân sách thống nhất từ cấp trung
ương đến địa phương, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyết hạn với
trách nhiệm. Biện pháp này tác động vào đối tượng quản lý theo hai hướng:
Một là, chủ thể ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định tính chất,
mục tiêu, quy mô, cơ cấu tổ chức điều kiện thành lập, mối quan hệ trong và

37

ngoài tổ chức…Hai là, chủ thể quản lý đưa ra các quyết định quản lý bắt
buộc cấp dưới và cơ quan thuộc phạm vi điều chỉnh phải thực hiện những
nhiệm vụ nhất định.
Hiệu quả của công tác quản lý chi NSNN khó đo được bằng các chỉ
tiêu định lượng. Nó không đồng nghĩa với hiệu quả chi NSNN. Nếu như hiệu
quả chi NSNN so sánh kết quả với số tiền mà nhà nước bỏ ra cho công việc
nào đó, thì hiệu quả công tác chi NSNN được thể hiện bằng việc so sánh
giữa kết quả công tác quản lý chi NSNN thu được với số chi phí mà nhà
nước đã chi cho công tác quản lý chi NSNN.
1.2.1.3. Ý nghĩa và vai trò của quản lý chi NSNN
Ngân sách là tầm gương tài chính của các lựa chọn kinh tế và xã hội.
Để thực hiện tốt vai trò mà nhân dân giao phó, bên cạnh những yếu tổ khác,
nhà nước cần: (i) lựa chọn hợp lý và đẩy đủ nguồn lực trong nền kinh tế, và
(ii) Phân bổ sử dụng những nguồn lực đó nhanh, có hiệu quả. Quản lý chi
ngân sách gắn liền với (ii), do đó quản lý chi NSNN chỉ là một công cụ
nhưng là một công cụ quan trọng trong chính sách của chính phủ.
Vấn đề thên chốt là xác định các chính sách ưu tiên cho người dân, bao
gồm trách nhiệm giải trình và giám sát của chính phủ đóng vai trò trung tâm
đối với các hoạt động quản lý và đặc biệt quan trong.
Quản lý chi NSNN về bản chất mang tính công cụ. Có điểm khác biệt
cơ bản giữa vấn đề chính sách chi tiêu “cải gì” và vấn đề quản lý chi tiêu
“như thế nào” Trong thực tế có ranh giới giữa chính sách và việc triển khai
dẫn đến những chính sách không thực tiễn, việc trển khai không có dự tính
và vấn đề thời gian đối với cả chính sách không hiệu quả và việc triển khai
kém. Tuy nhiên, điểm khác biệt giữa các thủ thục và quy trình quản lý chi
NSNN và mục tiêu mà chúng dự tính rất quan trọng. Những vấn đề khác như
cơ cấu, kỹ thuật, kỹ năng và dữ liệu cần thiết để có được quản lý chi NSNN
hiệu quả khác só với những gì cần thiết để thiết lập chính sách hiệu quả.

