Tải bản đầy đủ
Vị trí, hình thái, cấu tạo đường (ống) tiêu hóa

Vị trí, hình thái, cấu tạo đường (ống) tiêu hóa

Tải bản đầy đủ

Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh

+ Răng nanh: Nhọn, dùng để xé nhỏ thức ăn. Lỏài nhai lại không có răng nanh.
+ Răng trước hàm và răng hàm: Dùng để nghiền thức ăn.
1.2. Hầu
Là một xoang ngắn, hẹp nằm sâu xoang miệng và màng khẩu cái, trước thực quản
và thanh quản, dưới hai lỗ thông lên mũi. Yết hầu là nơi giao nhau (ngã tư) giữa đường
tiêu hóa và đường hô hấp. Nó có nhiệm vụ dẫn khí từ xoang mũi xuống thanh quản, dẫn
thức ăn từ miệng xuống thực quản.
1.3. Thực quản
1.3.1. Vị trí, hình thái
Là ống dẫn thức ăn từ yết hầu xuống dạ dày. Thực quản chia làm 3 đoạn: Cổ,
ngực và bụng.
- Đoạn cổ từ yết hầu đến cửa vào lồng ngực (trước đôi xương sườn số 1), 2/3 phía
trước nó đi trên khí quản, 1/3 phía sau bẻ cong xuống dưới sang trái và đi song song bên
trái khí quản.
- Đoạn ngực: thực quản đi lên khí quản, giữa hai lá phổi đến cơ hoành.
- Đoạn bụng: sau khi xuyên qua cơ hoành, thực quản bẻ cong xuống dưới sang trái đổ
vào đầu trái dạ dày.
1.3.2. Cấu tạo
Cấu tạo của thực quản: Từ ngoài vào gồm có các lớp.
+ Lớp ngoài: Tương mạc sợi mỏng.
+ Lớp giữa: Lớp cơ có màu đỏ tươi là cơ vân, cơ vân ở trước, cơ trơn ở sau.
+ Lớp trong: Lớp niêm mạc - có ít tuyến nhờn.
1.4. Dạ dày
1.4.1. Dạ dày đơn
1.4.1.1. Vị trí, hình thái
Dạ dày là túi chứa thức ăn, hình trăng khuyết nằm trong xoang bụng, sau cơ
hoành và gan, trước khối ruột, hơi lệch về bên trái bụng, khoảng xương sườn số 6 – 12.
Dạ dày có hai đầu, hai cạnh và hai mặt.
- Đầu trái dạ dày thông với thực quản ở lỗ thượng vị.
- Đầu phải thon nhỏ thông với tá tràng qua lỗ hạ vị.
- Cạnh trên là đường cong nhỏ có dây chằng gắn chặt dạ dày vào rốn gan (mặt sau gan)
và mặt sau cơ hoành.
Giáo trình Giải phẫu – sinh lý vật nuôi

27

Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh

- Cạnh dưới là đường cong lớn có màng treo gắn chặt vào dưới thành bụng.
1.4.1.2. Cấu tạo
Dạ dày được cấu tạo bởi 3 lớp:
- Lớp ngoài cùng: là tương mạc.
- Lớp giữa: lớp cơ trơn gồm: cơ vòng ở trong, cơ chéo ở giữa và cơ dọc ở ngoài.
- Lớp trong: là niêm mạc có nhiều tuyến tiết ra dịch tiêu hóa và a xít clohydric HCl
1.4.2. Dạ dày kép
1.4.2.1. Vị trí, hình thái
- Dạ dày kép là một khối rất lớn chiếm hết nửa trái xoang bụng, gồm có 4 túi là
dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách, dạ múi khế.
- Khi trưởng thành, tỉ lệ các túi này như sau:
+ Dạ cỏ 80%
+ Dạ lá sách 7- 8%
+ Dạ tổ ong 5% Dạ múi khế 7- 8%
- Ở bê nghé con mới sinh thì dạ cỏ và dạ lá sách bằng một nửa dạ múi khế, còn
dạ tổ ong cũng rất nhỏ và không có nhiệm vụ gì.
- Dạ cỏ: To nhất trong số 4 túi, chiếm gần hết nửa trái bụng, dung tích 200 - 300 lít. Khi
vật ăn no dạ cỏ sẽ áp sát lõm hông bên trái, nên có thể kiểm tra dạ cỏ ở lõm hông trái.
- Dạ tổ ong: Là túi nhỏ như quả bưởi nằm dưới bên trái dạ cỏ, sau cơ hoành trên mỏm
kiếm xương ức, khoảng sụn sườn 6 - 8 bên trái. Có rãnh thực quản chạy qua, phía trước
thông với dạ cỏ, phía sau thông với dạ lá sách.
- Dạ lá sách: Túi lớn thứ hai, tròn to như quả bóng, nằm bên phải dạ tổ ong, trước túi
phải dạ cỏ, khoảng giữa xương sườn thứ 7 - 10 bên phải.
- Dạ múi khế: Là dạ dày tiêu hóa hóa học. Giống quả bí đao, dung tích 8 - 20 lít. Nằm
dưới và sau dạ lá sách trên đường thẳng giữa bụng nối từ xương ức đến háng trong
khoảng xương sườn số 9 - 13. Có hai lỗ thông: lỗ trước thông với dạ lá sách, lỗ sau (lỗ hạ
vị) thông với tá tràng của ruột non.
1.4.2.2. Cấu tạo
- Dạ cỏ gồm 3 lớp: lớp ngoài là lớp tương mạc, giữa là lớp cơ trơn, trong cùng là niêm
mạc, không có tuyến tiết dịch.
- Dạ tổ ong gồm 3 lớp: ngòai là tương mạc, giữa là lớp cơ trợn. trong là niêm mạc, bề
mặt của niêm mạc có nhiều gấp nếp hình đa giác giống tổ ong.
Giáo trình Giải phẫu – sinh lý vật nuôi

