Tải bản đầy đủ
Cấu tạo và chức năng của cơ quan ngoài ống tiêu hoá

Cấu tạo và chức năng của cơ quan ngoài ống tiêu hoá

Tải bản đầy đủ

Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh

bọt ra phía dưới lưỡi.
- Tuyến dưới lưỡi: Nhỏ hơn so với hai tuyến trên, nằm hai bên cạnh, dưới lưỡi.
Nó có ống thông vào miệng là ống rhivinus đổ nước bọt vào xoang miệng.
2.2. Tuyến tụy
- Là một dải màu hồng nhạt hoặc vàng nhạt bám vào đường cong nhỏ đoạn quai tá tràng
(chữ S hoặc U).
- Chức năng: có hai chức năng
+ Ngoại tiết: tiết dịch tụy chứa men tiêu hóa đổ vào tá tràng để tiêu hóa thức ăn.
+ Nội tiết: tiết ra hoocmone tuyến tụy gồm:
* Glucagon có tác dụng phân giải glycogen tích trữở gan thành đường glucose tự do đi
vào máu đưa đến các mô bào.
* Insulin tăng cường sự tổng hợp glucose thành glycogen để tích trữ ở gan.
2.3. Gan
2.3.1. Vị trí, hình thái
- Là tuyến tiêu hóa lớn nhất trong cơ thể, nằm trong xoang bụng sau cơ hoành, trước dạ
dày.
- Hình thái: gan có hai mặt và hai cạnh:
+ Mặt trước cong lồi theo chiều cong cơ hoành.
+ Mặt sau sát dạ dày, chứa rốn gan nơi đi vào của động mạch gan, tĩnh mạch cửa và
thần kinh, các hạch lâm ba và ống dẫn mật.
+ Cạnh trên dày, có tĩnh mạch chủ sau và thực quản đi qua.
+ Cạnh dưới mỏng, sắc có các mẻ chia gan thành nhiều thùy.
+ Ở ngựa gan có 5 thùy: thùy trái, thùy giữa trái, thùy vuông, thùy phải và thùy phụ.
Không có túi mật.
+ Ở bò: gan bò rất dày phân thùy không rõ ràng, gồm 4 thùy: thùy trái, thùy vuông, thùy
phải và thùy phụ. Túi mật dính vào thùy vuông.
+ Ở lợn, chó: gan chia làm 6 thùy: thùy trái, thùy giữa trái, thùy vuông, thùy giữa phải,
thùy phải và thùy phụ. Túi mật nằm sau thùy giữa phải.
2.3.2. Cấu tạo
- Cấu tạo: Mặt ngoài gan được bao bọc bởi màng sợi rất mỏng. Màng này chui vào trong
nhu mô gan tạo thành các vách ngăn phân chia thành các thùy, tiểu thùy gan.
+ Gan lợn chia thành 4 thùy, thùy thứ 3 bên trai sang chưa tui mât. Gan bò là một
Giáo trình Giải phẫu – sinh lý vật nuôi

