Tải bản đầy đủ
2 CÁC DỊCH VỤ CUNG CẤP QUA MẠNG MAN-E

2 CÁC DỊCH VỤ CUNG CẤP QUA MẠNG MAN-E

Tải bản đầy đủ

35
2.2.2 Kênh kết nối ảo Ethernet (EVC: Ethernet Virtual Connection)
Một thành phần cơ bản của mạng MAN-E là kênh kết nối ảo Ethernet. Một EVC là
một kênh kết nối giữa hai hoặc nhiều giao diện UNI. Các giao diện UNI này được gọi là
các giao diện UNI thuộc kênh EVC. Một giao diện UNI có thể có thể thuộc một hay nhiều
kênh EVC tùy thuộc vào sự ghép kênh trên dịch vụ. Mỗi khung dịch vụ đi vào mạng
MAN-E phải đến 1 EVC nào đó, giao diện UNI mà khung dịch vụ đi đến để vào MAN-E
gọi là UNI đầu vào. Khung dịch vụ đi vào khung EVC sẽ được truyền đến một giao diện
UNI khác thuộc kênh EVC đó và không thể truyền đến giao diện UNI không thuộc kênh
EVC. Mỗi kênh EVC luôn cho phép truyền theo hai hướng.
Có hai loại kênh ECV là EVC điểm – điểm và EVC đa điểm.[8]


Kênh EVC điểm – điểm: là kênh EVC kết nối hai giao diện UNI với nhau.
Khung dịch vụ đi vào giao điện UNI này chỉ có thể đi ra giao diện UNI kia và
ngược lại.

Hình 2.6: EVC điểm – điểm


Kênh EVC đa điểm: là kênh EVC kết nối từ hai giao diện UNI trở lên với nhau.
Kênh EVC đa điểm có hai giao điện UNI khác với kênh điểm–điểm ở chỗ có

Nguyễn Quang Huy lớp – Cao học K7

Luận văn thạc sĩ

36
thể thêm vào một hoặc nhiều giao diện UNI khác. Có hai loại kênh EVC đa
điểm là kênh EVC đa điểm – đa điểm và kênh EVC dạng cây.


EVC đa điểm – đa điểm, các giao diện UNI kết nối bình đẳng với nhau. Mỗi
khung dịch vụ có thể có thể được truyền trực tiếp từ UNI này đến bất kỳ
một UNI nào khác cùng thuộc vào kênh EVC.



Hình 2.7: EVC điểm – đa điểm


EVC dạng cây, có một số giao diện UNI được xem là gốc và các giao diện
UNI còn lại là lá. Gói tin từ giao diện UNI gốc và có thể truyền trực tiếp
đến tất cả các giao diện UNI khác cùng thuộc kênh EVC. Với các giao diện
UNI lá, nếu muốn truyền đến một giao diện UNI khác phải truyền qua giao
diện gốc.[8]

Hình 2.8: EVC dạng cây
Nguyễn Quang Huy lớp – Cao học K7

Luận văn thạc sĩ

37
2.2.3 Các loại dịch vụ trong MAN-E
Nguyên thủy của Ethernet là để cung cấp kết nối và không cung cấp các dịch vụ
WAN. Với hệ thống Metro các nhà cung cấp dịch vụ bắt đầu sử dụng công nghệ kết nối
Ethernet để cung cấp các dịch vụ. Dựa vào giao thức Ethernet 802.3 của IEEE, cộng thêm
các tham số về dịch vụ tạo nên các dịch vụ Ethernet.
MAN-E có các dịch vụ cơ bản là: dịch vụ Ethernet Line (E-Line), Ethernet LAN
(E-LAN) và Ethernet Tree (E-Tree). Dựa vào các dịch vụ cơ bản này, các nhà cung cấp
dịch vụ có thể đưa ra nhiều loại hình dịch vụ khách nhau cho khách hàng.
2.2.3.1 Khuôn khổ định nghĩa dịch vụ Ethernet (Ethernet Definition Framework)
Để giúp những thuê bao có thể hiểu rõ hơn sự khác nhau trong các Dịch vụ
Ethernet, MEF đã phát triển các Khuôn khổ Định nghĩa dịch vụ Ethernet. Mục tiêu của hệ
thống này là:
- Định nghĩa và đặt tên cho các kiểu dịch vụ Ethernet.
- Định nghĩa những thuộc tính (attribute) và các thông số của thuộc tính (attribut
parameters) được dùng để định nghĩa một dịch vụ Ethernet riêng biệt.

