Tải bản đầy đủ
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Tải bản đầy đủ

trong một thời gian nhất định với hình thái biểu hiện là quỹ tiền tệ tập trung
của nhà nước, nhà nước sử dụng quỹ tập trung đó để trang trải cho các khoản
chi tiêu của mình.
Luật Ngân sách Nhà nước của Lào đã được sửa đổi số 02/QH; Quốc
hội Lào ban hành ngày 26/12/2006 định nghĩa: Ngân sách Nhà nước toàn bộ
các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã đước cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực
hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước.
Qua nghên cứu, tác giả hoàn toàn đồng ý với các khái niệm về ngân
sách nhà nước mà Luật ngân sách nhà nước đã quy định ở trên.
1.1.1.2. Đặc điểm của ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước là bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc
gia. Ngân sách nhà nước có một số đặc điểm sau:
 Hoạt động thu, chi của ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với quyền
lực kinh tế - chính trị của nhà nước. Cụ thể hơn, quyền lực của Nhà nước và
các chức năng của nó là những nhân tố quyết định mức thu, mức chi, nội
dung và cơ cấu thu chi của NSNN;
 Hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối lại các nguồn
Tài chính, nó thể hiện ở hai lĩnh vực thu và chi của nhà nước; Các hoạt động
thu, chi NSNN đều được tiến hành dựa trên cơ sở những luật lệ. Vì dụ như
Luật thuế, các chế độ chi tiêu, tiêu chuẩn định mức chi tiêu. do Nhà nước
ban hành.
 Nguồn tài chính chủ yếu hình thành nên NSNN được hình thành
chủ yếu thông qua quá trình phân phối lại nguồn tài chính mà trong đó thuế
là hình thức thu phổ biến;
 Ẩn sau các hoạt động thu chi của NSNN là các mối quan hệ kinh
tế, quan hệ lời ích trong xã hội khi nhà nước tham gia phân phối các nguồn
tài chính quốc gia.

24

1.1.2. Chi ngân sách nhà nước
1.1.2.1.khái niệm, đặc điểm chi ngân sách nhà nước
+ Khái niệm
Chi NSNN là một phạm trù kinh tế tồn tại khách quan gắn liền với sự
tồn tại của Nhà nước. Chi NSNN là việc nhà nước phân phối và sử dụng quỹ
NSNN nhằm bảo đảm điều kiện vật chất để duy trì sự hoạt động và thực hiện
các chức năng đáp ứng nhu cầu đời sống kinh tế xã hội dựa trên các nguyên
tắc nhất định.
Phạm vi chi NSNN rất rộng, bao trùm mọi lĩnh vực đời sống, liên
quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến mọi đối tượng. Từ khái niệm chi NSNN có
thể thấy:
-

Quyền quyết định chi NSNN do Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ

hay cơ quan công quyền được ủy quyền) quyết định.
- Chi NSNN không mang tính lợi nhuận, chủ trọng đến lợi ích
cộng đồng, lợi ích KT - XH.
- Sự quản lý chi NSNN phải tôn trọng nguyên tắc công khai và
Minh bạch và có sự tham gia của công chúng.
+ Đặc điểm của chi NSNN
- Đặc điểm nổi bật của chi NSNN là nhằm phục vụ cho lợi ích
Chung của cộng đồng dân cư ở các vùng hay ở phạm vi quốc gia. Điều này
xuất phát từ chức năng quản lý toàn diện nền KT - XH của Nhà nước và
cũng chính trong quá trình thực hiện chức năng đó Nhà nước đã cung cấp
một lượng hàng hóa công cộng khổng lồ cho nền kinh tế.
- Chi NSNN luôn gắn liền với bộ máy Nhà nước và những nhiệm
vụ kinh tế chính trị, xã hội mà Nhà nước thực hiện. Các khoản chi NSNN do
chính quyền Nhà nước các cấp đảm nhận theo nội dung đã đước quy định
trong phân cấp quản lý NSNN và các khoản chi tiêu này nhằm đảm bảo cho
các cấp chính quyền thực hiện chức năng quản lý, phát triển KT-XH. Song
25