38

Tuy nhiên, bên cạnh đó, điều quan trọng là quản lý chi NSNN phải cụ
thể theo từng quốc gia. Những cách tiếp cận và những giải pháp đưa ra về
quản lý chi NSNN phải dựa trên thực tiễn kinh tế, xã hội, hành chính và năng
lực triển khai của quốc gia được đề cập đến. Giống như bất kỳ một lĩnh vực
nào khác chi NSNN phải hợp lý, (i) Về các khoản quyên góp mang tính địa
phương. Vì bất kỳ một cuộc cải cách quản lý chi NSNN nào được triển khai
rộng rãi đều phải được phân tích cẩn thận với sự hiểu biết bối cảnh địa
phương, từ đó mới có thể đưa ra được các quyết định phù hợp. Điều đặc biệt
quan trọng đối với phân tích tính ứng dụng là việc đánh giá cơ cấu tổ chức
của quốc gia đó và tính sẵn có của dữ liệu đáng tin cậy có liên quan và đầy
đử kỹ năng.
1.2.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chi NSNN
1.2.1.4.1. Các nhân tố khách quan
Ở mỗi vùng, mỗi lãnh thổ có điều kiện tự nhiên khác nhau, do vậy cần
phải có những thiết kế, kiến trúc phù hợp với điều kiện tư nhiên ở nơi đầu tư
vốn, đặc biệt là trong lĩnh vực xây dựng cơ bản. Chẳng hạn, ở địa phương có
nhiều sông, lại hay xảy ra lũ lụt thì các khoản chi NSNN sẽ tập trung vào xây
dựng đê, kè, và tu sửa đê, khi xây dựng công trình phải tránh mùa mưa, bão
và có những biện pháp hữu hiệu để tránh thiệt hai xảy ra nhằm đảm bảo chất
lượng công trình; hoặc địa phương có địa hình chủ yếu là đồi núi, dốc thì chú
ý đầu tư cho giao thông thuận lợi để có thể phát triển kinh tế và phát triển
các ngành nghề phù hợp với điều kiện địa hình đó. Vì vậy, quản lý chi
NSNN trong đầu tư xây dựng cơ bản chịu ảnh hưởng nhiều từ các điều kiện
tự nhiên ở địa phương.
- Điều kiện kinh tế - xã hội
Quản lý chi NSNN trên địa bàn địa phương đều chịu ảnh hưởng
bởi điều kiện kinh tế - xã hội. Với môi trường kinh tế ổn định, vốn đầu tư sẽ
được cung cấp đẩy đủ, đúng tiến độ. Ngược lại nền kinh tế mất ổn định, mức

39

tăng trưởng kinh tế chậm Nhà nước sẽ thắt chặt tính dụng để kìm chế làm
phát, các dự án sẽ bị điều chỉnh cơ cấu vốn đầu tư, chi NSNN giảm. Lạm
phát cũng làm cho giá cả nguyên vật liệu tăng, làm chi phí công trình tăng
điều này có thể hoãn thực hiện dự án vì không đủ vốn đầu tư để thực hiện.
Vì vậy, có thể nói các yếu tố về kinh tế - xã hội có ảnh hưởng không nhỏ đến
quản lý chi NSNN trên đi bàn địa phương.
- Cơ chế chính sách và các quy định của nhà nước về quản lý chi NSNN.
Trong kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, pháp luật đã trở
thành một bộ phận không thể thiếu trong việc quản lý Nhà nước nói chung
và quản lý chi NSNN nói riêng. Hệ thống pháp luật với vai trò hướng dẫn và
tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế trong xã hội hoạt động theo trật tự,
trong khuân khổ pháp luật đảm bảo sự công bằng, an toàn và hiệu quả đòi
hỏi phải rất đầy đủ, chuẩn tắc và đồng bộ. Vì vậy, hệ thống pháp luật, các
chính sách liên quan đến quản lý chi NSNN sẽ có tác dụng kiềm hãm hay
thúc đẩy hoạt động quản lý hiệu quả hay không hiệu quả chi NSNN ở địa
phương.
Môi trường pháp lý là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn quản lý chi
NSNN ở địa phương. Chảng hạn, định mức chi tiêu của Nhà nước là một
trong những căn cứ quan trọng để xây dựng dự toán, phân bộ dự toán và
kiểm soát chi NSNN, cũng là một trong những chỉ tiêu để đánh giá chất
lượng quản lý và điều hành NSNN của các cấp chính quyền địa phương.
Việc ban hành các định mức chi một cách khoa học, cụ thể, kịp thời sẽ góp
phần không nhỏ trong việc quản lý chi tiêu NSNN được chặt chẽ hơn, hiệu
quả hơn. Hay như, sự phân định trách nhiệm, quyết hạn của các cơ quan, các
cấp chính quyền trong việc quản lý NSNN cũng ảnh hưởng không nhỏ đến
chất lượng công tác quản lý chi NSNN. Chỉ trên cơ sở phân công trác nhiệm,
quyền hạn rõ ràng của từng cơ quan, địa phương sẽ tạo điều kiện cho công
tác quản lý chi NSNN đạt hiệu quả, không lãng phí công sức, tiền của. Sự