Hình 2.9: Khuôn khổ định nghĩa dịch vụ Ethernet
Để định rõ một cách hoàn toàn về dịch vụ Ethernet, nhà cung cấp phải xác định
kiểu dịch vụ và UNI; các thuộc tính của dịch vụ EVC đã kết hợp với kiểu dịch vụ đó. Các
thuộc tính này có thể được tập hợp lại theo những dạng sau:[7]
- Giao diện vật lý (Ethernet Physical Interface).
- Thông số lưu lượng (Traffic Parameters)
Nguyễn Quang Huy lớp – Cao học K7

Luận văn thạc sĩ

38
- Thông số về hiệu năng (PerforMAN-Ece Parameters).
- Lớp dịch vụ (Class of Service).
- Service Frame Delivery
- Hỗ trợ các thẻ VLAN (VLAN Tag Support)
- Ghép dịch vụ (Service Multiplexing).
- Gộp nhóm (Bundling).
- Lọc bảo mật (Sercurity Filters).
2.2.3.2 Dịch vụ E-Line
Dịch vụ kênh Ethernet cung cấp kết nối ảo Ethernet điểm - điểm (EVC) giữa hai
UNI như minh hoạ trên hình 2.10. Dịch vụ E -Line được sử dụng cho kết nối điểm - điểm.

Point-to-Point
EVC
CE

UNI

MAN-E

CE

UNI

E-Line Service type

Hình 2.10: Dịch vụ E-Line
Dịch vụ E - Line có thể cung cấp băng thông đối xứng cho truyền số liệu theo hai
hướng. Ở dạng phức tạp hơn nó có thể tạo ra tốc độ thông tin tốt nhất (CIR) và kích thước
khối tốt nhất (CBS), tốc độ thông tin đỉnh và kích thước khối đỉnh trễ, jitter, độ mất mát
thực hiện giữa hai UNI có tốc độ khác nhau.
Tại mỗi UNI có thể thực hiện ghép dịch vụ từ một số EVC khác nhau. Một số EVC
điểm - điểm có thể được cung cấp trên cùng một cổng vật lý tại một trong các giao diện
UNI trên mạng.

Nguyễn Quang Huy lớp – Cao học K7

Luận văn thạc sĩ

39
Một dịch vụ E-Line có thể cung cấp các EVC điểm - điểm giữa các UNI tương tự
để sử dụng các chuyển tiếp khung PVC để kết nối các bên với nhau.
Một dịch vụ E - Line có thể cung cấp một kết nối điểm - điểm giữa các UNI tương
tự nhau đến một dịch vụ đường riêng TDM. Đây là dịch vụ kết nối giữa hai UNI và tạo ra
các khung dịch vụ hoàn toàn trong suốt giữa các UNI, tiêu đề và tải của khung đặc trưng
cho UNI nguồn và đích.
Nhìn chung dịch vụ E - Line có thể được sử dụng để xây dựng các dịch vụ tương
tự cho chuyển tiếp khung hoặc các đường thuê riêng. Tuy nhiên, dải băng tần và các khả
năng kết nối của nó lớn hơn nhiều.
2.2.3.3 Dịch vụ E-LAN
Dịch vụ LAN Ethernet cung cấp các kết nối đa điểm, chẳng hạn có thể kết nối một
số UNI với nhau như chỉ ra ở hình sau.