31

Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh

khối lớn không chia thùy. Gan dê co 2 thùy chính và 01 thùy phụ, thùy chính bên
phải có túi mật.
+ Mỗi thùy lại chia ra nhiều tiểu thùy. Tiểu thùy có nhiều màng liên kết phát ra
các vách ngăn. Các tế bào gan có hình đa giác, có nhân lớn nằm giữa tế bào. Ông
dẫn mật và mạch máu nằm len lỏi giữa các tế bào.
3. Sinh lý học
3.1. Quá trình tiêu hoá và hấp thu
3.1.1.Tiêu hóa ở miệng
Bao gồm lấy thức ăn, nhai, nhai lại, nuốt.
+ Cách lấy thức ăn, nước uống: tùy từng loài gia súc mà có cách lấy thức ăn và nước
uống khác nhau.
- Lợn dùng mõm cứng (hàm trên) cày dũi đất tìm kiếm thức ăn, dùng hàm dưới, lưỡi
đưa thức ăn vào miệng.
-Trâu bò: lưỡi cứng, nhám dùng để vơ cỏ, rơm đưa vào miệng, sau đó ngậm miệng cắt
đứt cỏ.
- Ngựa: môi trên và dưới dài, mềm mại dễ cử động. Ngựa dùng hai môi trên để lấy thức
ăn, các răng cửa để cắt đứt thức ăn.
- Dê, cừu: lấy thức ăn giống ngựa và môi trên có khe hở giúp gậm được cỏ ngắn hơn.
- Chó: lấy thức ăn bằng răng cửa, xé bằng răng nanh, dùng lưỡi hắt nước vào miệng.
+ Nhai:
- Ở lợn: nhai là sự vận động lên xuống và đưa qua lại sang phải và sang trái của hàm
dưới.
- Ở trâu bò: nhai là đưa hàm dưới gặp hàm trên và sang hai bên để nghiền nát thức ăn.
Khi thức ăn được tẩm nước bọt đã mềm, động tác nuốt đưa thức ăn xuống dạ cỏ. Trâu,
bò có phản xạ nhai lại, thời gian nhai lại: sau khi ăn, nhai lại lần đầu khoảng 30 – 70
phút (đối với trâu, bò), 20 – 45 phút (với dê, cừu) vật bắt đầu nhai lại (nhất là lúc nghỉ
ngơi). Thời gian nhai lại khoảng 40 – 50 phút, nghỉ 30 – 60 phút động vật lại tiếp tục
nhai lại. Một ngày đêm trâu bò nhai lại từ 6 – 8 lần. Bê, nghé đã ăn cỏ khoảng 16 lần,
tổng thời gian nhai lại khoảng 7 giờ.
- Đặc điểm tuyến nước bọt
Lượng tiết: Nước bọt tiết nhiều nhất khi gia giúc ăn, ngoài bữa ăn lượng tiết ít
hơn. Số lượng và tính chất nước bọt phụ thuộc và số lượng và thành phần, tính chất của
thức ăn. Ví dụ: ăn thức ăn khô nước bọt tiết ra nhiều hơn. Lợn một ngày đêm tiết ra
15lít, ngựa 40lít, trâu bò 60lít.
Giáo trình Giải phẫu – sinh lý vật nuôi

32

Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh

+ Nuốt
Là một phản xạ phức tạp có sự phối hợp của 3 bộ phận: màng khẩu cái, cơ yết
hầu, sụn tiểu thiệt của thanh quản.
Đầu tiên thức ăn sau khi nhai lại được lưỡi nâng lên áp sát vòm khẩu cái và mặt
trên gốc lưỡi.
Khi nuốt màng khẩu cái uốn cong lên trên, về phía sau để đóng kín đường lên
mũi và ngừng thở. Sụn tiểu thiệt uốn cong về phía sau đóng kín đường thanh quản và
không cho thức ăn rơi xuống.
Cơ yết hầu co rút đẩy thức ăn rơi xuống thực quản.
3.1.2. Tiêu hóa ở dạ dày
3.1.2.1.Tiêu hóa ở dạ dày đơn
Dạ dày là nơi chứa thức ăn, cũng là nơi biến đổi thức ăn về mặt cơ học và hóa học.
+ Tiêu hóa cơ học: thức ăn khi xuống dạ dày sẽ được nghiền nát, nhào trộn và thấm đều
vào dịch vị, do sự co bóp của các cơ dạ dày và tiết dịch vị của các tuyến. Sau đó nó
được đưa xuống tá tràng từng đợt do sự đóng mở của van hạ vị
+ Tiêu hóa hóa học
Tiêu hóa hóa học thức ăn trong dạ dầy đơn nhờ men tiêu hóa có trong dịch vị do tuyến
dạ dầy tiết ra. Thức ăn đạm (Protein) dưới tác dụng của men pép xin thành các dạng đơn
giản ambumol và polipeptit. Mỡ trong dạ dầy hầu như chưa được tiêu hóa do men tiêu
hóa chưa hoạt động.
3.1.2.2. Tiêu hóa ở dạ dày kép
+ Tiêu hóa thức ăn ở dạ cỏ
- Tiêu hóa cơ học: nhờ nhu động của dạ cỏ thức ăn được nhào trộn giúp cho hệ vi sinh
vật có trong dạ cỏ lên men sinh hơi để tiêu hóa thức ăn.
- Tiêu hóa học: Tiêu hóa hóa học thức ăn trong dạ cỏ chủ yếu nhờ hệ vi sinh vật: gồm
thảo phúc trùng, vi khuẩn và nấm. Chúng theo thức ăn vào dạ cỏ gặp điều kiện yếm khí
(không có oxy) môi trường kiềm và độ ẩm, nhiệt đột thích hợp sinh sôi phát triển.
Chúng có vai trò quan trọng tiêu hóa các chất sau:
* Tiêu hóa tinh bột và đường: Tinh bột dưới tác dụng của men do vi sinh vật tiết ra sẽ
phân hủy thành đường đơn ( glucoza ) được vi sinh vật sử dụng một phần, phần còn lại
được cơ thể trâu, bò hấp thu.
* Tiêu hóa chất xơ:

Giáo trình Giải phẫu – sinh lý vật nuôi

33

Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh

- Chấy xơ (cỏ, rơm, rạ) dưới tác dụng của men tiêu hóa chất xơ do vi sinh vật tiết ra,
được phân giải thành a xít béo bay hơi, khí các bon níc (CO2) và khí mê tan (CH4).
- Axit béo bay hơi như axit a xê tic, pờ rô pi ô níc, bu ty ric được thấm qua thành dạ cỏ
rồi vào máu đến gan và các mô bào của trâu bò là nguồn cung cấp năng lượng cho trâu
bò hoạt động.
* Tiêu hóa chất đạm (Protein): protein trong thức ăn được vi sinh vật phân giải thành
Poli péptít, dipéptít, axit amin và Amôniác (HN 3) dùng cho bản thân chúng. Khi xuống
dạ múi khế, vi sinh vật được tiêu hóa thành nguồn protein cho trâu, bò.
- Vi sinh vật tổng hợp được vitamin nhóm B, vitamin K được vật chủ (trâu, bò) sử dụng.
- Quá trình tiêu hóa thức ăn trong dạ cỏ của vi sinh vật, tạo ra khí CO2, CH4 các khí này
được thoát ra ngoài nhờ phản xạ ợ hơi của con vật, vì một lý do nào đó hơi không thoát
ra mà tích lại trong dạ cỏ sẽ gây bệnh chướng hơi dạ cỏ ở trâu, bò.
+ Tiêu hóa ở dạ tổ ong: là nơi vận chuyển, sàng lọc thức ăn, chứa thức ăn lỏng.
+ Tiêu hóa ở dạ lá sách: là nơi nghiền ép thức ăn sau khi nhai lại để chuyển xuống dạ
múi khế. Phần mềm lỏng xuống trước, phần khô cứng tiếp tục được nghiền ép ở dạ lá
sách, nước, axit được hấp thu mạnh.
+ Tiêu hóa ở dạ múi khế: được coi là dạ dày chính thức của loài nhai lại, làm chức năng
tiêu hóa cơ học và tiêu hóa hóa học như dạ dày đơn.
3.1.3. Tiêu hóa ở ruột non
3.1.3.1.Tiêu hóa cơ học
Nhờ nhu động của ruột non, thức ăn tiếp tục được nghiền nhỏ, trộn đều với dịch
ruột, dịch tụy, dịch mật và được di chuyển trong ruột non để tiêu hóa hóa học trước khi
chuyển xuống ruột già.
3.1.3.2.Tiêu hóa hóa học
Thức ăn (chưa được tiêu hóa hoàn toàn ở dạ dày) xuống ruột non dưới tác động
của các men tiêu hóa có trong dịch mật, dịch tụy, dịch ruột sẽ phân giải hoàn toàn thành
các chất đơn giản nhất để hấp thu qua niêm mạc ruột, vào máu đi nuôi cơ thể.
+ Dịch mật
Dịch mật do tê bào gan tiết ra liên tục được tích trữ trong túi mật, theo ống dẫn
mật đổ vào tá tràng 10 – 15 phút trước khi ăn. Ở ngựa, chuột, lạc đà, bồ câu không có
túi mật thì theo ống dẫn đổ thẳng vào tá tràng.
Dịch mật hơi nhớt, vị đắng, màu vàng sẫm ở gia súc ăn cỏ, vàng xanh ở gia súc
ăn thịt do sắc tố mật tạo nên.
Tác dụng
Giáo trình Giải phẫu – sinh lý vật nuôi

