Tải bản đầy đủ
Các nguồn vốn đầu tư và các hình thức huy động vốn để phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải.

Các nguồn vốn đầu tư và các hình thức huy động vốn để phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải.

Tải bản đầy đủ

nước đóng vai trò hết sức quan trọng, tạo dựng nền tảng và điều kiện ban đầu để
thu hút các nguồn vốn khác tập trung cho đầu tư phát triển.
Vốn tín dụng nhà nước được sử dụng để tài trợ toàn bộ hoặc tài trợ một
phần cho các công trình kinh tế quan trọng, có hiệu quả và khả năng thu hồi vốn
lớn. Trong xây dựng giao thông, các nhà thầu khi tham gia thực hiện các dự án
BOT có thể được vay loại vốn này hoặc các khu vực có nhiều tiềm năng phát
triển về tài nguyên thiên nhiên nhưng chưa có điều kiện khai thác cũng là đối
tượng được cho vay.
Nguồn vốn của doanh nghiệp nhà nước là từ vốn khấu hao cơ bản của các
doanh nghiệp, trích lợi nhuận sau thuế cho đầu tư phát triển và một phần tự vay
từ các tổ chức tín dụng...và hoạt động đầu tư chủ yếu là nhằm mở rộng sản xuất
kinh doanh, đổi mới kỹ thuật, công nghệ hoặc hợp tác liên doanh, liên kết với
các thành phần kinh tế khác trong và ngoài nước. Một số doanh nghiệp nhà nước
là một hộ kế hoạch trong việc đầu tư phát triển giao thông như: Tổng công ty
hàng không Việt Nam, Tổng công ty đường sắt Việt Nam...
Vốn đầu tư dân cư và tư nhân ngày một tăng, tạo dựng được nguồn vốn lớn
trong nhân dân, kể cả ở thành thị và nông thôn. Tuy nhiên nguồn vốn này rất hạn
chế trong việc đầu tư vào HTGTVT.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hầu như chỉ đầu tư vào những lĩnh
Vốn
ĐTTT
của
vựcVốn
đemNSNN
lại lợi nhuận cao và nhanh
chóng
thu hồi vốn, đầu tư vàoVốn
xây ĐT
dựng

(cả ODA)
nước ngoài
nhân dân
sở hạ tầng trong các khu công nghiệp... nhưng không chú trọng đầu tư vào lĩnh
vực hạ tầng GTVT.
Vốn DNNN
Vốn ĐT của
Trong lĩnh vực GTVT các nguồn vốn trên đều được tăng cường huyDN
độngtưcho
đầu
nhân
tư phát
trong những năm vừa qua và sẽ phát triển trong thời gian tới.
Vốntriển
tín dụng
nước
Có thểnhà
minh
họa vốn đầu tư phát triển toàn xã hội cho KCHT GTVT theo sơ đồ sau:
BIỂU1: SƠ ĐỒ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG

Vốn nhà nước

nn

Đầu tư
cho xây
dựng
GTNT

Vốn
nước VẬN
ngoàiTẢI.
GIAO
THÔNG

Vốn ngoài QD

Vốn đầu tư phát
triển KCHT giao
thông
ĐT phát
triển hạ
tầng
đường
bộ

ĐTphát
triển
hạ
tầng
đường

ĐT phát
triển hạ
tầng
đường
thuỷ

ĐT phát
triển hạ
tầng đường
biển

ĐT phát
triển hạ
tầng hàng
không

Để huy động vốn cho đầu tư KCHT GTVT có các hình thức sau:
+ Phát hành trái phiếu: Đây là một hình thức vay nợ trong đó thể hiện cam
kết của người phát hành sẽ thanh toán một sô tiền xác định vào một ngày xác
định trong tương lai với một mức lãi nhất định cho chủ sở hữu nó. Các chủ thể
phát hành trái phiếu có thể là Chính phủ, chính quyền địa phương hay các công
ty. Trái phiếu Chính phủ phát hành nhằm mục tiêu cân bằng ngân sách, thực
hiện các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng và được đảm bảo bằng ngân sách quốc
gia. Trái phiếu của chính quyền địa phương phát hành để tài trợ cho các dự án
xây dựng của địa phương. Các công ty phát hành trái phiếu nhằm huy động vốn
cho đầu tư phát triển.
+ Đổi đất lấy công trình: là một chính sách, biện pháp tạo vốn để xây dựng
phát triển hạ tầng giao thông.. Trong xây dựng hệ thống đường giao thông, ở
những nơi có tuyến đường chạy qua, giá trị của đất đai hai bên đường sẽ tăng
lên. Vì vậy, khi xây dựng tuyến đường, ở điều kiện cho phép nên giải phóng mặt
bằng rộng ra hai bên từ 50- 100 m để sau khi hoàn thành công trình sẽ chuyển
nhượng đất hai bên đường để bù vào tiền giải phóng mặt bằng và tiền đầu tư xây
dựng tuyến đường.
+ Huy động vốn đầu tư theo hình thức BOT: Đây là hình thức đã và đang
được triển khai với nhiều dự án trong ngành GTVT. Để giảm chi tiêu công cộng