Hình 2.11: Dịch vụ E-LAN
Số liệu thuê bao gửi từ một UNI có thể được nhận tại một hoặc nhiều UNI khác.
Mỗi UNI được kết nối đến một EVC đa điểm. Khi có các UNI thêm vào, chúng được kết
nối đến cùng EVC đa điểm do đó đơn giản hoá quá trình cung cấp và kích hoạt dịch vụ.
Dịch vụ E - LAN theo cấu hình điểm - điểm.
Dịch vụ E - LAN có thể được sử dụng để kết nối chỉ hai UNI, điều này dường như
tương tự với dịch vụ E - Line nhưng ở đây có một số khác biệt đáng kể. Với dịch vụ E Line, khi một UNI được thêm vào, một EVC cũng phải được bổ sung để kết nối UNI mới
đến một trong các UNI đã tồn tại. Hình 2.12 minh hoạ khi một UNI được thêm vào và sẽ
Nguyễn Quang Huy lớp – Cao học K7
Luận văn thạc sĩ

40
có một EVC mới được bổ sung để tất cả các UNI có thể kết nối được với nhau khi dùng
dịch vu E - Line.
EVC kÕt nèi ®iÓm ®Õn ®iÓm

Khu vùc thªm míi

Hình 2.12 . Quá trình thực hiện khi thêm một UNI vào mạng MAN-E
Với dịch vụ E - LAN, khi UNI mới cần thêm vào EVC đa điểm thì không cần bổ
sung EVC mới vì dịch vụ E - LAN sử dụng EVC đa điểm - đa điểm. Dịch vụ này cũng
cho phép UNI mới trao đổi thông tin với tất cả các UNI khác trên mạng. Trong khi với
dịch vụ E – Line thì cần có các EVC đến tất cả các UNI. Do đó, dịch vụ E - LAN chỉ yêu
cầu một EVC để thực hiện kết nối nhiều bên với nhau.
Tóm lại, dịch vụ E - LAN có thể kết nối một số lượng lớn các UNI và sẽ ít phức
tạp hơn khi dùng theo dạng lưới hoặc hub và các kết nối sử dụng các kỹ thuật kết nối
điểm - điểm như Frame Relay hoặc ATM. Hơn nữa, dịch vụ E-LAN có thể được sử dụng
để tạo một loạt dịch vụ như mạng LAN riêng và các dịch vụ LAN riêng ảo, trên cơ sở này
có thể triển khai các dịch vụ khách hàng.
2.2.3.4 Dịch vụ E-Tree
E-Tree là những dịch vụ Ethernet cung cấp kết nối dạng cây. Các kết nối này dựa
và kênh EVC dạng cây. Mỗi cây đều có một hoặc nhiều gốc. Trường hợp đơn giản
nhất là có một gốc. Dịch vụ E-Tree có một gốc được mô tả trong hình vẽ 2.13.

Nguyễn Quang Huy lớp – Cao học K7

Luận văn thạc sĩ

41
Hình 2.13: Dịch vụ E-Tree
Với kiểu dịch vụ E-Tree một giao diện UNI lá chỉ truyền dữ liệu thông quá giao
diện UNI gốc mà không truyền trực tiếp đến các giao diện UNI lá khác được. Giao
diện UNI gốc có thể truyền trực tiếp đến tất cả các lá. Dịch vụ E-Tree thường được
ứng dụng cho các khách hàng doanh nghiệp có nhu cầu kết nối điểm – đa điểm giữa
trung tâm và các chi nhánh. Các chi nhánh chỉ có kết nối về trung tâm, không kết nối
trực tiếp giữa các chi nhánh.
Với kiểu dịch vụ E-Tree nhiều gốc, có nhiều giao diện UNI được chọn là UNI gốc.
Các UNI gốc này có thể truyền dữ liệu sang nhau và sang các UNI lá.