34

Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh

- Kích thích ruột nhu động.
- Trung hòa axit trong thức ăn từ dạ dày xuống.
- Cắt mỡ thành các hạt nhỏ (nhũ tương hóa mỡ) để men tiêu hóa mở (lipaza) tác động có
hiệu quả.
- Làm tăng tác dụng của các men tiêu hóa mỡ, bột đường, chất đạm có trong dịch ruột.
- Tăng hấp thu mỡ trong ruột non
+ Dịch tụy do tuyến tụy tiết ra được đổ vào ruột non để tiêu hóa thức ăn. Trong dịch tụy
chứa nhiều men tiêu hóa chất đạm Tờ ríp xin, ki mô tờ ríp xin, men tiêu hóa chất bột
đường Sác ca rô za và men tiêu hóa mỡ li pa za.
+ Dịch ruột do tuyến ruột tiết ra, chứa nhiều men tiêu hóa chất đạm, chất bột đường và
mỡ.
+ Kết quả tiêu hóa ở ruột non
Thức ăn trong ruột non hầu như được tiêu hóa hoàn toàn thành những chất đơn
giản nhất cơ thể có thể sử dụng được cụ thể. Chất đạm (protein) dưới tác dụng của men
tiêu hóa (tripxin và kimotripxin) thành a xít amin. Chất bột đường dưới tác dụng của
men Amilaza thành đường đơn Glucoza. Chất mỡ dưới tác dụng của mên tiêu hóa lipaza
thành a xít béo và glyxezin. Những chất này tạo thành một huyễn dịch gọi là dưỡng
chấp được hấp thu qua niêm mạc ruột vào máu để đi nuôi cơ thể. Chất cặn bã được đưa
xuống ruột già, tại đây nước được ruột già hấp thu, chất cặn bã được đóng khuân trước
dưa ra ngoài qua hậu môn.
3.1.4. Quá trình hấp thu
Suốt chiều dài ống tiêu hóa chỉ có 3 cơ quan hấp thu là dạ dày, ruột non và ruột
già.
- Dạ dày: dạ dày đơn hấp thu nước, rượu là chủ yếu, một ít đường glucose và khoáng, lí
do vì chất nhày muxin phủ kín niêm mạc dạ dày. Dạ dày loài nhai lại ngoài các chất trên
còn hấp thu được axit béo bay hơi.
- Ruột non: là cơ quan hấp thu chủ yếu các chất dinh dưỡng của cơ thể vì: Niêm mạc có
nhiều nếp gấp làm tăng diện tích tiêu hóa hấp thu. Niêm mạc tạo thành các lông nhung
được phủ bởi tế bào biểu mô có vi nhung tăng khả năng tiêu hóa hấp thu thức ăn. Chính
giữa lông nhung có động mạch, tĩnh mạch và mạch bạch huyết dễ dàng tiếp nhận các
chất từ tế bào biểu mô thấm vào.
- Ruột già: ruột già hấp thu được nước, muối khoáng, glucose, axit béo
bay hơi khí CH4 , H2S.

Giáo trình Giải phẫu – sinh lý vật nuôi

35

Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh

3.2. Quá trình thải phân
Phân là sản phẩm bài tiết của bộ máy tiêu hóa. Khi thức ăn đến trực trànghơn
80% nước được hấp thu nên chất chứa đặc hơn 15-20 lần và bắt đầu hình thành phân.
Ở hậu môn có cơ thắt: Cơ thắt trong thuộc loại cơ trơn hoạt động không theo ý
muốn, cơ thắt ngoài là cơ vân hoạt động theo ý muốn. Khi trực tàng đầy phân nó kích
thích lên thụ quan cơ giới ở đấy gây hưng phấn trung khu thải phân ở tủy sống vùng
khum và ở vỏ não khiến 2 cơ thắt dãn ra, cơ trực tràng co bóp cùng với động tác rặn đẩy
phân ra ngoài.
4. Đặc điểm tiêu hóa trên gia cầm
4.1. Ống tiêu hóa
4.1.1. Miệng
Mỏ gà nhọn, có mép trơn, thích nghi cho việc lấy thức ăn nhỏ và xé rách khối
thức ăn lớn. Mỏ vịt dài dẹp, mép thô, có nhiều gai sừng dùng để cắt mỏ hoặc lọc bùn.
Trong miệng có lưỡi. Lưỡi gà hình mũi tên. Lưỡi vịt đầu hình cung và trên
lưỡi có rãnh giữ nước khi uống và vạn chuyển thức ăn vào trong. Trong miệng có
vòm khẩu cái nhưng không có màng khẩu cái. Tuyến nước bọt không phát triển hoặc rất
kém phát triển.
4.1.2. Thực quản
Là một đoạn dài đi từ cuối miệng đến dạ dày tuyến.
Thực quản có một chỗ phình to gọi là diều để chứa thức ăn. Diều gà rất phát triển,
còn ở vịt ngỗng thì diều nhỏ có hình thoi. Diều không tiết dịch tiêu hóa. Chỉ có tác dụng
chứa, làm thấm ướt và làm mềm thức ăn. Tuy nhiên trong diều vẫn có quá trình tiêu hóa
nhờ hệ vi sinh vật nhưng không đáng kể.
4.1.3. Dạ dày
Gồm 2 phần dạ dày tuyến và dạ dày cơ:
- Dạ dày tuyến: Có hình bầu dục có vách dày, dung tích nhỏ nằm trước dạ dày cơ (còn
gọi là cuống mề). Trong màng nhầy của dạ dỳ tuyến có nhiều tuyến tiết dịch nhầy tiêu
hóa (30-40 tuyến).
+ Chức năng: Là tiết dịch vị nhưng thức ăn không được tiêu hóa ở đây. Mà dịch vị theo
thức ăn vào dạ dày cơ được tiếp tục tiêu hóa ở các giai đoạn sau.
- Dạ dày cơ (mề): Có hình cầu dẹp, do lớp cơ trơn đặc biệt dày chắc tạo thành. Nó
là cơ quan rất phát triển. Phía phải của dạ dày cơ có một lỗ thông với dạ dày tuyến và
một lỗ thông với tá tràng.
Giáo trình Giải phẫu – sinh lý vật nuôi