song đó, các cấp của cơ quan quyền lực Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết
định cơ cấu, nội dung, mức độ của các khoản chi NSNN nhằm thực hiện các
mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế, chính trị xã hội của quốc gia.
- Chi NSNN cung cấp các khoản hàng hóa công cộng như đầu xây
dụng cơ sở hạ tầng, quốc phòng, an ninh bảo vệ trật tự xã hội,… đồng thời
đó cũng là những khoản chi cần thiết, phát sinh tương đối ổn định như: chi
lương cho viên chức bộ máy Nhà nước, chi hàng hóa dịch vụ công đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng công cộng của các tầng lớp dân cư…
- Các khoản chi NSNN mang tính không hoàn trả hay hoàn trả
Không trực tiếp. Điều này thể hiện ở chỗ không phải mọi khoản thu với mức
độ và số lượng của những địa chỉ cụ thể điều được hoàn lại dưới các hình
thức các khoản chi NSNN điều này được quyết định bởi những chức năng
tổng hợp về KT-XH của Nhà nước.
Tóm lại, chi NSNN thực hiện vai trò của nhà nước, là công cụ để nhà
nước điều hành nền kinh tế theo mục đích của mình, góp phần thúc đẩy kinh
tế, giải quyết những vấn đề xã hội và khắc phục các khiếm khuyết của thị
trường.
1.1.2.2.

Nội dung chi NSNN

Quản lý chi NSNN bao gồm các nội dung cơ bản sau:
-

Quản ly dự toán chi ngân sách.
Quản lý việc cấp hành, thực hiện dự toán chi ngân sách.
Quản lý quayeest toán chi ngân sách.
Quản lý việc công khai, minh bạch cũng như trách nhiệm giải trình

của các cơ quan cấp phát, sử dụng ngân sách.
Trong quản lý chi ngân sách, phải đảm bảo được các nội dung cơ
bản như vấn đề kỷ luật tài khóa; vấn đề kết nối giữa kế hoạch, chích sách và
ngân sách; vấn đề điều tiết hoạt động; vấn đề hệ thống thông tin quản lý tài
chính; vấn đề giám sát đảm bảo tính tuân thủ và tính hiệu quả của chi ngân
sách.

26

Chi NSNN diễn ra trên phạm vi rộng, dưới nhiều hình thức. Trong
quản lý tài chính, chi NSNN được chia làm hai nội dung chi lớn: chi thường
xuyên và chi đầu tư phát triển.
1.1.2.2.1. Chi thường xuyên
Chi thường xuyên là quán trình phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà
nước để đáp ứng nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ
thường xuyên của Nhà nước về quản lý KT-XH. Cùng với quá trình phát
triển KT-XH các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước ngày càng gia tăng,
do đó đã làm phong phú nội dung chi thường xuyên của NSNN.
Chi thường xuyên là những khoản chi mang những đặc trưng cơ bản:
- Chi thường xuyên mang tính ổn định
Xuất phát từ sự tồn tại của bộ máy Nhà nước, từ việc thực hiện
Các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, đòi hỏi phải có nguồn lực tài chính
ổn định duy trì cho sự hoạt động của bộ máy Nhà nước. Tính ổn định của chi
thường xuyên còn bắt nguồn từ ổn tính định trong hoạt động cụ thể của mỗi
bộ phận thuộc bộ máy Nhà nược.
- Là các khoản chi mang tính chất tiêu dùng xã hội
Các khoản chi thường xuyên chủ yếu nhằm trang trải cho các nhu
cầu về quản lý hành chính Nhà nước, về quốc phòng, an ninh, về các hoạt
động xã hội các do Nhà nước tổ chức. Các khoản chi thường xuyên gắn với
tiêu dùng của Nhà nước và xã hội mà kết quả của chúng là tạo ra các hàng
hóa và dịch vụ công cho hoạt động của Nhà nước và yêu cầu phát triển của
xã hội.
- Phạm vi, mức hi thường xuyên gắn chặt với cơ cấu tố chức của bộ
Máy Nhà nước và sự lựa chọn của Nhà nước trong việc cung ứng các hàng
hóa công cộng.
Các khoản chi thường xuyên hướng vào việc đảm bảo sự hoạt động
bình thường của bộ máy Nhà nước, do đó nếu bộ máy Nhà nước gọn nhẹ,