40

phân định trách nhiệm, quyền hạn phải được tôn trọng và thể chế hóa thành
Luật để các cơ quan cũng như từng cá nhân có liên quan biết được phạm vi
trách nhiệm và quyết hạn của mình trong thực hiện nhiệm vụ, qua đó công
việc được tiến hành trôi chảy, dựa trên nguyên tắc rõ ràng, minh bạch không
đùn đẩy trách nhiệm, và trách nhiệm giải trình rõ ràng sẽ góp phần nâng cao
chất lượng quản lý chi NSNN.
- Khả năng về nguồn lực tài chính công
Dự toán về chi NSNN được lập luôn luôn dựa và tính toán có khoa học
của nguồn lực tài chính công huy động được, tức là căn cứ vào thực tiễn thu
ngân sách và các khoản thu khác các năm trước và dự báo tăng thu trong
năm nay mà đề ra kế hoạch huy động nguồn thu, Vì vậy, chi NSNN không
được vượt quá nguồn thu huy động được, đồng thời cũng căn cứ vào nhiệm
vụ phát triển KT-XH ở địa phương để lập dự toán chi NSNN hàng năm. Đối
với các địa phương có nguồn thu lớn thì không phụ thuộc vào NSTW cấp thì
chủ động hơn trong việc lập dự toán chi tiêu và quản lý chi NSNN.
1.2.1.4.2. Các nhân tố chủ quan
Nhòm nhân tố chủ qua bao gồm: Năng lực quản lý của người lãnh đạo
và trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ trong bộ máy quản lý chi NSNN,
tổ chức bộ máy quản lý chi NSNN cũng như quy trình nghiệp vụ, công
nghiệp quản lý chi NSNN.
- Năng lực quản lý của người lãnh đạo và trình độ chuyên môn của đội
ngũ các bộ trong bộ máy quản lý chi NSNN.
Năng lực quản lý của người lãnh đạo bộ máy chi NSNN, bao gồm các
nội dung sau: năng lực đề ra chiến được trong hoạt động ngân sách; đưa ra
được các kế hoạch triển khai các công việc hợp lý, rõ ràng; tạo nên một cơ
cấu tổ chức hợp lý, có hiệu quả, có sự phân định rõ ràng trách nhiệm và
quyết hạn giữa các nhân viên, cuang như giữa các khâu, các bộ phận của bộ
máy quản lý chi NSNN ở địa phương. Nếu năng lực của người lãnh đạo yếu,

41

bọ máy tổ chức không hợp lý, các chiến lược không phù hợp với thực tế thì
việc quản lý chi tiêu nguồn lực tài chính công sẽ không hiệu quả, dễ gây tình
trạng chi vượt quá thu, chi đầu tư giàn trải, phân bộ chi thường xuyên không
hơp lý có thể dãn đến tình trạng thất thoát, lãng phí ngân sách, không thúc
đẩy được sự phát triển của nền kinh tế, đảm bảo các vấn đề xã hội…
Ngoài ra, đối với người lãnh đạo cũng cần tránh bệnh chạy theo thành
tích, bệnh cục bộ địa phương, bệnh quan liêu mệnh lệch, coi thường pháp
luật, xem trình tự thủ tục là thứ gò bó quyền lực của mình. Đây cũng có thể
được coi là một trong những yếu tố làm giảm hiệu quả, thậm chí còn gây
những hậu quả như thất thoát, lãng phí, tham nhũng,… trong công tác quản
lý chi NSNN trên địa bàn địa phương.
Năng lực chuyên môn của các bộ phận quản lý các khoản chi NSNN ở
địa phương lại là yếu tố quyết định hiệu quả chi NSNN . Nếu cán bộ quản lý
có năng lực chuyên môn cao sẽ giảm thiểu được sai lệch trong cấp thông tin
của đối tượng sử dụng nguồn lực tài chính công, kiểm soát được toàn bộ nội
dung chi, nguyên tắc chi và tuân thủ theo các quy định về quản lý nguồn tài
chính công đảm bảo theo dụ toán đã đề ra.
Bên cạnh năng lực chuyên môn thì đối với cán bộ công chức cuung
cần phải tránh bệnh xu ninh, chiều ý cấp trên, là thói quen xin cho, hạch,
thiếu ý thức chịu trách nhiệm cá nhân. Thậm chí là sa sút về phẩm chất đâọ
đức như đòi hồi lộ, đưa đút lót, thồng đồng, móc ngoặc, gian lận… đây là
những nhân tố ảnh hương không tốt tới quá trình quản lý chi NSNN, gây
giảm hiệu sử dụng nguồn lực tài chính công nghiêm trọng.
- Tổ chức bộ máy quản lý chi NSNN
Tổ chức bộ máy quản lý chi NSNN trên địa phương và việc dụng quy
trình nghiệm vụ quản lý vào thực tiễn địa phương: hoạt động quản lý chi
NSNN được triển khai có thuận lợi và hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn
vào tổ chức bộ máy quản lý chi NSNN và quy trình nghiệp vụ, trong đó đặc

