Tải bản đầy đủ
Các tuyến nội tiết

Các tuyến nội tiết

Tải bản đầy đủ

Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh

* Hormone của thùy trước tuyến yên:
- STH (Somato Tropin Hormone) còn gọi là hormone sinh trưởng. Tác dụng chính là
kích thích sự sinh trưởng của cơ thể, thông qua con đường tăng tổng hợp protein, tăng
phân chia, tăng sinh và biệt hóa tế bào.
+ Nếu thừa STH thì cơ thể mắc chứng khổng lồ.
+ Nêu thiếu STH thì cơ thể mắc chứng lùn bé.
- TSH (Thyroid Stimulating Hormone) có bản chất là glycoprotein, còn gọi là kích giáp
trạng tố, có tác dụng kích thích sự phát dục của tuyến giáp trạng, tuyến này tiết ra
Thyroxin Hormone.
- ACTH (Adreno Cortico Tropin Hormone) còn gọi là kích vỏ thượng thận tố. Có tác
dụng kích thích sự phát triển của lớp vỏ tuyến thượng thận. Kích thích tổng hợp và bài
tiết Hormone vỏ thượng thận là gluco cocticoid. Hormone này chỉ tác dụng lên phần vỏ
thượng thận nên còn có tên là CTH.
* Hormone sinh dục: GnSH (Gonado Stimulating Hormone).
- Con cái gồm các loại sau:
+ FSH (Folliculo Stimulating Hormone) kích noãn tố kích thích sự phát triển của noãn
bào, làm cho noãn bào tăng sinh và lớn lên. Nó còn kích thích noãn bào tiết ra
Oestrogen.
+ LH (Luteino Stimulating Hormone) kích hoàn thể tố, có tác dụng chính là kích thích
trứng chín và sự rụng trứng của những noãn hoàng đã chín. Sau khi trứng rụng LH kích
thích phần sẹo còn lại hình thành thể vàng.
+ LTH (Luteino Trophin Hormone) hay còn gọi là Prolactin. Có tác dụng duy trì thể
vàng sau khi trứng rụng và được thụ tinh, kích thích thể vàng tiết Progesterone.
- Con đực gồm các loại sau:
+ FSH còn gọi là Hormone tạo tinh. Có tác dụng kích thích tế bào sinh tinh trong ống
sinh tinh. Làm tăng hoạt lực tinh trùng.
+ ICSH (Intermediw Coctico Stimulating Hormone) còn gọi là Hormone tế bào kẽ
(tương đương với LH ở con cái). Tác dụng chính là kích thích tế bào Leyding (tế bào
kẽ) kích thích bài tiết Androgen là hormone sinh dục đực.
* Hormone của thùy giữa tuyến yên: Tiết ra kích hắc tố MSH (Melanocyte Stimulating
Hormone) tác dụng làm cho các hạt sắc tố trong tế bào từ vị trí tập trung sang phân tán
đều ở bề mặt tế bào tạo màu đen thẫm.
* Hormone của thùy sau tuyến yên:

Giáo trình Giải phẫu – sinh lý vật nuôi

17

Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh

- Oxytoxin (còn gọi là hormone thúc đẻ) tác dụng của nó là gây co rút sợi cơ trơn tử
cung để đẩy thai ra ngoài khi đẻ. Nó còn gây co rút cơ trơn bể sữa và ống dẫn sữa để
thải sữa ra ngoài. Nó cũng còn làm co mạch máu nhỏ, nhất là mạch máu của tử cung.
- Vazopressin còn gọi là ADH (Anti diuretin Hormone) (còn gọi là hormonr kháng lợi
niệu) tác dụng chính là tăng tái hấp thu nước ở ống thận nhỏ. Đóng vai trò quan trọng
trong điều hòa nước của cơ thể.
4.2. Tuyến giáp trạng và nội tiết tố
- Vị trí, hình thái, cấu tạo: Tuyến giáp trạng gồm hai thùy nhỏ nằm hai bên đầu
trên khí quản, cạnh sụn giáp trạng (từ vòng sụn 1- 3). Hai thùy đó thường có một
eo nối giữa. Ở bò hai thùy thấy rõ còn ở lợn hai thùy không rõ lắm.
- Các kích thích tố của tuyến giáp trạng:
+ Thyroxin: Tác dụng chính là tăng cường trao đổi chất. Đối với cơ thể non đang
lớn thì nó kích thích sinh trưởng, đối với cơ thể đã trưởng thành thì nó làm tăng
cường trao đổi cơ bản, tăng tạo nhiệt để tạo năng lượng cho cơ thể hoạt động.
+ Tirocanxitonin: Hormone mới được Hirsh tìm thấy năm 1963, tác dụng của nó
là hạ canxi huyết. Ngoài ra còn làm giảm tái hấp thu Na, và Clo ở ống lượn gần.
4.3. Tuyến phó giáp trạng và nội tiết tố
- Vị trí, hình thái: Tuyến cận giáp gồm 4 thùy riêng biệt, bé bằng hạt đậu xanh,
nằm ở 4 bên và dính chặt vào tuyến giáp.
- Chức năng sinh lý:
+ Tiết kích thích tố cận giáp trạng là parathyroxin (tên khác là parathormone) có
tác dụng làm tăng lượng canxi và giảm phốt pho trong máu. Nếu parathyroxin
quá nhiều, xương mất dần canxi dễ bị biến dạng và dễ gãy. Nếu parathyroxin ít
thì lượng phốt pho trong máu tăng, nên tỷ lệ Ca/P biến đổi, nên sự cốt hóa xương
bị rối loạn.
+ Tỷ lệ Ca/P ổn định có ý nghĩa lớn trong việc tạo các hợp chất quan trọng của
xương như Ca 3 (PO 4 ) 2 ...
4.4. Tuyến tụy và nội tiết tố
- Vị trí, hình thái:
+ Tuyến tụy (gồm 2 phần ngoại tiết và nội tiết) thường có hình lá hay hình rẽ 3,
có màu hồng nhạt hoặc vàng nhạt, thường nằm gần tá tràng (ở bò) hay quai tá
tràng (ở lợn).