27

hoạt động có hiệu quả thì số chi thường xuyên giảm. Hoặc những quyết định
của Nhà nước trong việc lựa chọn phạm vi và mức độ cung ứng các hàng hóa
công cộng cũng sẽ ảnh hướng trực tiếp đến phạm vi và mức độ chi thường
xuyên.
- Chi quản lý hành chính Nhà nước: Với chức năng quản lý toàn
diện nền KT-XH, nên bộ máy hành chính Nhà nước được thiết lập từ Trung
ương đến địa phương và toàn bộ các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế quốc
dân. Chi quản lý hành chính Nhà nước nhằm đảm bảo sự hoạt động của hệ
thống các cơ quan hành chính Nhà nước. Theo nghĩa rộng, các khoản chi này
bao quát 5 lĩnh vực cơ bản:
+ Chi về hoạt động của các cơ quan quyền lực Nhà nước.
+ Chi về hoạt động của hệ thống cơ quan pháp luật.
+ Chi về hoạt động quản lý vĩ mô nền KT-XH cho hệ thống các cơ
quan quản lý KT-XH và chính quyền các cấp.
+ Chi về hoạt động của các cơ quan Đảng công sản Lào ở các cấp.
+ Chi về hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội.
- Chi quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội: Chi quốc
phòng, an ninh được tính vào khoản chi thường xuyên đặc biệt quan trọng, vì
đây là lĩnh vực mà hoạt động của nó đảm bảo sự tồn tại của Nhà nước, ổn
định trật tự xã hội và sự toàn vẹn lãnh thổ. Khoản chi này được chia làm 2 bộ
phận cơ bản:
+ Các khoản chi cho quốc phòng để phòng thủ và bảo vệ Nhà nước,
chống lại sự xâm lược và đe dọa của nước ngoài.
+ Các khoản chi nhằm bảo vệ, giữ gìn chế độ xã hội, an ninh của dân
cư trong nước.
- Chi sự nghiệp văn hóa xã hội: Là các khoản chi mang tính chất
Tiêu dùng xã hội, liên quan đến sự phát triển đời sống tình thần của các tầng
lớp dân cư. Chi văn hóa xã hội gắn liền với quá trình đầu tư phát triển nhân

28

tố con người. Chi văn hóa xã hội bao gồm các khoản ch icho các hoạt động
sự nghiệp: sự nghiệp khoa học công nghệ, sự nghiệp giáo dục đào tạo, y tế,
văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao, thông tấn, bảo chí, phát thanh, truyền
hình và các hoạt động khác…
- Chi sự nghiệp kinh tế của Nhà nước: Việc thành lập các đơn vị
sự nghiệp kinh tế để phục vụ cho hoạt động của mỗi ngành và phục vụ chung
cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân là hết sức cần thiết. Các hoạt động sự
nghiệp do Nhà nước thực hiện để tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động
của các thành phần kinh tế. Khoản chi này nhiều lúc Nhà nước không hướng
tới nguồn thu và lợi nhuận.
- Chi khác: Ngoài các khoản chi thường xuyên lớn thuộc 4 lĩnh vực
Trên còn có các khoản chi khác cũng xếp vào cơ cấu chi thường xuyên như:
Chi trợ giá theo chính sách của Nhà nước, chi trả tiền lãi do Chính phủ vay,
chi hỗ trợ quỹ bảo hiệm xã hội,…
1.1.2.2.2. Chi đầu tư phát triển
Trong cơ chế thị trường, với chức năng quản lý kinh tế, Nhà nước sử
dụng công cụ NSNN để phân phối các nguồn lực tài chính cho sự phát triển
của lĩnh vực sản xuất kinh doanh và các ngành kinh tế quốc dân. Chi đầu tư
phát triển được thực hiện chủ yếu từ ngân sách trung ương và một bộ phận
ngân sách địa phương. Đầu tư phát triển là hình thức đầu tư có liên quan đến
sự tăng trưởng quy mô vốn đầu tư của Nhà nước và quy mô vốn trên toàn xã
hội. Mục tiêu của đầu tư phát triển là đầu tư vào khu vực sản xuất, đầu tư
vào cơ sở kinh tế hạ tầng KT-XH, làm thay đổi cơ cấu KT-XH của đất nước.
Kết quả của các khoản chi đầu tư phát triển là tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật
của nền kinh tế, làm tăng cơ sở hạ tầng KT-XH, tạo ra của cải vật chất và
thúc đẩy tăng cường kinh tế.
Như vậy, có thể hiểu: Chi đầu tư phát triển là quá trình Nhà nước sử
dụng một phần vốn tiền tệ đã được tạo lập thông qua hoạt động thu của

