Tải bản đầy đủ
Cơ quan sinh dục cái

Cơ quan sinh dục cái

Tải bản đầy đủ

Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh

Hình 1. Cấu tạo hệ sinh dục bò cái
2.2.Ống dẫn trứng
* Vị trí, hình thái: Ống dẫn trứng có cấu tạo hình ống một đầu thông với sừng tử cung,
một đầu phát triển hình loa kèn bao lấy buồng trứng để hứng trứng rụng, ống dẫn trứng
nằm trên dây chằng tử cung- buồng trứng.
* Cấu tạo theo diện cắt ngang:
- Ngoài là tương mạc.
- Giưa là lớp cơ trơn.
- Trong cùng là lớp tương mạc.
* Chức năng:
- Là nơi gặp nhau của trứng và tinh trùng xảy ra quá trình thụ tinh khi con vật giao phối
- Chức năng vận chuyển trứng và hợp tử về tử cung.
2.3. Tử cung (dạ con)
* Vị trí, hình thái: Tử cung nằm trong xoang chậu dưới trực tràng, trên bóng đái và được
cố định trong xoang chậu bởi dây chằng rộng (màng treo tử cung buồng trứng).
- Tử cung gia súc gồm: sừng tử cung, thân tử cung và cổ tử cung.
+ Sừng tử cung gia súc gồm sừng tử cung bên trái và bên phải. Sừng tử cung có cấu tạo
hình ống một đầu thông với ống dẫn trứng, một đầu thông với thân tử cung ở ngã ba tử
cung.
+ Thân tử cung: cấu tạo hình ống, một đầu thông với sừng tử cung, một đầu thông với
âm đạo qua cổ tử cung.
+ Cổ tử cung là khối cơ vòng chắc một đầu thông với thân tử cung, một đầu thông với
âm đạo. Niêm mạc cổ tử cung có nhiều nếp gấp. Cổ tử cung luôn đóng, chỉ mở khi con
vật động dục hoặc con vật đẻ, vì vậy có tác dụng vệ thai khi con vật chửa.
* Cấu tạo: gồm lớp màng sợi ở ngoài, giưa là 3 lớp cơ trơn dày có khả năng co giãn đàn
hồi cao, trong là niêm mạc có tuyến tiết dịch nhày. Ở trâu bò niêm mạc sừng tử cung có
các gấp nếp hình bát úp là tiền thân của núm nhau mẹ khi con vật chửa.
* Chức năng của tử cung là nơi làm tổ của thai khi con vật chửa. Động vật đơn thai, thai
làm tổ ở thân tử cung. Động vật đa thai, thai làm tổ ở sừng tử cung.
2.4. Âm đạo
* Vị trí, hình thái Âm đạo cấu tạo hình ống một đầu thông với tử cung, một đầu thông
với âm hộ. Ở 1/3 phía ngoài niêm mạc âm đạo có lỗ đổ ra của đường tiết niệu. Âm đạo

Giáo trình Giải phẫu – sinh lý vật nuôi

61

Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh

là nơi tiếp nhận dương vật con đực khi giao phối và vận chuyển thai ra ngoài khi con
vật đẻ.
* Cấu tạo:
- Ngoài là màng tương mạc.
- Giưa là lớp cơ trơn gồm hai lớp; cơ vòng ở trong, cơ dọc ở ngoài.
- Trong cùng là lớp niêm mạc màu hồng nhạt có nhiều tế bào tiết dịch.
- Tiền đình âm đạo là phần ngăn cách với âm hộ gồm có:
+ Gấp nếp màng trinh: là gấp nếp niêm mạc nằm ngang.
+ Lỗ đái là nơi thoát nước tiểu ra ngoài.
+ Hành tiền đình là thể cương cứng nằm hai bên lỗ đái.
+ Tuyến tiền đình nằm hai bên và phía sau hành tiền đình tiết dịch nhờn đổ vào âm đạo
làm trơn khi giao phối.
2.5. Âm hộ
Là bộ phận cuối cùng của bộ máy sinh dục cái. Âm hộ nằm dưới hậu môn, bên
trong có nhiều tuyến tiết dịch nhày khi gia súc động dục. Trong âm hộ có âm vật tương
tự như dương vật thu nhỏ là nơi tiếp nhận kích thích khi giao phối.
3. Tuyến vú
3.1. Vị trí, hình thái và số lượng
- Vú là bộ phận bên ngoài của hệ sinh dục.Tùy theo loài gia súc mà số lượng vú nhiều
hay ít.
+ Ở bò, ngựa, trâu có hai đôi vú nằm ở phía dưới bụng, tiếp giáp vùng háng.
+ Lợn, chó, mèo có 4 - 8 đôi vú xếp thành hai hàng chạy từ ngực xuống bụng.
- Hình thái bên ngoài: gồm bầu vú và núm vú.
3.2. Cấu tạo
- Lớp da, do da bụng kéo xuống hình thành, da mỏng, mịn, nhậy cảm.
- Lớp vỏ là lớp nằm sát da phát ra nhưng vách ngăn đi vào trong chia vú làm nhiều thùy,
mỗi tiểu thùy chứa nhiều chùm tuyến sưa (như hình quả nho) hướng về bể sưa ở gần
núm vú.
- Núm vú là nơi đổ ra của ống dẫn sưa.
3.3. Sinh lý tuyến vú
Qua các giai đoạn phát triên của cơ thể. Tuyến vú phát dục như sau:
Giáo trình Giải phẫu – sinh lý vật nuôi