28

Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh

- Dạ lá sách có 3 lớp: ngoài là lớp tương mạc, giữa là lớp cơ trơn, trong cùng là lớp niêm
mạc, trên niêm mạc có các gấp nếp mỏng hình trăng lưỡi liềm (giống trang sách) xếp lại
với nhau theo trật tự nhất định.
- Dạ múi khế có 3 lớp: Lớp tương mạc bao trùm toàn bộ mặt ngoài. Lớp cơ gồm
có 2 lớp, lớp ngoài đi theo chiều dọc, lớp trong đi vòng, cơ là cơ trơn. Lớp niêm
mạc trong cùng có nhiều tuyến tiết dịch.
1.5. Ruột non
1.5.1. Vị trí, hình thái
Ruột non là ống dài gấp đi gấp lại nhiều lần, nối từ lỗ hạ vị của dạ dày đến
van hồi manh tràng. Ở bò ruột non dài khoảng 30 - 40 m, đường kính 3 - 5 cm.
Ruột non lợn dài từ 10 - 12 m, đường kính 1 - 2 cm.
Ruột non chia làm 3 đoạn ranh giới không rõ rệt là:
- Tá tràng: là đoạn đầu tiên nối tiếp sau dạ dày, dài 1 - 1.5 m thường bẻ
cong hình chữ S (lợn, ngựa) hoặc hình chữ U (bò) gọi là quai tá tràng. Trên niêm
mạc tá tràng có lỗ đổ ra của ống mật và ống dẫn tụy .
- Không tràng: là đoạn dài nhất cuộn đi cuộn lại thành một khối lớn phía
sau dạ dày sát lõm hông trái (lợn), ở bò nó nằm phía sau và dưới bụng bên phải.
- Hồi tràng: dài từ 50 - 75cm nối tiếp với manh tràng của ruột già. Nó lồi
vào bên trong lòng manh tràng gọi là van hồi - manh tràng
- Hình thái: ruột non có 2 đường cong:
+ Đường cong lớn tròn, trơn, tự do.
+ Đường cong nhỏ có màng treo ruột bám vào. Màng treo ruột là nơi cho mạch máu,
thần kinh, mạch bạch huyết (lâm ba) đi vào ruột để nuôi dưỡng và vận chuyển chất dinh
dưỡng hấp thụ từ ruột theo máu về gan. Trên màng treo ruột có các hạch lâm ba.
1.5.2. Cấu tạo
- Ngoài là lớp tương mạc.
- Giữa là lớp cơ trơn gồm vòng trong, dọc ngoài, chéo giữa.
- Trong là lớp niêm mạc màu hồng nhạt tạo ra nhiều nếp gấp dọc để tăng diện tích bề
mặt tiếp xúc với thức ăn. Niêm mạc ruột có các tuyến tiết dịch ruột chứa các men tiêu hóa:
đạm, mỡ và bột đường…