29

NSNN để đầu tư xây dựng hạ tầng KT-XH, phát triển sản xuất và để dự trữ
vật tư hàng hóa, nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu ổn định và tăng
cường của nền kinh tế.
Xét theo mục đích, chi đầu tư phát triển bao gồm:
- Chi xây dựng các công trình thuộc kết cấu hạ tầng KT-TX không
Có khá năng hoàn vốn: là khoản chi lớn của Nhà nước nhằm phát triển kết
cấu hạ tầng đảm bảo các điều kiện cần thiết cho nhiệm vụ phát triển KT-XH.
Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng là khoản chi đầu tư xây dựng các công trình
giao thông, bưu chính viễn thông, điện lực, năng lượng, các ngành công
nghiệp cơ bản, các công trình trọng điểm phát triển văn hóa xã hội,…
- Đầu tư, hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước, góp vốn cổ
phần, góp vốn liên donh vào các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết
có sự tham gia của Nhà nước: Là những khoản chi của NSNN để đầu tư hỗ
trợ cho sản xuất dưới các hình thức:
+ Đầu tư hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp để xây dựng mới, cải tạo, mở
rộng cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị…cho các doanh nghiệp Nhà nước.
+ Góp vốn cổ phần hoặc liên doanh.
Với mục đích phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, thông
qua các khoản chi này Nhà nước can thiếp vào nền kinh tế bằng việc nằm
những ngành quan trong, chủ yếu, quy mô hơn để dẫn dắt nền kinh tế của đất
nước, đảm bảo vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước. Nhà nước
đầu tư vào những ngành quan trọng có ảnh hướng đến sự tăng trưởng ổn
định cảu nền kinh tế, an ninh quốc phòng và các khoản doanh nghiệp có tính
chất công ích.
- Chi hỗ trợ các quỹ hỗ trợ phát triển: Đây là khoản chi của NSNN
góp phần tạo lập quỹ hỗ trợ phát triển để thực hiện việc hỗ trợ vốn cho các
dự án đầu tư phát triển thuộc các ngành nghề ưu đãi và các vùng khó khăn
theo quy định của Chính phủ, nhằm phát triển sản xuất, đảm bảo cân đối

30

giữa các ngành, các vùng trong cả nước. Khoản chi này hình thành vốn điều
lệ của quỹ và có thể chi để bổ sung vốn hàng năm khi cần thiết. Thông qua
hoạt động của quỹ hỗ trợ phát triển góp phần từng bước chuyển dần hình
thức cấp phát sang hình thức tín dụng đầu tư ưu đãi nhằm nâng caotrasch
nhiệm của người sử dụng vốn và hiệu quả sử dụng vốn.
- Chi dự trữ Nhà nước: Đó là khoản chi hình thành nên quỹ dự trữ
Nhà nước nhằm mục đích dự trữ những vật tư, thiết bị, hàng hóa chiến lược
phòng khi nền kinh tế gặp những biến cố bất ngờ về thiên tai, địch họa…
đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định.
Từ những nội dung chi đầu tư phát triển nêu trên, có thể thấy rầng chi
đầu tư phát triển từ NSNN Ở Lào có những đặc trưng cơ bản sau:
- Chi đầu tư phát triển là những khoản chi lớn và không ngừng tăng
lên: Là khoản chi đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển KT-XH của quốc gia,
thông qua đầu tư phát triển mới tạo ra được những tài sản cố định, năng lực
sản xuất mới cho nền kinh tế quốc dân, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát
triển và tăng trưởng. Song lượng vốn đầu tư không ổn định hàng năm vì nhu
cầu và mức độ đầu tư hàng năm phụ thuộc và chịu sự quyết định bở kế hoạch
phát triển KT-XH của Nhà nước, phụ thuộc vào số dự án và mức độ đầu tư
cho các dự án trong năm, phụ thuộc vào khả năng nguồn vốn của NSNN.
Trong xu hướng phát triển, đặc biệt là thời kỳ thực hiện công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước khoản ch ocho đầu tư phát triển không ngừng gia tăng.
- Chi đầu tư phát triển là khoản chi mang tính chất tích lũy: Trong
từng niên độ ngân sách, khoản chi đầu tư phát triển đều gắn với việc tạo ra
của cải vật chất xa hội. Thành quả của nó làm cơ sở tạo điều kiện cho nền
kinh tế phát triển ổn định và tăng trưởng, tăng tích lũy cho NSNN.
- Phạm vi và mức độ chi đầu tư phát triển gắn chặt với việc thực
hiện mục tiêu, yêu cầu phát triển KT-XH của đất nước trong từng thời kỳ và
sự lựa chọn phương pháp cấp phát của Nhà nước: Chi đầu tư phát triển phải