36

Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh

+ Phía trong dạ dày cơ có nhiều tuyến nhỏ, tiết ra một chất có dạng keo, đễ bị hóa cứng
tạo thành lớp sừng cứng che phủ niêm mạc dạ dày cơ. Tác dụng của lớp sừng này là bảo
vệ thành dạ dày khỏi bị tổn thương khi nghiền thức ăn cứng.
+ Lớp màng này luôn bị bong ra và luôn được bổ sung, thay thế.
+ Dạ dày cơ không tiết dịch vị, chức năng của nó là nghiền ép thức ăn, với sự hỗ trợ của
những hạt sỏi hoặc những hạt cứng khác mà gia cầm ăn vào.
4.1.4. Ruột
Chia thành 2 phần ruột non và ruột già.
* Ruột non:
- Dài khoảng 120cm, đường kính khoảng 1cm. To đều từ đầu đến cuối. Ruột non, bắt
đầu từ quai tá tràng hình chữ U, ở giữa là tuyến tụy, đoạn tiếp là không tràng và hồi
tràng, cuộn khúc và chiếm vị trí khoảng giữa các bao khí trong bụng, và được treo ở
vùng dưới hông.
- Ở niêm mạc ruột non, cũng có nhiều tuyến tueets dịch ruột và có các nhung mao. Quá
trình tiêu hóa và hấp thu thức ăn diễn ra chủ yếu ở ruột non.
* Ruột già:
- Ruột già là đoạn cuối cùng của đoạn ruột dài khoảng 15 – 20cm, rộng khoảng 1 –
1,5cm.
- Manh tràng (ruột thừa): Là 2 túi dài 12 – 15 cm. Chạy dài từ chỗ tiếp giáp ruột non với
ruột già (tại van hồi manh tràng). Hai manh trang hướng về phía trước. Trong manh
tràng có chứa hệ vi sinh vật để phân giải Xellulozo (nhất là gia cầm ăn cỏ như ngỗng, gà
tây …).
- Trực trang là đoạn ngắn, dài khoảng 10 – 15cm, chạy dài từ chỗ manh tràng nối với
ruột non xuống huyệt. Trực tràng còn gọi là đoạn ruột cứng.
+ Khi thức ăn từ ruột non chuyển xuống, thì một phần được tiêu hóa, hấp thu. Phần còn
lại được tái hấp thu tạo thành phân thải vào huyệt, ở huyệt phân hỗn hợp với nước tiểu
để thải ra ngoài.
* Lỗ huyệt là phần mở rộng cuối trực tràng: Nó là hốc của trực tràng, ống dẫn nước tiểu
và ống dẫn tinh (hay ống dẫn trừng ở con cái).
4.2. Tuyến tiêu hóa
4.2.1. Gan
Gan chia làm 2 thùy chính (thùy phải và thù trái).
Thùy phải lớn hơn thùy trái. Cả hai thùy ôm lấy dạ dày cơ và dạ dày tuyến, và
một phần đỉnh tim.
Giáo trình Giải phẫu – sinh lý vật nuôi

37

Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh

Gan tiết ra dịch mật và được tích trữ lạ trong túi mật (nằm ở thùy phải). Túi mật
có ống dẫn mật để đổ vào tá tràng giúp tiêu hóa thức ăn, đặc biệt thức ăn mỡ.
4.2.2. Tuyến tụy
Là một mảnh dài, màu hồng nhạt, nằm giữa quai tá tràng, dịch tụy chứa các
enzyme như ở gia súc để tiêu hóa thức ăn.