62

Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh

- Khi gia súc còn non chỉ có xoang sưa và hệ thống ống tiết phát triển.
- Khi gia súc trưởng thành, số ống tiết tăng sinh, tuyến vú bắt đầu hình
thành và vú to dần.
- Qua mỗi kỳ động dục túi tuyến và ống tiết phát triển hơn vú cương lên,
sau đó nếu không thụ thai thì tuyến vú trở lại bình thường không phát triển.
Nếu gia súc có thai, túi tuyến và ống tiết phát triển mạnh, vú to nhanh.
- Khi gia súc gần đẻ và khi gia súc đẻ, bao tuyến vú thực hiện chức năng
chế tiết (tiết sưa nuôi con).
', i f - - ' I I
- Ở gia súc đực, không có sự phát dục của tuyến vú. Nếu tiêm hormone sinh dục
thì tuyến vú cũng phát triển như ở gia súc cái.
3.4. Sữa thường và sữa đầu
* Sữa đầu:
- Là sữa tiết ra trong vòng 5 - 7 ngày đầu sau khi đẻ. Sữa đầu đặc hơn sữa thường, màu vàng
nhạt, vị hơi mặn, có mùi gây khi đun sôi, sữa đầu bị ngưng kết, (sữa thường không ngưng kết),
so với sữa thường, sữa đầu chứa nhiều Lipit, Vitamin A,C,D, muối magiê sulphát có tác dụng
tẩy phân xu và nhuận tràng.
- Sữa đầu có hàm lượng axit cao tác dụng ức chế sự phát triển của vi khuẩn đường ruột,
hàm lượng Lactose thấp tránh sự nên men của vi khuẩn.
- Đặc biệt có chứa hàm lượng (Globulin lớn giúp gia súc non kháng bệnh.Vì thế, sữa đầu
là thức ăn không thể thay thế được với gia súc sơ sinh.
So sánh thành phần sữa đầu với sữa thường (sữa bò - %)
Thành phần

Sưa đầu

Sưa thường

So sánh

Mỡ

3,6

3,5

Tương đương

Vật chất khô

18,5

8,6

2,15 lần

Protein

14,3

3,2

5 lần

Albumin

5,2

2,6

2 lần

γ Globulin

6,8

0,09

76 lần

* Sữa thường:
Thành phần hoá học của sữa ở một số loài gia súc
Loài
súc

gia

Vật chất
khô (%)

Lipit (%)

Giáo trình Giải phẫu – sinh lý vật nuôi

Protein
Carein
(%)

Gluxit
lactoza
(%)