Hình 2.14: Dịch vụ E-Tree nhiều gốc
Trong nhiều trường hợp các giao diện UNI gốc được cấu hình dự phòng. Khi giao
diện UNI này bị lỗi thì việc chuyển tiếp dữ liệu sẽ do UNI dự phòng đảm nhiệm.
Với dịch vụ E-Tree có thể phân thành hai loại dịch vụ là Ethernet Private Tree
(EP-Tree) và Ethernet Virtual Private Tree (EVP-Tree). Dịch vụ EP-Tree dựa trên
giao diện vật lý do đó khách hàng có thể quản lý các VLAN của mình mà không cần
thông báo hay can thiệp của nhà cung cấp dịch vụ. EP-Tree thường ứng dụng cho các
khách hàng cần quản lý tập trung hoặc phân phối thông tin tại một hoặc nhiều điểm
khác nhau. Tại địa điểm phân phối giao diện UNI được chọn sẽ là UNI gốc tại các
điểm tiếp nhận UNI sẽ là UNI lá. Dịch vụ EVP-Tree dựa trên VLAN, trường hợp này
thường sử dụng cho các khách hàng cần đưa ra nhiều chính sách truy cập khác nhau
cho người sử dụng của mình.[7]

Nguyễn Quang Huy lớp – Cao học K7

Luận văn thạc sĩ

42
2.2.4 Các thuộc tính dịch vụ Ethernet
Với mỗi loại dịch vu Ethernet có yêu cầu về tham số và các đặc tính riêng. MEF
đưa ra các thuộc tính và tham số cho các dịch vụ đó như sau:[3]
2.2.4.1 Thuộc tính ghép kênh dịch vụ
Ghép dịch vụ cho phép nhiều UNI thuộc về các EVC khác nhau. UNI như vậy gọi
là UNI được ghép dịch vụ (service multiplexed UNI). Khi UNI chỉ thuộc một EVC thì
UNI này gọi là UNI không ghép dịch vụ (non - multiplexed UNI).

Hình 2.15: Ghép kênh dịch vụ
Lợi ích của ghép kênh dịch vụ cho phép chỉ cần một cổng giao diện UNI có thể hỗ trợ
nhiều kết nối EVC. Điều này làm giảm chi phí thêm cổng UNI và dễ dàng trong việc
quản trị. VLAN được cấu hình tại cổng thiết bị khách hàng CE kết nối với UNI được
gọi là CE-VLAN. Như vậy, tại mỗi UNI có một ánh xạ (mapping) giữa CE-VLAN và
EVC. Điều này gần giống như ánh xạ giữa DLCI và PVC trong Frame Relay. Tính
trong suốt VLAN (VLAN transparency): Một EVC có tính trong suốt VLAN khi CEVLAN không thay đổi khi khi qua giao diện UNI. Nghĩa là, CE-VLAN của khung đi
ra (egress frame) hướng từ MAN-E ra mạng của khách hàng luôn giống CE-VLAN
của khung đi vào (ingress frame). Tính năng này có ưu điểm làm giảm việc đánh số lại
(renumbering) VLAN của khách hàng.
2.2.4.2 Thuộc tính giao diện vật lý Ethernet
Bao gồm các tham số sau:
Nguyễn Quang Huy lớp – Cao học K7