từ ngân sách, nhiều quốc gia đã tìm kiếm hình thức đầu tư mới hướng và sử
dụng nguồn vốn, nhân lực của khu vực dân doanh ở trong và ngoài nước, dựa
trên nguyên tắc thu phí hoàn vốn, tiêu biểu là các hình thức: BOT (xây dựng,
vận hành, chuyển giao), BTO (xây dựng, chuyển giao, vận hành). Đây cũng là
xu hướng để phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Ở
nước ta, đầu tư cho xây dựng giao thông bằng vốn ngân sách nhà nước không
thể đáp ứng được nhu cầu, còn vốn vay ưu đãi thì có hạn và càng khó thu hút
hơn khi nền kinh tế nước ta phát triển lên. Hình thức huy động vốn BOT tỏ ra
hữu hiệu vì tài trợ dự án bằng chính nguồn thu phát sinh từ quá trình kinh doanh
công trình. Vì vậy, xây dựng dự án cần phải chứng minh dự án có khả năng thu
đủ trong quá trình kinh doanh, khai thác công trình, tiếp đến cần phải tổ chức
các điều kiện cần thiết để thực hiện dự án. Những dự án có tính thương mại cao
khi vận hành đều thành công, thậm chí đạt kết quả cao hơn dự kiến, như dự án
đường Trường Sơn ra sân bay Tân Sơn Nhất (sau khi hoàn vốn được phép thu
phí thêm một thời gian nữa để tạo quỹ phát triển giao thông địa phương và sau
đó bàn giao lại cho nhà nước).
IV. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KẾT
CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG VẬN TẢI, BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

1. Kinh nghiệm về phát triển hệ thống giao thông vận tải bền vững, hài
hoà và bảo vệ môi trường.
Đứng trước những khó khăn của ngành GTVT như : tiêu hao tài nguyên
năng lượng rất lớn đặc biệt là dầu mỏ, chiếm dụng tài nguyên đất cao hơn các
ngành khác, gây ô nhiễm môi trường, không khí tiếng ồn lớn...đồng thời làm
tăng gián tiếp chi phí xã hội như gây ách tắc giao thông, tai nạn giao thông, vì
vậy phải nhanh chóng tìm ra phương thức mới để phát triển bền vững GTVT
thích ứng với nhu cầu phát triển xã hội và môi trường. Trung Quốc là nước có
dân số đông, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đã lựa chọn phương thức ưu tiên
phát triển đường sắt chứ không áp dụng mô hình phát triển phương tiện giao
thông cuả các nước phương Tây (lấy xe ô tô làm chính). Sở dĩ như vậy là vì
đường sắt là phương thức GTVT sử dụng tài nguyên năng lượng sạch và tiết
kiệm năng lượng nhất (tỷ lệ tiêu hao năng lượng bình quân cho một đơn vị vận
chuyển hàng không, đường bộ, đường sắt là khoảng 11:8:1). Bên cạnh đó,

đường sắt có ưu điểm là đơn vị năng lực vận chuyển chiếm dụng diện tích đất ít
(đường bộ chiếm gấp 25 lần so với đường sắt), sử dụng tài nguyên đất có hiệu
quả. Trong vấn đề gây ô nhiễm đối với không khí, đường sắt bằng từ 1/40 đến
1/4 đường bộ, tiếng ồn cũng nhỏ hơn so với đường bộ.
Hiện nay, lượng vận chuyển hàng hoá bằng đường sắt chiếm trên 60% tổng
lượng vận chuyển hàng hoá toàn Trung Quốc đảm bảo nhu cầu trong phạm vi
toàn Trung Quốc và phát huy tác dụng then chốt góp phần vận hành nền kinh tế
quốc dân. Ngành đường sắt Trung Quốc đã đề ra đường lối chiến lược “ phát
triển kiểu siêu việt”, mục tiêu tổng thể là hiện đại hoá mạng lưới đường sắt đến
năm 2020, nâng cao năng suất vận chuyển và trình độ trang thiết bị kỹ thuật.
Việt Nam là nước có hệ thống đường sắt lạc hậu so với thế giới và chưa có
quy hoạch cụ thể phát triển mạng lưới đường sắt trong cả nước. Kinh nghiệm
Trung Quốc giúp chúng ta bài học cần quan tâm đầu tư cho ngành đường sắt vì
những ưu điểm như khối lượng vận chuyển lớn, đường dài và không tốn kém
như các hình thức khác...Trong tương lai đường sắt sẽ là phương tiện văn minh
có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao với tốc độ nhanh, an toàn.
2. Kinh nghiệm về quản lý hoạt động đầu đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng giao thông
Quản lý là nhằm đạt được các mục tiêu trong xây dựng là: chất lượng tốt,
tiết kiệm vốn đầu tư, đưa công trình vào khai thác đúng tiến độ thi công. Hoa kỳ
là một quốc gia có cơ sở hạ tầng giao thông đạt chất lượng cao, nhiều công trình
mang tầm cỡ quốc tế là biểu tượng của đất nước này. Kinh nghiệm của Hoa Kỳ
cho thấy việc xác lập mối quan hệ trách nhiệm giữa chủ đầu tư và chủ thầu
khoán trong quá trình xây dựng là cần thiết. Kinh nghiệm này nói rõ nhà tư vấn
sẽ giúp chủ đầu tư hình thành các hồ sơ để mời thầu và giao thầu, sau đó tư vấn
sẽ giám sát giúp chủ đầu tư. Nhà thầu khoán thi công theo đồ án thiết kế. Nếu có
sai sót trong thiết kế thì mọi tổn thất đều do tư vấn chịu trách nhiệm, từ đó nhắc
nhở các nhà tư vấn phải đề cao trách nhiệm trong thiết kế. Nhà thầu khoán có
quyền trong thi công, nếu xuất hiện các quá trình làm cản trở thi công, gây lãng
phí do sự can thiệp của chủ đầu tư thì nhà thầu khoán có quyền kháng nghị và có