Khoáng
(%)
63

Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh



12,8

3,8

3,5

4,8

0,7

Trâu

17,8

7,5

4,3

5,2

0,8

Lợn

16,8

5,6

7,1

3,1

1,1



13,1

4,4

3,5

4,6

0,9

Thỏ

30,5

10,5

15,5

2,0

2,5

Sữa là một chất lỏng có màu trắng đục hoặc hơi vàng, vị ngọt, mùi thơm, hơi dính,
độ pH axit nhẹ.
Thành phần của sưa rất phức tạp và tuỳ theo loài giống, thức ăn, chăm sóc,
tuổi, cá thể. Trong sưa có đầy đủ chất dinh dưỡng đảm bảo sự sống cho gia lúc
non.
4. Đặc điểm sinh sản của gia cầm
4.1. Gia cầm trống
Gồm có tinh hoàn, ống dẫn tinh và cơ quan giao cấu thô sơ.
- Tinh hoàn:
+ Gồm hai tinh hoàn hình hạt đậu, màu trắng xám đến trắng ngà, được treo trên
phúc mạc và thấp hơn các thùy thận , to nhỏ tuy tuổi, khoảng bằng hạt: đậu đến
to bằng đầu ngón tay . Trong thời kỳ hoạt động sinh dục, tinh hoàn căng phồng,
mạch máu đến nhiều.
+ Ở gia cầm tinh hoàn phụ kém phát triển, không có tuyến sinh dục phụ. Tinh
trùng được sinh ra trong ống sinh tinh , sau đó vào ống dẫn tinh tiến đên ống
phóng tinh rồi được phóng vào huyệt.
- Ống dẫn tinh
+ Là hai ống loăn xoăn nối từ tinh hoàn tới phần giưa huyệt, chạy song song với
ống dẫn tiểu. Trước khi tới huyệt ống dẫn tinh mở rộng ra thành túi để chứa tinh
trùng.
- Cơ quan giao cấu:
+ Ở vịt, ngan, ngỗng, cơ quan giao cấu tạo thành một gai xoắn ốc nằm sâu bên
dưới phần sau lỗ huyệt.
+ Ở gà cơ quan giao cấu đơn giản, nó chỉ là hai mấu nhỏ nằm trên thành dưới của
phần sau lỗ huyệt.
+ Lượng tinh dịch của con trống thường từ 0,5- 2 ml/ngày (ngày 1 lần xuất).
Nồng độ tinh trùng 2 triệu/1ml.
4.2. Gia cầm mái
Giáo trình Giải phẫu – sinh lý vật nuôi

64

Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh

Gồm buồng trứng và ống dẫn trứng.
- Buồng trứng
+ Gia cầm có một buồng trứng nằm ở phía trước thận trái dính vào thành lưng.
Buồng trứng phía bên phải chỉ phát triển trong giai đoạn bào thai và sau đó bị
thoái hoa.
+ Trong buồng trứng có chừng 1500 - 3000 tế bào trứng ở các giai đoạn phát
triển khác nhau. Số lượng này lớn gấp nhiều lần so với số trứng mà một gà mái
đẻ ra.
- Ống dẫn trứng: Ống dẫn trứng nối từ buồng trứng tới huyệt. Chia thành năm
đoạn như sau:
+ Loa kèn: Có hình phễu, có nhiệm vụ hứng tui long đo rụng vào ống dẫn trứng.
Cấu tạo bên trong loa kèn có nhiều nếp nhăn. Giưa các nếp gấp này có chất dinh
dưỡng được tiết ra để nuôi dưỡng tinh trùng trong khoảng thời gian từ 1- 20
ngày, mạnh nhất là đến 7 ngày. Túi lòng đỏ lưu lại loa kèn từ 5 - 15 phút và được
thụ tinh tại đây rồi đi xuống phần sau.
+ Phần sinh lòng trắng (phần thân của ống dẫn trứng): Phần này dài đên 2/3 ống
dẫn trứng, có nhiều tuyến rất phát triển. Tuyến này tiết ra lớp lòng trắng đặc và
loãng xen kẽ nhau, bao bọc lấy túi lòng đỏ . Lòng đỏ và lòng trắng lưu lại tại đây
từ 2- 3 giờ.
+ Phần eo: Phần này hơi eo lại , nó quyết định hình dạng quả trứng và tạo thành
hai lớp vỏ lụa (vỏ keratin). Túi trứng lưu lại ở đây từ 2- 3 giờ.
+ Phần tử cung: Rộng hơn đoạn trên, ở đậy có nhưng tuyến tiết ra chất khoáng
tạo thành vỏ cứng. Tử cung còn tiết sắc tố oxphophirin quyết định màu sắc cua
vỏ. Trứng lưu lại tại đậy từ 16- 20 giờ.
+ Phần ậm đạo: Phần này nối với huyệt , nó tiết ra chất nhầy keo chứa men
lyzozym co tính sát khuẩn bám bên ngoài vỏ cứng . Chất nhầy này con tạo trơn
giúp gia cầm đẻ trứng dễ dàng. Khi đẻ ậm đạo lồi ra ngoài lỗ huyệt để trứng khỏi
bẩn.
Tổng số thời gian trứng đi từ loa kèn đến ậm đạo và đẻ ra hết từ 20 - 23
giờ, vì vậy có nhưng ngày gia cầm đẻ hai trứng và có nhưng ngày không đẻ.
4.3. Quá trình giao cấu
- Khi giao phối xoang hậu môn của con trống và con mái áp sát vào nhau, tinh
trùng được phóng sang xoang hậu môn của con mái. Sau đó tinh trùng di chuyển
trong ống dẫn trứng đến phần loa kèn và sống tại đó khá lậu chờ dịp thụ tinh cho
tế bào trứng.
Giáo trình Giải phẫu – sinh lý vật nuôi