Luận văn thạc sĩ

43
− Đường truyền vật lý: Các đường truyền vật lý theo chuẩn IEEE 802.3. Ví dụ:
10BASE-T, 100BASE-T, 1000BASE-X.
− Tốc độ truyền: Tốc độ Ethernet. Ví dụ: 10Mbps, 100bps, 1Gbps, 10Dbps.
− Chế độ truyền: Full Duplex/ Halp Dulplex, AutoNegotiotion.
− Lớp MAC: Các tiêu chuẩn về lớp MAC theo tiêu chuẩn 802.3 – 2000.
2.2.4.3 Các thuộc tính về lưu lượng
MEF định nghĩa tập hợp các thuộc tính về băng thông (Bandwidth Profile) cho
UNI và cho EVC. Một Bandwidth Profile là một giới hạn về tốc độ khi frame truyền qua
UNI hay EVC. Đối với cac kết nối điểm – điểm việc tính toán băng thông trên đường
truyền có thể đơn giản, nhưng với các kết nối đa điểm – đa điểm, đặc biệt là có ghép kênh
ECV trên cùng một giao diện vật lý, việc tính toán băng thông rất phức tạp. Với trường
hợp đó cần kết hợp tính toán với đo đạc thực tiễn.
Đặc tính băng thông bao gồm các loại sau:
− Băng thông vào và ra tại mỗi UNI (Tốc độ cổng vật lý)
− Băng thông vào và ra tại mỗi EVC (Tốc độ áp theo VLAN)
− Băng thông vào và ra cho mỗi lớp dịch vụ ( Tùy vào loại dữ liệu Voice, Video,
Data,... sẽ có băng thông theo mức độ ưu tiên khác nhau)
− Băng thông vào UNI từ EVC
− Băng thông ra EVC từ UNI
Đặc tính băng thông gồm các tham số về lưu lượng sau:
− CIR (Committed Infomation Rate – Tốc độ truyền thông cam kết): là tốc độ tối
thiểu truyền tải dịch vụ ở điều kiện bình thường. Một dịch vụ có thể hỗ trợ một
CIR cho một VLAN trên một UNI. Tuy nhiên khi ghép dịch vụ thì tổng CIR không
thể vượt quá tốc độ của cổng vật lý. Bên cạnh CIR MEF còn định nghĩa thêm tham
số CBS (Commited Burst Size) là kích thước lưu lượng tối đa cho phép đối với
mỗi thuê bao, thường tính bằng KB hoặc MB. Ví dụ: thuê bao được cấp CIR là
3Mbps và CBS là 500KB thì thuê bao sẽ được đảm bảo băng thông tối thiểu là

Nguyễn Quang Huy lớp – Cao học K7

Luận văn thạc sĩ

44
3Mbps và kích thước khung dữ liêụ tối đa là 500KB, nếu khung có kích thước lớn
hơn 500KB thì khung sẽ bị hủy hoặc bị trễ.
− PIR (Peak Infomation Rate): Là tốc độ cao hơn mức CIR cho phép lưu lượng
truyền trên mạng khi không có tắc nghẽn xảy ra. Cùng với PIR là tham số MBS
(Maximum Burst Size) là kích thước khung tối đa cho phép truyền mà không bị
hủy. MBS cũng được tính bằng KB hoặc MB như CBS. Ví dụ: một dịch vụ được
cấp băng thông là 3Mbps CIR, 500KB CBS, 10Mbps và 1MB MBS.


Nếu băng thông của thuê bao <= 3Mbps thì chắc chắn dữ liệu sẽ được
truyền đi đảm bảo. Lưu lượng truyền phải có kích thước bé hơn 500KB
(CBS), nếu lớn hơn có thể bị hủy bỏ hoặc bị trễ.



Nếu băng thông của thuê bao >= 3Mbps và <= 10Mbps thì dữ liệu chỉ được
truyền đảm bảo trên mạng nếu không có tắc nghẽn xảy ra và kích thước
khung nhỏ hơn 1MB (MBS)



Trường hợp lưu lượng >= 10Mbps thì sẽ bị hủy.