31

đảm bảo các điều kiện cơ sở vật chất cho việc thực hiện các mục tiêu, yêu
cầu phát triển KT-XH của đất nước. phạm vi và mức độ chi đầu tư phát triển
phụ thuộc vào việc lựa chọn phương thức cung cấp vốn đầu tư của Nhà
nước. Trong cơ sở kinh tế thị trường ngoài vốn đầu tư từ NSNN, sự hỗ trợ
của vốn đầu tư từ các quỹ hỗ trợ phát triển Nhà nước còn thực hiện các chính
sách xã hội hóa trong chi đầu tư để từ đó làm tăng tổng mức vốn đầu tư phát
triển cho toàn xã hội.
1.1.2.3. Vai trò của chi NSNN trong nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của nhà nước được biểu hiện rõ
nét qua tính chất chi NSNN. Cho đến hiện tại, qua một chiều dài lịch sử gần
30 năm, các nền kinh tế thị trường hiện đại đều khẳng định chi NSN không
chỉ cung cấp tài chính cho bộ máy nhà nước hoạt động và thực hiện các chức
năng cai trị của mình. Chi NSNN còn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong
việc phát triển cân đối giữa các vừng, lãnh thổ, ngành kinh tế, điều tiết thị
thường, xóa đói giảm nghèo, cung ứng những hàng hóa công mà ở đó chính
khu vực kinh tế tư nhân bị thất bại; hay cách khác, kinh tế thị trường đã hình
thành rõ ràng quy luật là hàng hóa công và sự cung ứng của nó là thuộc về
trách nhiệm tối cao mà Chính phủ phải đầu tư thỏa đáng. Đối với những nền
kinh tế đang chuyển đổi, Chính phủ phải tiến hành đẩy mạnh chsnh sách thị
trường hóa các quan hệ tài chính của chi NSNN, một mặt là nhằm cải thiện
tính minh bạch, rõ ràng về quản lý tài chính và điều chỉnh lại chức năng quản
lý sao cho phù hợp với cơ chế thị trường; mặt khác, là để tối ưu hóa sự phân
bổ chi NSNN trong sự gắn kết với khuân khổ giới hạn về nguồn lực tài
chính.
Trong nền kinh tế thị trường chi NSNN có các vai trò cơ bản sau:
- Chi NSNN ngày càng có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy
tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