Giáo trình Giải phẫu – sinh lý vật nuôi

29

Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh

1.6. Ruột già
1.6.1. Vị trí, hình thái
- Ruột già là đoạn nối với ruột non ở manh tràng và thông ra ngoài qua hậu
môn, ruột già được chia làm 3 đoạn:
+ Manh tràng: là đoạn đầu của ruột già thông với ruột non ở đoạn hồi tràng.
+ Kết tràng: ở trâu bò nó cuộn lại thành 3 - 4 vòng tròn áp sát thành bụng bên phải. Ở
lợn manh tràng cuộn lại thành 3 - 4 vòng xoắn ốc sau dạ dày, trước manh tràng, bên trái
bụng.
+ Trực tràng: là đoạn ruột thẳng sau kết tràng, từ cửa xoang chậu đến hậu môn, trong
xoang chậu nó đi dưới xương khum, trên tử cung âm đạo (ở con cái), trên bóng đái, niệu
đạo (ở con đực).
1.6.2. Cấu tạo
- Cấu tạo ở ruột già: chia làm ba lớp:
+ Ngoài là lớp tương mạc.
+ Giữa là lớp cơ trơn gồm cơ vòng và cơ dọc.
+ Trong cùng là lớp niêm mạc. niêm mạc ruột già không có gấp nếp dọc, không có lông
nhung nhưng có nhiều nang bạch huyết.
1.7. Hậu môn
- Hậu môn là cửa sau của đường tiêu hoá, sau trực tràng, nó giống miệng túi thắt
lại nhăn nheo, ở con béo hậu môn lồi ra, con gầy, già hậu môn tụt vào trong.
- Cấu tạo: Lớp da mỏng mịn không có lông nhưng có nhiều tuyến bã, lớp cơ có
cơ trơn của trực tràng và vòng nhẫn tạo thành lớp cơ thắt trong. Lớp cơ vân ở
cuối chắc khoẻ, hoạt động theo ý muốn làm chỗ bám cho cơ co rút hậu môn. Lớp
cơ vân co thắt gồm nhiều sợi cơ vòng, các sợi cơ này bám vào gốc đuôi và bám
vào vùng Perinee.
2. Cấu tạo và chức năng của cơ quan ngoài ống tiêu hoá
2.1. Tuyến nước bọt
- Gồm ba đôi tuyến.
+ Tuyến dưới tai: Nằm ngay phía dưới tai, ngang nhánh đứng của xương hàm
dưới. Nó có ống thông vào miệng là ống stenon đổ nước bọt vào phía trong má,
phía ngoài răng hàm trên số 3- 4- 5 tùy loài gia súc.
- Tuyến dưới hàm: Nằm ngay phía dưới tuyến nước bọt dưới tai (bờ dưới của
xương hàm dưới). Tuyến này có ống thông vào miệng là ống wharton đổ nước
Giáo trình Giải phẫu – sinh lý vật nuôi

30

Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh

bọt ra phía dưới lưỡi.
- Tuyến dưới lưỡi: Nhỏ hơn so với hai tuyến trên, nằm hai bên cạnh, dưới lưỡi.
Nó có ống thông vào miệng là ống rhivinus đổ nước bọt vào xoang miệng.
2.2. Tuyến tụy
- Là một dải màu hồng nhạt hoặc vàng nhạt bám vào đường cong nhỏ đoạn quai tá tràng
(chữ S hoặc U).
- Chức năng: có hai chức năng
+ Ngoại tiết: tiết dịch tụy chứa men tiêu hóa đổ vào tá tràng để tiêu hóa thức ăn.
+ Nội tiết: tiết ra hoocmone tuyến tụy gồm:
* Glucagon có tác dụng phân giải glycogen tích trữở gan thành đường glucose tự do đi
vào máu đưa đến các mô bào.
* Insulin tăng cường sự tổng hợp glucose thành glycogen để tích trữ ở gan.
2.3. Gan
2.3.1. Vị trí, hình thái
- Là tuyến tiêu hóa lớn nhất trong cơ thể, nằm trong xoang bụng sau cơ hoành, trước dạ
dày.
- Hình thái: gan có hai mặt và hai cạnh:
+ Mặt trước cong lồi theo chiều cong cơ hoành.
+ Mặt sau sát dạ dày, chứa rốn gan nơi đi vào của động mạch gan, tĩnh mạch cửa và
thần kinh, các hạch lâm ba và ống dẫn mật.
+ Cạnh trên dày, có tĩnh mạch chủ sau và thực quản đi qua.
+ Cạnh dưới mỏng, sắc có các mẻ chia gan thành nhiều thùy.
+ Ở ngựa gan có 5 thùy: thùy trái, thùy giữa trái, thùy vuông, thùy phải và thùy phụ.
Không có túi mật.
+ Ở bò: gan bò rất dày phân thùy không rõ ràng, gồm 4 thùy: thùy trái, thùy vuông, thùy
phải và thùy phụ. Túi mật dính vào thùy vuông.
+ Ở lợn, chó: gan chia làm 6 thùy: thùy trái, thùy giữa trái, thùy vuông, thùy giữa phải,
thùy phải và thùy phụ. Túi mật nằm sau thùy giữa phải.
2.3.2. Cấu tạo
- Cấu tạo: Mặt ngoài gan được bao bọc bởi màng sợi rất mỏng. Màng này chui vào trong
nhu mô gan tạo thành các vách ngăn phân chia thành các thùy, tiểu thùy gan.
+ Gan lợn chia thành 4 thùy, thùy thứ 3 bên trai sang chưa tui mât. Gan bò là một
Giáo trình Giải phẫu – sinh lý vật nuôi

31