2.2.4.4 Các thuộc tính về hiệu năng
Các thuộc tính hiệu năng biểu thị sự mong đợi chất lượng từ phía khách hàng. Các
tham số bao gồm: độ khả dụng (Avaiability), độ trễ khung (Delay), độ trôi khung
(Jitter) và tỉ lệ mất khung (Loss).
− Độ khả dụng (Avaiability): Độ khả dụng của dịch vụ được diễn tả thông qua
một số thuộc tính dịch vụ sau:
• Thời gian kích hoạt dịch vụ của UNI: là thời gian tính từ lúc bắt đầu có
yêu cầu một dịch vụ mới hoặc sửa đổi dịch vụ cho tới lúc dịch vụ được
kích hoạt và đưa vào sử dụng. Thời gian kích hoạt trung bình của dịch
vụ Ethernet chỉ cò vài giờ đồng hồ, ngắn hơn nhiều so với vài tháng –
khoảng thời gian cần thiết để kích hoạt dịch vụ mới đối với các mô hình
truyền thông truyền thống.
• Thời gian khôi phục dịch vụ của UNI: là thời gian tính từ lúc UNI không
hoạt động – có thể do sự cố xảy ra tới lúc nó được phục hồi và trở lại
hoạt động bình thường.
Nguyễn Quang Huy lớp – Cao học K7

Luận văn thạc sĩ

45
• Thời gian kích hoạt dịch vụ EVC: là thời gian tính từ lúc bắt đầu có yêu
cầu một dịch vụ mới hoặc sửa đổi dịch vụ cho tới lúc dịch vụ được kích
hoạt và đưa vào sử dụng. Hay cụ thể hơn, khoảng thời gian này được
tính từ lúc có yêu cầu một dịch vụ mới hoặc sửa đổi dịch vụ cho tới khi
tất cả các UNI trên EVC đều được kích hoạt. Với một EVC đa điểm,
dịch vụ được coi là sẵn sàng được truyền khi tất cả các UNI thuộc về
EVC đó đều được kích hoạt và hoạt động. Tất cả các dịch vụ Ethernet
đều được cung cấp cho khách hàng thông qua các EVC.
• Thời gian khôi phục dịch vụ của EVC: là thời gian tính từ lúc mà EVC
không hoạt động – có thể do sự cố sảy ra, tới lúc được phục hồi và trở
lại hoạt động bình thường.
− Độ trễ khung (Delay): là tham số ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ (QoS) đối
với các ứng dụng thời gian thực. Tham số độ trễ thường được áp dụng cho môt
hướng truyền đi, độ trễ giữa hai điểm là khoảng thời gian khung xuất phát từ
một giao diện UNI đi qua mạng MAN-E và đến giao diện UNI bên kia. Độ trễ
bị ảnh hưởng bởi tốc độ đường truyền và độ dài khung Ethernet. Ví dụ: một
khung Ethernet có độ dài 1518 byte đi qua đường truyền 10Mbps thì nó trễ
12ms (1518 x 6/106). Ngoài ra độ trễ còn bị ảnh hưởng bởi tốc độ truyền trên
mạng trục và cấp độ tắc nghẽn. Tham số độ trễ thường được đánh giá bằng độ
trễ của 95% số khung được truyền đi thành công trong một khoảng thời gian.
Ví dụ: độ trễ là 15ms trong 24 giờ có nghĩa là 95% số khung đã được truyền đi
một chiều trong thời gian 24 giờ có độ trễ nhỏ hơn hoặc bằng 15ms.
− Độ trôi khung (Jiiter): Cũng là một tham số ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ.
Độ trôi khung còn được gọi là biến thiên độ trễ. Độ trôi khung gây hại cho các
ứng dụng thời gian thực như thoại, Video IP.
− Tỷ lệ mất khung (Loss): tỷ lệ mất khung được định nghĩa là tỷ lệ phần trăm số
khung dịch vụ tuân thủ tốc độ thông tin thỏa thuận song không được truyền đi
giữa các UNI trong một khoảng thời gian cho trước. Ví dụ: một kênh EVC
điểm – điểm có 100 khung được truyền đi nhưng bên nhận chỉ nhận được 90
Nguyễn Quang Huy lớp – Cao học K7

Luận văn thạc sĩ