65

Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh

- Phôi được hình thành sau khi thụ tinh. Giai đoạn đầu tiên về phát triển phôi
gia cầm được hình thành trong ống dẫn trứng. Khi đẻ ra phôi tiếp tục phát dục
nếu bảo đảm các yếu tố như nhiệt độ, ẩm độ, thông thoáng...(nếu không ấp thì
phôi không phát triển được).
- Gà thường đẻ tập trung vào lúc sáng sớm, khoảng lúc 8 - 9 giờ sáng. Vịt
thường đẻ ban đêm lúc 1- 2 giờ sang. Cuối thời kỳ đẻ vịt thường đẻ muộn hơn,
có khi vào lúc sáng sớm.

CHƯƠNG 12: DA VÀ CÁC SẢN PHẨM CỦA DA
1. Da
1.1. Cấu tạo da
Cấu tạo của da gồm có 3 lớp chính:
* Biểu bì (Epdermis)
Chức năng bảo vệ da do lớp biểu bì đảm nhiệm. Cấu tạo lớp biểu bì từ ngoài
vào trong có 3 lớp chính:
- Lớp sừng: Các tế bào lớp này bị chết và kết thành một thứ vỏ bọc cứng có khả
năng chống tổn thương, chống sự xâm nhập của vi khuẩn cũng như ngăn cản sự
mất hơi nước do bốc hơi. Tế bào lớp sừng luôn luôn bị bong ra và được tế bào
lớp dưới sản sinh thay thế. Lớp sừng ở gan bàn chân, tay và một số nơi cọ sát
nhiều có thể dày ra.
- Lớp giữa: Lớp giưa của biểu bì có nhiều tế bào sống, nhưng càng gần bề mặt
Giáo trình Giải phẫu – sinh lý vật nuôi

66

Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh

càng giống lớp sừng.
- Lớp Manpighi: Là lớp tế bào liên tục có khả năng phân chia nhanh chóng để
đổi mới biểu bì. Trong lớp này còn có các sắc tố quyết định màu da.
Lớp biểu bì không có mạch quản. Sự dinh dưỡng thực hiện nhờ mao quản
của lớp bì.
* Lớp bì (Derme)
Lớp bì là nền tảng làm chỗ dựa cho biểu bì nhờ đó da mới có độ bền chắc,
đồng thời biểu bì mới được cung cấp dinh dưỡng. Lớp bì là lớp mô dày có nhiểu
sợi đàn hổi. Trong bì còn có các mao mạch, đầu mút thần kinh của các cơ quan
cảm giác, các mạch bạch huyết, tuyến mồ hôi và các bao lông.
Trong lớp bì, các mao mạch cung cấp dinh dưỡng và lấy đi các chất bài tiết.
Các tuyến mồ hôi và bao lông có hệ mạch riêng. Mao mạch nằm dưới biểu bì giư
vai trò quan trọng trong việc điều hoà thân nhiệt.
Lớp bì phân ra làm 2 lớp nhỏ:
- Lớp gai là lớp kề ngay với biểu bì, cấu tạo bằng sợi keo, sợi chun.
- Lớp dưới không phân biệt rõ với lớp gai, cấu tạo bằng sợi keo, sợi chun rất dày
xếp chằng chéo với nhau. Sự xếp chằng chéo này phụ thuộc vào các tác động cơ
học tuỳ từng vùng và có vai trò trong việc thích nghi của cơ thể với các loại cử
động.
* Lớp dưới da (Telasub cutalae)
Lớp này có tác dụng cột da vào lớp sâu, thường được tích luỹ mỡ. Lớp này
có tác dụng nưa là làm giảm nhẹ các va chạm.
1.2. Chức năng của da
Da là một lớp mô liên tục bọc ngoài cơ thể. Da có chức năng chủ yếu sau:
- Da bảo vệ các mô nằm dưới da, chống các tổn thương cơ học, chống vi khuẩn
và chống khô.
- Da có vai trò lớn trong trao đổi chất (hô hấp, bài xuất), chống thẩm thấu đối
với các dung dịch và các chất hoá học.
- Da chứa nhiều cơ quan cảm giác, nhận cảm đối với nhiệt độ, sờ nắn, đau đớn,
tác động áp lực... nhờ đó mà thông báo được với cơ thể về các thay đổi của môi
trường.
- Da giúp cho cơ thể giư được nhiệt độ ổn định.
- Một vài nơi của da biến thành các khí quan đặc biệt là sản phẩm của da: lông,
sừng, móng...
Giáo trình Giải phẫu – sinh lý vật nuôi