42

biệt là quy trình nghiệp vụ quản lý. Tổ chức bộ máy và quy trình quản lý,
quyết hạn trách nhiệm của từng khâu, từng bộ phận, mối quan hệ của từng
bộ phận trong quá trình thực hiện tư lập, chấp hành, quyết toán và kiểm toán
chi NSNN có tác động rất lớn đến quản lý chi NSNN. Tổ chức bộ máy quản
lý phù hợp sẽ nâng cao chất lượng quản lý, hạn chế tình trạng sai phạm trong
quản lý. Quy trình quản lý được bố trí càng khoa học, ró ràng thì càng góp
phần quản trọng làm nâng cao chất lượng của thông tin tới cấp ra quyết định
quản lý chi NSNN, giảm các yếu tố sai lệch thông tin. Từ đó nâng cao được
hiệu quả quản lý chi NSNN trên địa phương.
- Công nghệ quản lý chi NSNN trên địa bàn địa phương.
Việc ứng dụng công nghệ tin học vào trong cuộc sống ngày nay đã và
đang thực sự chứng tỏ vai trò không thể thiếu được của nó. Thực tế đã chứng
minh với việc ứng dụng công nghệ tin học vào trong công tác quản lý chi
NSNN ở đia phương sẽ giúp tiết kiệm được thời gian xử lý công việc, đảm
bảo được tính chính xác, nhanh chóng và thống nhất về mặt dũ liệu, tạo tiền
đề cho những quy trình cải cách về mặt nghiệm vụ một cách hiệu quả. Chính
vì lẽ đó mà công nghệ tin học là một trong những nhân tố ảnh hưởng không
nhỏ đến hiệu quả quản lý chi NSNN hiện đại trên địa bàn địa phương.
1.2.2. Nguyên tắc quản lý chi ngân sách nhà nước
Trong bất kỳ thời đại nào, chi NSNN đều phải tuân thủ những quy tắc
nhất định, những yếu cầu đó càng trờ thành bắt buộc bởi tính đa dạng, phong
phú cũng như mục tiêu hiệu quả là những đặc trưng cơ bản đối với nền kinh
tế thị trường.
Thứ nhất, tập trung thống nhất.
Tính thống nhất thể hiện ơ tính chấp pháp lý của kế hoạch tài chính,
ngân sách, Trường thì cơ quan dân cử ( Quốc hội, HĐND địa phương) phê
chuẩn kế hoạch tài chính, ngân sách. Cơ chế này đảm bảo rằng các chính
sách công, các mục tiêu, ưu tiên của Nhà nước phải xuất phát từ lợi ích
43