32

Vai trò này được thể hiện rõ nét thông qua các khoản ch icho đầu tư
xây dựng cơ sở hạ tầng, như: đường xá, sân bay,điện, kênh đập tưới tiêu
nước, viễn thông, nước sạch, bảo vệ môi trường, bệnh viện, trường học…
Chất lượng của hàng hóa công này giúp cho người ta hiểu được tại sao quốc
gia này thành công trong phát triển kinh tế, quốc gia khác lại thất lại trong
việc tạo ra nhiều nguồn vốn và đa dạng hóa sản xuất, phát triển mậu dịch,
khống chế dân số, đẩy lùi đói nghèo hoặc làm trong sạch môi trường. Hơn
thế nữa, quá trính vận động và phát triển của nền kinh tế thị trường đều gắn
chặt với quá trính phân công lao động từ thấp đến cao, cững chính trong quá
trình đó đã là rạng đông hay xế chiều nhiều nhiều ngành kinh tế. Tuy vậy, ở
bất cứ giai đoạn nào, để cho nền kinh tế đầu tư phát triển cân đối thì giữa các
ngành trong tổng thể kinh tế phải được duy trì theo một cơ cấu thích hợp, và
do vậy, cần phải có cù hích đầu tư trọn gói ban đầu của nhà nước vào các
ngành công nghiệp mới, công nghiệp mũi nhọn thuộc về nổi nhưng không
thu hút dược vốn đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân…Sự đầu tư của nhà
nước vào những lĩnh vực ưu tiên này sẽ tạo ra nhiều cơ hội phát triển hay
công nghiệp hóa cho phần còn lại nền kinh tế. Phối hợp với chính sách đầu
tư trọn gói là chính sách hỗ trợ trực tiếp của nhà nước cho các doanh nghiệp
bằng hiều hình thức khác nhau, như: trợ giá đầu tư và hỗ trợ vốn, góp vốn
liên doanh, cổ phần,…Sự hỗ trợ của nhà nước thường tập trung vào các lĩnh
vực quan trọng với mục đích là ổn định thị trường và bù đắp các thua thiệt
cho các doanh nghiệp phải hoạt động theo chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh
tế. Đó là chưa kẻ chính sách hỗ trợ vô cùng quan trọng và thiết thực của nhà
nước về nguồn lực thông qua các chính sách phát triển hoạt động sự nghiệp
giáo dục,đào tạo, nghiên cứu khoa học, y tế…
- Chi NSNN góp phần điều chỉnh chu kỳ kinh tế
Cũng cần thấy rằng, Chi NSNN đã hình thành nên một thị trường

33

đặc biệt. với một khối lượng hàng hóa to lớn do nhà nước tiêu thụ trên thị
trường làm tổng cầu của xã hội được mở rộng. Đến lượt mình, tổng cầu mở
rộng lại tác động nâng coa khả năng thu hút vốn và kích thích sản xuất phát
triển hơn nữa. Trên góc độ này mà nói, thị trường nhà nước lại trợ thành
công cụ kinh tế quan trọng của nhà nước nhằm tích cực cải tạo lại cân bằng
của thị trường hàng hóa khi bị mất cân đối bằng cách tác động vào các quan
hệ cung cầu thông qua tăng hay giảm mức độ chi NSNN ở thị trường này.
- Chi NSNN góp phần tái phân phối thu nhập xã hội giữa các tầng
lớp dân cư, thực hiện công bằng xã hội.
Về mặt xã hội, tài chính công góp phần điều tiết công bằng thu nhập
giữa các tầng lớp dân cư bằng cả 2 công cụ bộ phận thế và chi tiêu. Trong
khi thuế là công cụ mang tính chất động viên nguồn thu cho nhà nước, thì
chi NSNN mang tính chất chuyển giao thu nhập đó đến những người có thu
nhập thấp thông qua các khoản chi an sinh xã hội, ch icho các chương trình
giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo như Samuel Johnson nói “ Cung cấp
tử tế cho người nghèo là đánh giá sự thật về nền văn minh”. Nghệ thuật của
chính phủ thể hiện ở chỗ lấy nhiều tiền có thể được từ một giai cấp trong xã
hội để chuyển cho một giai cấp khác nhằm tạo ra sự công bằng trong xã hội.
1.2.

Lý LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ CHI NSNN.

1.2.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò và các nhân tố ảnh hướng

đến quản lý chi ngân sách nhà nước.
1.2.1.1.khái niệm quản lý chi ngân sách nhà nước
Trong tất cả mọi lĩnh vực của hoạt động kinh tế xã hội nói chung, để
đảm bảo hoạt động bình thường, đều phải có vai trò của con người tác động
vào. Những tác động mang tính chủ quan đó gọi là quản lý. Nói cách khác,
quản lý thực chất là việc thiết lập và tổ chức thực hiện hệ thống các phương
pháp và biện pháp, tác động một cách có chủ định tới các đối tượng quan
tâm nhằm đạt được kết quả nhất định.
34