Giáo trình Giải phẫu – sinh lý vật nuôi

18

Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh

+ Phần đảo tụy hay là phần nội tiết của tuyến tụy gồm một đám tế bào nôi tiết
nổi lên trên mặt tuyến tụy (nhìn qua kính hiển vi) như một ốc đảo, còn gọi là đảo
langerhang.
- Chức năng sinh lý:
+ Insulin: Tác dụng làm giảm lượng đường huyết bằng cách chuyển glucoza
thành glycogen dự trữ ở gan, cơ. Cách thứ 2 là gia tăng sự oxy hóa glucoza trong
tế bào. Ngoài ra insulin còn làm gia tăng tổng hợp protit.
+ Glucagon: Tác dụng làm tăng đường huyết (tương tự như adrenalin và
ngược lại với insulin).
+ Lipocain: Mới phát hiện, còn đang được tiếp tục nghiến cứu. Thấy rằng nếu
thiếu lipocain thì gan sẽ bị nhiễm mỡ.
+ Noãn tố ơstrogen (oestrogen): Có tác dụng duy trì đặc tính sinh dục phụ
thứ cấp của con cái, kích thích sự phát dục và hoạt động của cơ quan sinh
dục cái.
+ Kích tố thể vàng progesteron: Tác dụng cùng oestrogen xúc tiến hơn nữa
sự phát dục và hoạt động của cơ quan sinh dục cái. Tác dụng đặc biệt của nó
là làm mềm sợi cơ trơn tử cung , tăng cương mach mau đem mau đến tư
cung, giữ an thai trong thời kỳ mang thai. Ngoài ra progesteron cũng góp
phần làm cho tế bào trứng không rụng nữa, không có chu kỳ tính ở con cái.
+ Relaxin có tác dụng làm giãn khớp xương hang.
+ Nhau thai được hình thành ngay trong thời kỳ đầu gia súc cái có thai. Bên cạnh
nhiệm vụ giữ mối liên hệ về tuần hoàn và dinh dưỡng giữa mẹ và bào thai, nó
còn có chức năng như một tuyến nội tiết.
+ Androgen có tác dụng tạo nên đặc tính sinh dục phụ thứ cấp của con đực và
làm tăng đồng hoa protit khá mạnh.
4.5. Tuyến thượng thận và nội tiết tố
- Vị trí, hình thái, cấu tạo:
+ Tuyến thượng thận gồm 2 tuyến nhỏ nằm ở đầu trước hai quả thận. Tuyến này
chia làm 2 miền rõ rệt. Mỗi miền tiết một số hormone và có những chức năng
sinh lý khác nhau.
+ Cấu tạo: Gồm 2 miền là miền tủy và miền vỏ.
- Chức năng sinh lý
+ Hormone miền tủy: Tiết hai hormone chính là adrenalin (A) và noradrenalin
(N). Hai hormone này về cơ bản có những chức năng sinh lý giống nhau, chỉ
Giáo trình Giải phẫu – sinh lý vật nuôi

19

Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh

khác nhau về mức độ tác động.
Ví dụ: Tăng nhịp tim, tăng tính hưng phấn và sức co bóp của tim (A
mạnh hơn N).
Làm co mạch máu, tăng huyết áp (N>A).
Tăng đường huyết, kích thích phân giải glycogen ở gan, cơ thành
glucoza (A mạnh, N không rõ).
Giãn đồng tử mắt, co cơ dựng lông (A>N).
+ Hormone miền vỏ: Cortin có nhiều loại với tên gọi và tác dụng khác nhau
(coctizon, dezoxycocticosteron, andrococticoit). Tác dụng chính là:
- Ức chế việc hấp thụ canxi từ thức ăn qua ruột vào cơ thể.
- Duy trì lượng NaCl trong máu.
- Ở nồng độ nhất định có tác dụng tăng tổng hợp protit.
- Có khả năng kháng viêm, kháng dị ứng mạnh.
- Giúp cơ hoạt động mạnh bằng cách kích động các phản ứng hóa học ở cơ.

+ Miền vỏ rất cần thiết cho sự sống. Nếu cắt bỏ miền vỏ thượng thận con vật sẽ
chết trong vài giờ.