67

Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh

2. Lông
2.1. Cấu tạo lông
Cấu tạo của lông: Đối với lông đã phát triển phàn làm 2 phần: Thàn lông và
rễ lỏng.
- Thân lông là phần tự do trồi lên mặt da, cấu tạo có 3 lớp:
+ Màng vỏ lỏng: Cấu tạo bởi các vảy đã sừng hoá, không có nhân, không có
sắc tố. Sự sắp xếp của các vảy có đặc điểm riêng tuỳ loài gia súc.
+ Lóp vó lông: Lớp này dày nhất có nhiều tế bào hình thoi xếp theo đường
trục của lông, trong tế bào này có cả sắc tố.
+ Tuỷ lông: Tuỷ lòng chứa các tế bào chưa bị sừng hoá, chứa các hạt sắc tố.
Giữa các tế bào này có xoang chứa không khí vì vậy lông có tính không dẫn
nhiệt.
- Rễ lông là phần đâm sâu trong da, nó là vùng dinh dưỡng và sinh trưởng của
lông. Phán trên cùa rễ lông cắm tháng, phần dưới thì cắm chéo và bẻ cong
trong da.
2.2. Chức năng của lông
Lông có thể thay thế dần hay cùng một lúc, rụng vào mùa xuân và mùa
thu, nên lông mùa hè ngắn hơn lông mùa đông. Sự thay lông có tác dụng đổi
mới và tẩy uế cơ thể đồng thời che chở cho cơ thể khỏi lạnh.
3. Móng
3.1. Cấu tạo móng
Móng có cấu tạo gồm 3 lớp:
- Đĩa móng (nail plate): Cấu tạo bởi lớp sừng, phát triểu liên tục suốt đời, có màu hồng
vì nằm trên giường móng có nhiều mạch máu nuôi dưỡng.
- Giường móng (nail beb)
- Đãi móng (ventral matrix, sterile matrix): Tập trung các mạch máu, chịu trách nhiệm
nâng đỡ và phát triển móng, nằm giưa liền móng (lunula) – trăng lưỡi liềm – và phần
dưới móng là phần sau của lớp thượng bì giường móng. Lớp biểu bì eponychium
(cuticle) là lớp thượng bì nằm giưa nấp gấp gần của móng và mặt lưng của đĩa móng.
3.2. Chức năng của móng
- Vai trò đầu tiên của móng là bảo vệ.
- Gãi cho nhưng cơn ngứa trên da.

Giáo trình Giải phẫu – sinh lý vật nuôi

68

Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh

MỤC LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đào Văn Tiến: Động vật có xương sống (tập 2) 1971, Hà Nội.
2. Hà Đình Đức: Thực tập giải phẫu động vật có xương sống 1978, Hà Nội
3. Đặng Tất Nhiễm: Giải phẫu gia súc 1973, ĐHNN2.
4. Trần Cừ, Cù Xuân Dần: Giáo trình sinh lý gia súc 1973, Hà Nội.
5. Đặng Tất Nhiễm, 1979. Bài giảng giải phẫu gia súc. Đại học Nông nghiệp II
Hà Băc.
6. Vũ Hữu Nghị, 1985. Bài giảng giải phâu sinh lý gia súc. Trường trung học
nông nghiệp Hậu Giang.
7. Người dịch Cù Xuân Dần - Lê Khắc Thận, 1985. Sinh lý sinh sản gia súc.
(A.A. Xuxoep). NXB Nông nghiệp.

8. Nguyễn Xuân Hoạt - Phạm Đức Lộ, 1977. Tổ chức phôi thai học. NXB Đại
học và trung học chuyên nghiệp.

Giáo trình Giải phẫu – sinh lý vật nuôi

69