chung của các cộng đồng. Cơ chế phê chuẩn này có nghĩa là kế hoạc tài
chính, ngân sách có tính tập chung cao.
Thứ hai, đẩy đủ, toàn vẹn và tính kỷ luật tài chính tổng thể.
Mọi khoản thu - chi của Nhà nược đều được phán ánh đẩy đủ vào
NSNN và phải có ràng buộc cứng về ngân sách. Nguyên tắc kỷ luật ở đây
cũng hàm ý rằng việc hấp thụ nguồn lực của khu vực công chỉ giới hạn ở
phạm vi cần thiết để thực hiện các chính sách của Chính phủ. Nguyên tắc
này không chỉ là cơ sở để các mục tiêu, ưu tiên KT-XH được thực hiện hợp
lý nhất (được phân bổ nguồn lực trên cơ sở đánh đổi các nhu cầu chi), giới
hạn hoạt động của khu vực công (chỉ trong phạm vi nguồn lực nhất định), mà
còn là nền tảng để trách nhiệm giải trình và hoạt động giám sát được thực
hiện, sự lành mạnh, bền vững của tài chính công được thiết lập và duy trì.
Trong bối cảnh như vậy, các hoạt động thu - chi của Chính phủ nằm ngoài
phạm vi kế hoạch tài chính, ngân sách là bất hợp pháp. Chúng không chỉ làm
giảm hiệu quả của phân bổ nguồn lực (không được đánh giá, so sánh với
toàn bộ các ưu tiên chi khác), dẫn đến những mất cân đối trong cơ cấu chi
(không liên kết với các hoạt động thu - chi khác trong kế hoạch tài chính,
ngân sách của Chính phủ), mà còn có tác động tiêu cực đáng kể tới tính minh
bạch và trách nhiệm giải trình.
Thứ ba, mọi khoản chi NSNN để phải được kiểm tra, kiểm soát trên cơ
sở chế độ, tiêu chuản, định mức Nhà nước.
Tất cả các khoản chi NSNN phải được kiểm tra, kiểm soát trong trong
quá trình chi trả, thành toán. Các khoản chi phải có trong dự toán ngân sách
nhà nước được giao, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm
quyền quy định và đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người
được ủy quyền quyết định chi.
Thứ tư, tính minh bạch, công khai trong cả quy trình từ khân lập, tổ
chức thực hiện, quyết toán, báo cáo và kiểm toán.

44

Nguồn kinh phí phục vụ cho chi NSNN chủ yếu từ nguồn thuế, phí do
dân đóng góp nên phải đảm bảo rõ ràng, công khai để các tổ chức, cá nhân
giám sát và tham gia. Kế hoạc tài chính ngân sách bản thân nó phải xây dựng
trên cơ sở thông tin. Nó phải chứa đựng đầy đủ các thông tin cơ bản để thực
hiện có hiệu quả việc thảo luận, phê chuẩn. Ki được phê chuẩn, kế hoạc tài
chính ngân sách trở thành nguồn thông tin truyền tải toàn bộ mục tiêu, quan
điểm của chính phủ và là căn cứ để cơ quan hành pháp tham gia kiểm tra
giám sát thực hiện. Các quyết định ban hành phải có căn cứ, có cơ sở, chi
phí, lợi ích gắn liền với quyết định phải rõ ràng, dễ tiếp cận. Như vậy, thực
hiện nguyên tắc này vừa nâng cao trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có
liên quan đến ngân sách, vừa đảm bảo sử đụng ngân sách có nhiệu quả, vừa
giúp cho phát hiện chỉnh sửa để thông tin về ngân sách sát đúng thực tiễn.
Thứ năm, đảm bảo cân đối, ổn định tài chính, ngân sách.
Kế hoạch tài chình, ngân sách nói riêng và công tác kế hoạc nói chung
đều phải mang tính cân đối và ổn định. Tuân thủ nguyên tắc này để thực hiện
có hiệu quả chức năng, sứ mệnh của nhà nước trong việc duy trì trật tự xã
hội và khắc phục những thất bại của nền kinh tế thị trường.
Thứ sáu, chi NSNN phải gắn chặt với chính sách kinh tế, gắn với mục
tiêu phát triển kinh tế trung và dài hạn.
Chi ngân sách phải dựa trên nguồn thu có được, nhưng nguồn thu lại
được hình thành chủ yếu từ hoạt động kinh tế và gắn với chính sách kinh tế,
gắn với mục tiêu vĩ mô. Mặc khác trong bất kể nền kinh tế nào và đặc biệt là
kinh tế thị trường, trách nhiệm của Nhà nước là phải tập trung giải quyết vấn
đề về phát triển kinh tế xã hội, giáo dục, ý tế, xóa đói giảm nghèo, trợ cấp xã
hội, bảo vệ môi trường, phòng chồng dịch bệnh, khắc phục chênh lệch giữa
các vùng miền…NSNN chính lá công cụ để Nhà nước thực hiện trách nhiệm
xã hội tó lớn đó. Điều đó thể hiện chỉ có gắn chi ngân sách với chính sách
kinh tế thường niên, mục tiêu kinh tế trung và dài hạn thì mới tạo được sự

45