CHƯƠNG 6: HỆ TUẦN HOÀN
1. Vị trí, hình thái, cấu tạo
1.1. Hệ thống tuần hoàn máu đỏ
1.1.1. Tim
1.1.1.1. Vị trí, hình thái
- Vị trí: Tim hình nón lộn ngược (đáy trên, đỉnh dưới) nằm trong lồng ngực bị hai lá
phổi trùm che, nhưng lệch về phía dưới lá phổi trái nhiều hơn. Tim nằm theo chiều từ
trên xuống dưới, trước về sau, từ phải sang trái, khoảng xương sườn 3 – 6 bên trái. Đỉnh
tim gần sát mỏm kiếm xương ức.
- Hình thái: Mặt ngoài tim có một rãnh ngang chia tim thành hai nửa không đều
nhau. Nửa phía trên là tâm nhĩ, nửa phía dưới là tâm thất. Trên rãnh này thường
có một lớp mỡ vành tim và có động tĩnh mạch vành đem máu nuôi tim.
1.1.1.2. Cấu tạo
- Ngoài cùng là màng bao tim bao bọc tim và các mạch quản lớn của tim, gồm 2 màng:
ngoài là màng sợi, trong là màng ngoại tâm mạc phủ mặt ngoài cơ tim.
- Cơ tim: Cơ tim cấu tạo giống như cơ vân, tạo nên vách khối tâm nhĩ và tâm thất.
- Màng trong tim là lớp màng mỏng lót ở bên trong các xoang tim tiếp xúc với máu,
hình thành các chân cầu của van tim.
1.1.2. Động mạch
Động mạch là những mạch quản dẫn máu từ tim đến các phần của cơ thể.
+ Đặc điểm:

Giáo trình Giải phẫu – sinh lý vật nuôi

38

Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh

- Trong cơ thể trừ động mạch phổi còn lại tất cả các động mạch đều mang máu đỏ tươi
chứa oxy và chất dinh dưỡng từ tim đến các cơ quan, mô bào.
- Vách động mạch dày và cứng nên luôn căng tròn (ngay cả khi không chứa máu).
- Động mạch lớn nằm sâu trong cơ thể, động mạch nhỏ đi nông gần bề mặt da. Khi đi
cùng tĩnh mạch và thần kinh tương ứng động mạch nằm sâu hơn.
- Khi đi qua các cơ quan có hoạt động co bóp mạnh (dạ dày…) thì động mạch chạy
ngoằn ngoèo để tránh bị căng, đứt.
- Khi đi qua khớp xương động mạch đi ở mặt gấp.
- Một số động mạch đi nông dưới da, sát xương thường dùng để bắt mạch (động
mạch hàm ở ngựa, động mạch đuôi ở trâu bò, động mạch khoeo ở chó).
+ Cấu tạo: thành động mạch gồm có 3 lớp:
- Lớp ngoài cùng: là lớp màng sợi
- Lớp giữa rất dày gồm các sợi cơ trơn và sợi chun (co giãn, đàn hồi).
- Lớp trong: hay lớp nội mạc chỉ có một tầng tế bào tiếp xúc với máu.
1.1.3. Tĩnh mạch
Là những mạch máu đưa máu từ tổ chức, cơ quan trong cơ thể về tim (tâm nhĩ)
+ Cấu tạo: thành tĩnh mạch có cấu tạo giống động mạch nhưng mỏng hơn.
+ Đặc điểm:
- Xẹp xuống khi không có máu nhưng căng phồng lên khi chứa nhiều máu.
- Thường nằm nông dưới da, nên người ta thường lợi dụng để đưa thuốc qua đường tĩnh
mạch.
- Đường kính của tĩnh mạch lớn hơn đường kính của động mạch tương ứng.
- Lòng tĩnh mạch lớn có van hường tâm.
1.1.4. Mao mạch
Là những mạch quản giao nhau giữa động mạch và tĩnh mạch vì tại đây sẽ xảy ra
trao đổi chất giữa máu và mô bào vì vậy thành mao mạch rất mỏng.
1.2. Hệ thống bạch huyết
1.2.1. Mạch bạch huyết
+ Mao mạch bạch huyết: Kích thước lớn hơn mao mạch huyết, một đầu bịt kín
nằm len lỏi giữa các tế bào.

Giáo trình Giải phẫu – sinh lý vật nuôi

39