Giáo trình Giải phẫu – sinh lý vật nuôi

20

Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh

CHƯƠNG 4: HỆ VẬN ĐỘNG
1. Cơ vân
1.1. Khái niệm về cơ
1.1.1. Vị trí cơ vân
- Vị trí của cơ vân:
+ Cơ vân bám vào xương và là bộ phận vận động chủ động. Khi cơ co sinh ra công và
lực phát động làm cho một bộ phận hoặc toàn bộ cơ thể di chuyển vị trí trong không
gian.
+ Cơ vân bám bên ngoài xương tạo nên hình dáng bên ngoài của cơ thể con vật.
1.1.2. Cấu tạo cơ vân
- Cấu tạo của cơ vân: Cắt ngang một cơ ta thấy các phần cấu tạo sau:
+ Màng bọc ngoài: là tổ chức sợi liên kết màu trắng bọc ngoài phần thịt.
+ Trong là nhiều bó cơ: mỗi bó chứa nhiều sợi cơ được bao bọc bởi màng bọc trong.
Mỗi sợi cơ do nhiều tế bào cơ tạo thành.
2. Cấu tạo của bộ xương
2.1. Xương đầu
2.1.1. Xương vùng sọ
- Xương sọ: Có 6 xương hợp thành gồm: xương trán, đỉnh, chẩm, bướm, sàng và xương
thái dương. Các xương này mỏng, dẹp, rỗng ở giữa, liên kết với nhau bằng các khớp bất
động tạo thành xoang sọ chứa não. Phía sau khớp với đốt sống cổ số 1 có thể cử động
dễ dàng.
2.1.2. Xương vùng mặt
- Xương mặt: Gồm 10 xương gồm: xương mũi, xương lệ, xương gò má, xương hàm
trên, xương liên hàm, xương khẩu cái, xương lá mía, xương ống cuộn, xương cánh và
xương hàm dưới. Các xương đều mỏng, dẹp, đa dạng, tạo thành các hốc (hốc mắt, hốc
mũi, hốc miệng…) và các xoang. Các xương dính liền tạo thành khối . Xương hàm dưới
khớp với xương thái dương của hộp sọ, tạo thành khớp toàn động duy nhất ở vùng đầu.
Giáo trình Giải phẫu – sinh lý vật nuôi

21

Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh

2.2. Xương thân
2.2.1. Xương sống
- Xương sống do rất nhiều đốt sống nối tiếp nhau tạo thành. Đốt sống cổ số 1 khớp với
lồi cầu xương chẩm tạo khớp toàn động làm cho đầu có thể quay về mọi phía. Phía sau
các đốt sống thoái hóa dần tạo thành đuôi. Cột sống chia thành 5 vùng: Cổ, lưng, hông ,
khum, đuôi.
2.2.2. Xương sườn
- Xương sườn là xương dài cong, mỏng, dẹp có hai đầu (trên, dưới), phần giữa là thân.
+ Đầu trên: Lồi tròn, khớp với đài khớp của đốt sống lưng cùng số.
+ Đầu dưới: Đầu xương sườn nối tiếp với một đoạn sụn ngắn. Ở một số xương sườn,
đoạn sụn này gắn lên mặt trên xương ức gọi là xương sườn thật. Xương sườn có các
đoạn sụn nối liền tạo thành vòng cung sụn sườn (bên phải và bên trái) gọi là xương sườn
giả.
2.2.3. Xương ức
Là xương lẻ hình cái thuyền, mỏng, xốp nắm dưới lồng ngực, làm chỗ tựa cho các
sụn sườn.
Xương ức có một thân hai đầu, được tạo thành từ các đốt xương ức: bò, ngựa có 7
đốt, lợn có 6 đốt nối với nhau bởi các đĩa sụn.
- Đầu trước: Gọi là mỏm khí quản (vì khí quản đi sát mặt trên của đầu trước). Hai bên
có hai hố để khớp với đôi xương sườn số 1.
- Đầu sau hay mỏm kiếm xương ức: là đốt ức cuối cùng, gần giống ½ hình tròn. Sụn này
rất mỏng và không cốt hóa thành xương được.
2.3. Xương chi
2.3.1. Xương chi trước
Gồm các xương bả vai, xương cánh tay, xương cẳng tay, xương cổ tay (xương
cườm), xương bàn tay và xương ngón tay.
- Xương bả vai: gia súc có hai xương bả vai không khớp với xương sống. Nó được đính
vào hai bên lồng ngực nhờ các cơ và tổ chức liên kết. Xương bả vai mỏng, dẹp, hình
tam giác, đầu to ở trên gắn với mảnh sụn, đầu nhỏ ở dưới khớp với xương
cánh tay. Xương nằm chéo từ trên xuống dưới, từ sau ra trước.
- Xương cánh tay: là xương ống (xương dài) có một thân và hai đầu.
+ Đầu trên to, phía trước nhô cao, phía sau lồi tròn gọi là lồi cầu để khớp với hố lõm
đầu dưới của xương bả vai.
Giáo trình Giải phẫu – sinh lý vật nuôi

22